Thư chung về Cộng sản vô thần của các Đức Giám mục Miền Nam 1960

Tháng Mười 31, 2010

Giáo hội CGVN đã xác định, đánh giá, hành động như thế nào với Chủ nghĩa Cộng sản? Những năm đầu khi Chủ nghĩa Cộng sản còn chưa thống trị miền Nam và GHCGVN được tự do đánh giá, chưa bị áp lực, bịt miệng và sợ hãi… lập trường của các Giám mục như thế nào?

Sau mấy chục năm dưới sự cai trị của những người cộng sản, Giáo hội Việt Nam ngày hôm nay giữ đặc tính tông truyền, hiệp nhất, thánh thiện như thế nào?

Những nguyên nhân nào đưa GGCGVN đến một tình trạng như hôm nay, quý vị độc giả sẽ tự đánh giá. Chúng tôi xin đưa một tư liệu về vấn đề này: “Thư chung của các Giám mục Miền Nam 1960 về Cộng sản vô thần”.

Đọc tiếp »


Hãy đặt mình vào vị trí của các Giám mục

Tháng Mười 22, 2010

Thời gian vừa qua, trên các trang mạng Công giáo liên tục xuất hiện nhiều bài viết thể hiện quan điểm của nhiều tác giả về tình hình giáo hội Công giáo Việt Nam (GHCGVN). Trong số đó, có một số lượng lớn bài viết bàn về cách hành xử và thái độ của Hội đồng giám mục Việt Nam (HĐGMVN), cũng như cá nhân các giám mục trong HĐGMVN trước các thông tin và sự kiện đang diễn ra trên đất nước chúng ta. Người viết thuộc đủ mọi thành phần: giáo sĩ, giáo dân, kiều bào, trí thức… và cả những học giả ngoài Công giáo.

Theo dõi những bài viết về các giám mục, tôi thấy có vị được tán dương hết lời, có vị bị phê phán quá sức, cũng có những vị ít khi hoặc hầu như không được đê cập tới trên các trang mạng này. Mọi điều khen hay chê, tán dương hay phê bình, ủng hộ hay chống đối thì trong thời gian qua chúng ta cũng đã nhận thấy. Tôi không nhắc lại những điều đó nữa, chỉ xin được nêu lên một vài suy nghĩ của riêng mình về các vị chủ chăn trong HĐGM của chúng ta:

Trước hết, khi tuyển chọn ứng viên giám mục, tôi nghĩ các vị hữu trách phải cầu nguyện và đắn đo suy nghĩ rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc phải bàn hỏi kỹ lưỡng với tất cả những người có liên quan. Điều đặc biệt là ứng viên đó phải hội tụ đầy đủ các yếu tố như luật định, cách riêng là phải trổi vượt về đời sống đạo đức. Quá trình tìm kiếm và tuyển chọn kỹ càng như thế giúp ta nhận ra rằng: khi một linh mục được tuyển chọn vào hàng giám mục, thì linh mục đó phải là người có đời sống đạo đức, thánh thiện, có khả năng lãnh đạo dân Chúa, và nhất là phải biết cư xử sao cho vừa hợp với lẽ đời vừa không trái với luật Tự Nhiên. Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin chắc rằng Mẹ Hội Thánh không bao giờ đưa những người bất xứng lên chức giám mục để phục vụ lợi ích thiêng liêng cho con cái mình.

Kế đến, bản thân mỗi vị giám mục phải lo lắng rất nhiều việc. Áp lực đối với các giám mục rất lớn. Các ngài vừa phải “khôn như rắn” mà vừa phải “hiền lành như bồ câu”. Tôi nghĩ, sống trong một xã hội mà lắm lúc tôn giáo vẫn bị xem như một “hiện tượng đời sống” thì các giám mục rất khó lòng để có thể hoàn trọn mọi việc một cách tuyệt đối được. Theo dõi các bài viết trên mạng, tôi thấy nhiều tác giả phê phán các giám mục hết sức nặng nề. Nhưng phê phán đó – tôi hiểu là đều khởi đi từ sự nhiệt tâm và tấm lòng yêu mến Giáo hội. Nhưng vô tình nó lại làm cho Giáo hội bị phân tán, từ đó xuất hiện bệnh bè phái. Đây là điều vô cùng tệ hại! Bởi Satan sẽ rất lấy làm thích thú khi nhìn thấy Giáo hội được xây trên đá tảng Phê-rô đang từng ngày lụi bại và rời xa nhau, bởi chất kết dính là tình Hiệp thông cứ mất dần, mất dần.

Trong những bài viết của mình, nhiều tác giả cho rằng khi xảy ra sự việc như thế thì các giám mục phải làm như thế này, phải làm như thế kia. Điều đó chẳng khác nào chúng ta buộc các giám mục phải theo ý của mình, chẳng khác nào chúng ta “định hướng mục vụ” cho các giám mục. Nhiều khi có những vấn đề không thể đánh giá nó là tốt hay xấu ngay được, cần phải có thời gian để suy xét và phân định rõ ràng. Bởi lẽ “…một điều được được coi là đúng không phải chỉ vì điều ấy hợp với lí luận, hợp với kinh nghiệm, hợp với khách quan, hợp với xã hội, mà chủ yếu vì điều ấy hợp với ý Chúa, hợp với kế hoạch của Chúa…” (x. Để hạnh phúc hơn. Mười đề tài luân lý Ki-tô giáo – Đặng Xuân Thành, tr 132). Tôi nghĩ chúng ta nên bình tâm lại mà cầu nguyện và biện phân một cách thấu đáo hơn mọi vấn đề liên quan đến các giám mục của mình. Chúng ta phải tố giác cái xấu, cái ác, nhưng chúng ta không kết án anh em, không phán xét đồng loại. Vì việc phán xét và kết án, là việc của riêng một mình Thiên Chúa.

Hơn nữa, chúng ta hãy thử đặt mình vào vị trí của các giám mục thử xem. Vấn đề không hề đơn giản như chúng ta nghĩ. Các ngài phải tiên liệu sao cho vấn đề được giải quyết một cách toàn diện, chứ không chỉ giải quyết cho riêng một cá nhân hay cộng đoàn nào. Mỗi vị trí, mỗi vai trò có những khó khăn riêng mà chỉ khi nào chúng ta ở vào vị trí đó, vai trò đó thì chúng ta mới hiểu một cách tường tận được. Nhiều lúc chúng ta đòi hỏi các giám mục phải lên tiếng về việc này, phải tranh đấu về việc kia cho mình – chỉ vì những việc đó nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi và bản thân chúng ta. Sao chúng ta không hiểu cho các giám mục, đặt mình vào vị trí của các ngài, thử đối diện với vấn đề mà các ngài đang lo nghĩ? Tôi thấy có một số bài viết dùng chính Lời Chúa để lên án và chất vấn các giám mục, thậm chí kêu gọi các ngài từ chức. Thật đau lòng khi phải chứng kiến một Giáo hội mà sự chia rẽ lại nghiêm trọng đến dường ấy. Tôi nghĩ đó là một sự xúc phạm rất nặng nề đối với các giám mục. Lời Chúa không phải phương tiện để loại trừ lẫn nhau, Lời Chúa cũng không phải là công cụ để mạ lị nhau – không bao giờ là như thế! Mặt khác, chúng ta hiểu rằng Tòa Thánh không bao giờ muốn bổ nhiệm một giám mục nào về nhiệm sở mới, để rồi ngay sau đó vị giám mục ấy xin được từ chức. Cứ như việc thuyên chuyển và bổ nhiệm của Tòa Thánh là trò đùa! Vậy thì còn gì là nề nếp và kỷ luật trong Giáo hội nữa!

Tôi chợt nghĩ, điều quan trọng nhất là do chúng ta thiếu đi những mối tương quan liên vị. Chúng ta chỉ nghe, xem chứ ít khi gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhau. Vì vậy lắm lúc cái nhìn của chúng ta bị chệch hướng đi phần nào. Truyền thông ngày càng tiến bộ, thông tin vì thế cũng phổ biến hơn, nhưng sự gặp gỡ và trò chuyện với nhau thì lại ít đi ; vì thế dễ gây ra sự hiểu lầm hoặc ngộ nhận. Tôi không có ý nói truyền thông đơm đặt, nhưng truyền thông phải phục vụ cho lợi ích của con người một cách toàn diện. Nghĩa là “Khi quan tâm tới những nhu cầu và lợi ích của nhóm này, việc truyền thông không được làm cho nhóm ấy chống đối các nhóm khác” (x. Để hạnh phúc hơn. Mười đề tài luân lý Ki-tô giáo – Đặng Xuân Thành, tr 139). Xét cho cùng, dù cho các phương tiện truyền thông có hiện đại đến đâu thì chúng cũng không thể thay thế được những mối quan hệ trực tiếp giữa người với người.

Phát biểu, nhận định về các giám mục của mình là điều mọi người đều có thể làm. Nhưng phát biểu và nhận định thế nào cho phù hợp với đức tin và luân lý, cũng như phải giữ sự kính trọng đúng mực đối với các ngài. Nếu những phát biểu hoặc nhận định trở thành những lời quy kết và xúc phạm thì chúng ta đừng nên phát biểu hay nhận định làm gì. Chúng ta chỉ nghĩ đơn giản là phải nói thẳng, nói thật, nói cho mạnh mẽ vào thì chúng ta mới xây dưng, mới đóng góp cho Giáo hội. Nhưng vô tình chúng ta lại đang gây chia rẽ trong Giáo hội, đang loại trừ chính anh em đồng đạo của mình.

Giáo hội không bao giờ phong thánh cho người sống. Bởi còn sống, còn lữ hành là còn phạm tội. Các giám mục của chúng ta cũng thế; Các ngài cũng có những yếu đuối và lầm lỗi rất “người” như chúng ta. Vậy tại sao khi cùng mang lấy một thân phận tội lỗi, yếu đuối – chúng ta không chia sẻ và cầu nguyện cho các ngài, mà lại lớn tiếng phê phán và lên án các ngài? Tôi không bênh vực hay biện bạch cho sự lầm lạc của các giám mục. Nhưng nếu có những vị chủ chăn như thế, thì các vị ấy sẽ phải chịu sự phán xét nghiêm khắc của Thiên Chúa và của lương tâm người mục tử. Bổn phận của chúng ta là vẫn phải luôn kính trọng (trong chừng mực), và luôn cầu nguyện cho các ngài, xin Chúa giúp cho các ngài luôn trung tín với sứ vụ mà Chúa đã giao phó.

Tôi viết ra những dòng này khi ý thức đầy đủ rằng bản thân sẽ phải gặp ít nhiều điều tiếng. Có thể tôi sẽ bị cho là viết theo “đơn đặt hàng” hay sự chỉ đạo của một nhân vật nào đó… Nhưng tôi xin đón nhận tất cả trong lòng mến và sự cảm thông. Chỉ mong sao đóng góp nhỏ nhoi của mình được tất cả những ai có thiện chí đón nhận như một chút keo dính, góp phần hàn gắn lại nỗi đau chia rẽ và quyện chặt lại tình hiệp thông trong Giáo hội Việt Nam của chúng ta.

Viết xong lúc 18h42  ngày 22 tháng 10 năm 2010.

Giu-se Trịnh Việt Tân


Hội đồng Giám mục để làm gì?

Tháng Mười 15, 2010

Thêm một Đại hội các Giám mục

Đại hội lần thứ XI của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGM/VN) khai mạc ngày 04-10-2010 tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh và kết thúc ngày 06-10-2010. Qua hôm sau, ngày 07-10-2010 ta đã có thể đọc Biên bản của Đại hội, cũng như Thư HĐGM/VN gửi cộng đồng Dân Chúa. Đến ngày 09-10-2010 lại có bài Đức cha Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch HĐGM/VN trả lời ông Gia Minh, biên tập viên đài Á châu tự do.

Bối cảnh của Đại hội lần này

Đọc hai văn kiện vừa nói trên đây, cũng như nghe bài trả lời phỏng vấn của Đức cha Phó Chủ tịch HĐGM/VN, ta có cảm tưởng Giáo Hội Việt Nam đang trong thời kỳ bình an vô sự, “bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng bất cứ ai theo dõi tình hình, đặc biệt qua các bài viết trên mạng, đều biết chắc rằng : mọi chuyện không êm xuôi như vậy. Biến cố đầu tiên gây kinh ngạc, hẳn là cuộc lễ tấn phong cha Nguyễn Năng làm giám mục Phát Diệm ngày 08-09-2009, cách đây hơn một năm, với cả rừng biểu ngữ bày tỏ lòng ngưỡng mộ, yêu mến, tin tưởng, gắn bó đối với Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giu-se Ngô Quang Kiệt. Hơn bất cứ ai, các vị giám mục khi tiến lên lễ đài không thể không thấy các biểu ngữ tung hô Đức Tổng Kiệt. Sự việc này lại tái diễn, lần này ngay tại nhà thờ Chính Toà Hà Nội ngày 07-05-2010, cách đây chỉ mới hơn 05 tháng, nhân lễ nhậm chức Phó Tổng Giám mục Hà Nội của Đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn. Sự việc đã được đoán trước, nên Ban tổ chức đã phải ra thông báo căn dặn mọi người đi tham dự thánh lễ “đừng mang theo những gì không cần thiết” (!). Thế nhưng bất chấp các lời dặn dò đó, cả rừng biểu ngữ tung hô Đức Tổng Kiệt cùng với những hình chân dung phóng to của ngài được nhiều người đeo trước ngực, tất cả đã tràn ngập quảng trường nhà thờ lớn Hà Nội, đến nỗi đoàn đồng tế thay vì trang trọng đi vào cửa chính, đã phải len lỏi đi vào cửa hông, và sau thánh lễ thì âm thầm rút lui theo cửa hậu. Một chuyện chưa từng xảy ra trong suốt lịch sử mấy trăm năm đạo Công Giáo tại Việt Nam !

Ghi nhận của Phó Chủ tịch HĐGM/VN

Ngay tại cuộc lễ này, nhìn lại các sự việc trong thời gian qua, chứng kiến những gì đang diễn ra ngay tại buổi lễ, Đức cha Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch HĐGM/VN đã nhận xét cách thẳng thắn : “Điểm tích cực đầu tiên là mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại. Kỷ niệm 50 năm thành lập, Hàng Giáo phẩm Việt Nam bước vào một giai đoạn mới qua đó, các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn. Điểm tích cực thứ hai là dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một.

Đã hẳn là như thế. Nhưng quan trọng hơn cả là câu kết, vẫn của Đức cha Linh. Ngài nói : “Trong bối cảnh và tinh thần Năm Thánh 2010, chúng ta hãy xem đây là cơ hội sống tình hiệp thông cách đặc biệt hơn : chúng ta cần phải can đảm hơn khi đối diện với các dị biệt, chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn, nhưng đồng thời trải nghiệm được cái giá phải trả để bảo vệ tình huynh đệ trong đại gia đình Giáo Hội.” Câu kết luận này không hơn không kém là một lời hứa của vị Phó Chủ tịch HĐGM/VN, là sẽ “mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn”. Ai nghe những lời như thế mà không cảm thấy phấn khởi. Hẳn có người nghĩ thầm trong bụng : Cuối cùng các giám mục cũng phải thấy, phải nhận ra thôi. Và một khi nghĩ như thế rồi thì kiên trì chờ đợi. Tôi ở trong số những người đó.

Cứ việc “tái đắc cử”

Sau các biến cố nói trên, Đại hội các Giám mục chính là lúc lời hứa trên đây của Đức cha Phó Chủ tịch HĐGM/VN có cơ may thành hiện thực. Nếu vấn đề chưa được ghi trong chương trình nghị sự, thì mục không thể thiếu đó phải được bổ sung, nhằm giúp các giám mục cùng nhau kiểm điểm tình hình để điều chỉnh, để sửa sai nếu cần. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Biên bản Đại  hội không hề ghi bất cứ một khoảnh khắc nào, dù nhỏ, cho thấy các giám mục đã đề cập đến những vấn đề nóng bỏng đốt cháy tâm can người tín hữu suốt thời gian qua. Đa số các vị trong Uỷ Ban Thường Vụ cũng như các vị đứng đầu các Uỷ Ban trực thuộc HĐGM đều được “tái đắc cử”. Sau khi kết quả của Đại hội được thông tri cho cộng đông Dân Chúa, nhiều người đã bày tỏ nỗi thất vọng ê chề.

Nhiều người thất vọng khi không thấy có thay đổi về nhân sự. Nhưng theo tôi, đây chưa phải là vấn đề. Khi không có những nhận định đúng đắn về tình hình để rồi từ đó rút tỉa kinh nghiệm, đồng thời tìm được hướng đi thích hợp với hoàn cảnh, thì có thay đổi nhân sự trong các chức vụ cũng chẳng đi tới đâu.

Tìm cách chống chế, biện minh

Chắc vì đoán trước được phản ứng của công luận nên Đức cha Nguyễn Chí Linh mới có bài trả lời phỏng vấn đài Á châu tự do ngày 09-10-2010. Đọc bài trả lời đó, cảm tưởng đầu tiên của tôi là Đức cha Linh có vẻ như đã quên những gì đã xảy ra trong những tháng vừa qua, quên những gì ngài đã nói tại lễ nhậm chức Phó Tổng Giám mục Hà Nội ngày 07-05-2010. Về nhân sự trong Uỷ ban thường vụ HĐGM/VN thì, theo lời Đức cha Linh “không có thay đổi gì nhiều”. Về cơ cấu thì lần này “có thêm Uỷ ban Công Lý và Hoà Bình” do Đức cha Nguyễn Thái Hợp làm chủ tịch. Nếu có ai thắc mắc tại sao đến giờ này mới có Uỷ ban này, thì lý do là vì “từ trước đến nay do tình hình nhân sự không đủ”. Thật ra thì 4 vị trong Uỷ ban thường vụ cộng với 17 vị đứng đầu các Uỷ ban là 21 vị, thì tổng số các giám mục đã vượt con số này từ khuya rồi. Và chẳng biết có phải để thính giả nghe đài đừng “tưởng bở”, hay vì muốn trấn an Nhà Nước Cộng Sản, mà ngay sau khi đề cập đến việc thành lập Uỷ ban Công Lý và Hoà Bình, đức cha Linh đã vội vàng minh định : “Có lẽ dư luận chung hiểu khái niệm ‘công lý và hoà bình’ khác với quan điểm của Giáo Hội Công Giáo. ‘Công lý’ cũng đồng nghĩa với ‘tình thương’. Bản thân tôi thì nghĩ rằng công lý không đồng nghĩa với tình thương. Có chăng là người tín hữu Chúa Ki-tô, khi tranh đấu cho công lý, khi đòi hỏi các quyền chính đáng của mình phải được tôn trọng, thì chính mình cũng phải tôn trọng luật bác ái yêu thương như Chúa Ki-tô dạy. Vậy thôi. Có vẻ đức cha Linh tìm cách chống chế, tìm cách biện minh cho HĐGM/VN, nhưng với những lý lẽ thiếu tính thuyết phục.

Trọng tâm cuộc trả lời phỏng vấn

Hình như trọng tâm cuộc trả lời phỏng vấn nằm ở cuối bài, khi Đức cha Linh khẳng định : “… đa số người giáo dân Việt Nam sống đạo bình thường chứ không đòi HĐGM/VN phải làm thế nọ, thế kia.” Ta có thể hiểu nôm na thế này : Mấy người căng biểu ngữ, mấy người viết lách trên mạng, chỉ là một nhóm nhỏ tý teo, so với tuyệt đại đa số giáo dân hiền lành, ngoan ngoãn, nghe chuông đổ thì đi nhà thờ, nghe đọc lời nguyện thì thưa “A-men”, nghe lời chào “Chúa ở cùng anh chị em” thì đáp lại “Và ở cùng cha”, có người đến quyên góp thì xỏ tay vào túi móc tiền ra, v.v… Họ đâu có thắc mắc, đâu có đặt vấn đề, đâu có ký thỉnh nguyện thư đòi hỏi chuyện này chuyện nọ !

Đa số không đương nhiên đúng

Điều không thể nghi ngờ là tuyệt đại đa số giáo dân Việt Nam sống thầm lặng, chu toàn nghĩa vụ của mình với Thiên Chúa và với anh em, nhất mực vâng lời bề trên, hiếm khi dám công khai thắc mắc. Sở dĩ tuyệt đại đa số không hề đặt vấn đề, thường khi vì thiếu thông tin, có khi vì không thấy vấn đề, cũng có khi vì muốn yên thân nên không dám bày tỏ ý kiến. Cứ nhìn vào các xứ đạo mà xem, có được mấy nơi mà giáo dân có thể thẳng thắn góp ý với cha xứ. Nói chi với giám mục. Sau mỗi bài viết, tôi nhận được rất nhiều thư, phần lớn là của anh em linh mục từ khắp nơi, ở trong và ngoài nước, khích lệ, cám ơn tôi “đã nói những điều họ nghĩ mà không dám nói”.

Nhưng điều không kém hiển nhiên là chẳng phải đa số đương nhiên đúng. Qua rất nhiều bài viết đầy tâm huyết, đầy tính xây dựng, nhiều sự kiện được nêu lên không thể chối cãi, với những lập luận vững chắc, không thể bẻ gãy, người có trách nhiệm không được phép làm ngơ. Không thể giải quyết vấn đề bằng cách làm ra vẻ không có vấn đề. Nhiệm vụ người lãnh đạo là chỉ đường cho người khác. Nhưng khi tự mình bưng tai bịt mắt, thì đâu còn thấy đường mà chỉ cho ai !

Trách nhiệm của Hội Đồng Giám Mục

Sau khi tôi viết bài “Đạo để làm gì?” (Nữ Vương Công Lý, ngày 14-05-2010), có người đã gợi ý cho tôi viết một bài mang tựa đề “Hội Đồng Giám Mục để làm gì ?” Lúc đó tôi nghĩ nếu mình làm như thế sẽ bị cho là hỗn. Thế nhưng đến ngày 20-08-2010, cũng tờ Nữ Vương Công Lý đăng tải bài: “Hội Đồng Giám Mục : Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam” của Lê Thiên, trong đó tác giả đã khám phá ra được 86 điều khoản liên quan đến HĐGM. Xin ghi lại sau đây một đoạn tôi đã viết trong bài “Từ Đại hội nhà văn đến Đại Hội Dân Chúa” (NVCL ngày 28-08-2010). Đoạn đó trích lời khẳng định của Lê Thiên như sau : “… theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm ‘tiếng nói cho những người không có tiếng nói’ trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự ‘lên tiếng hay không lên tiếng’ để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm.

Với hàng loạt quyền hạn pháp định, không một HĐGM nào tự cho phép mình nại ra bất kỳ lý do gì để tránh can dự vào việc đấu tranh bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền sống của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, tự do tỏ bày tư tưởng hay phát biểu quan điểm, quyền tự do cư trú cùng các quyền tự do căn bản chính đáng khác… !”

Không dừng lại nơi những nguyên tắc trừu tượng, Lê Thiên đi thẳng vào các vấn đề thời sự đặc biệt trong hai năm vừa qua : “Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước, đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận. Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên, hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng” ? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc.

Kết luận

Cho đến giờ này, chưa hề có ai, kể cả các vị khoa bảng trong HĐGM/VN chứng minh được là Lê Thiên đã sai. Mà nếu Lê Thiên không sai, thì quả là HĐGM/VN đã không chu toàn bổn phận của mình theo đòi hỏi của Giáo luật. Thế thì chẳng có gì quá đáng nếu ta thẳng thắn đặt câu hỏi : Hội Đồng Giám Mục để làm gì ?

Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com

Một Thoáng Nhìn Trước Nghị Trình Đại Hội XI của HĐGMVN 2010

Tháng Mười 6, 2010

Đại Hội lần thứ XI Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã khai mạc. Thông qua nhật ký đầu tiên của Đại Hội, niềm vui và hy vọng nhen nhúm giữa lòng con dân Giáo Hội Việt Nam.

Trước tiên, Đại Hội quy tụ đầy đủ các Giám mục đang trực tiếp trong vai trò chủ chăn tại các giáo phận, kể cả linh mục giám quản giáo phận Đà Lạt. Một thoáng buồn nho nhỏ: thiếu vắng Đức Tổng Giuse, nguyên Tổng Giám mục Hà Nội, nhưng chưa là “nguyên” Tổng thư ký Hội Đồng Giám mục Việt Nam. Một cơ hội tốt cho vị phó Tổng thư ký, Giám mục Nha Trang, điều hợp – và biết đâu – lèo lái các buổi họp.

Kế đến, Đại Hội đã chọn đúng ngày lễ thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của hòa bình, để khai mạc. Ước mong lời cầu của vị thánh “hòa bình” được cất cao trong từng khóa họp và trong tâm tư từng thành viên của Đại Hội, như trong những năm vừa qua, đã từng là biểu tượng của dân Chúa VN trong hành trình đi tìm công lý, sự thật và hòa bình. Mong sao “khí cụ hòa bình” theo tinh thần Phanxicô Assisi hôm nay sẽ không là “đối thoại nhưng không đối đầu”, hay đúng hơn, không “là con chó câm khi cần phải sủa”- theo lời Đức Hồng Y Trần Nhật Quân.

Và thật tuyệt vời khi Đại Hội được khai mạc trước Thánh Thể. Thánh Thể luôn là dấu chỉ của hiệp nhất và hiệp thông. Trong khóe nhìn niềm tin, Giáo Hội Công giáo Việt Nam dù giữa bão táp hay cuồng phong nào vẫn luôn là Giáo Hội Chúa Kitô, một Thân Mình, một Nhiệm Thể. Hy vọng “đầu xuôi, đuôi sẽ lọt”.

Trọng tâm lớn nhất của Đại Hội vẫn là Năm Thánh Giáo Hội VN với Đại Hội Dân Chúa sắp diễn ra tại Sài gòn và lễ bế mạc Năm Thánh tại Lavang, Huế. Chỉ một hạn mục nhỏ nằm cuối chương trình nghị sự để “nhìn lại Quy chế HĐGMVN” và bầu Ban Thường vụ niên khóa mới. Xem ra diễn biến Đại Hội có vẻ rất thuận buồm xuôi gió như chưa hề trải qua cơn sóng bão nào.

Với Đại Hội Dân Chúa, chương trình đã lên khuôn, danh sách thành viên đã đúc kết, giấy mời đã gửi. Mọi sự được xem như “đạn đã lên nòng”. Đại Hội XI hôm nay hẳn chỉ còn là “báo cáo và nhất trí”? Không biết những góp ý của “dân Chúa” – những con dân đích thực của Chúa Kitô – có thực được trải ra trên bàn nghị sự của Đại Hội? Hơn 7 triệu con dân Giáo hội VN đang tự thuyết phục mình để tín thác và cậy trông. Riêng tôi đang cố để tin Chúa Thánh Thần sẽ thổi luồng khí mới vào căn phòng kín cửa, nơi các tông đồ đang co cụm tìm đường thoát thân: “Lạy Chúa, chúng con không biết ăn nói”. Đúng thế ! Một Lễ Ngũ Tuần mới cho Giáo hội VN.

Lễ bế mạc Năm Thánh tại Lavang đã được chuẩn bị quá kỹ lưỡng từ hạ tầng đến lễ hội. Và Lavang 2010 hẳn sẽ minh chứng cho xã hội VN và toàn thế giới một bộ mặt Giáo Hội Công Giáo VN thật hoành tráng và cũng rất “tự do tôn giáo”? Thử hỏi “Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông, và sứ vụ” sẽ đi về đâu khi năm thánh kết thúc? Tiện thể, các mô hình Trung tâm hành hương Lavang đang có mặt tại Sài gòn để các Giám mục chiêm ngắm, góp ý. Một đề án trải rộng trên mấy chục hecta đất với kinh phí dự trù hàng chục triệu đô la nằm giữa khu vực “chó ăn đá gà ăn sỏi”. Ngắm nhìn những hoàng tráng bên ngoài, nhưng đủ thứ nhễu nhão bên trong, không biết nên vui hay buồn?

Ngoài ra, trong chương trình nghị sự, các giáo tỉnh sẽ tường trình về các cuộc Hội ngộ Linh mục trong giáo tỉnh năm vừa qua. Một thắc mắc nhỏ: Không biết Đức Hồng Y tổng giáo phận Sài gòn sẽ giải trình ra sao về thái độ “cắt ngang và áp đặt” khi linh mục đoàn giáo phận Sài gòn khu vực I đang bàn thảo? Điều quan trọng là nội dung bàn thảo đang đề cập đến sự chậm trễ thông tin từ phía Giáo hội và thiếu vắng một tiếng nói chính thức của Hội đồng Giám mục? Liệu sự thật “thực” đó có được đem ra mổ xẻ trong dịp này? Hay lại tiếp tục “cắt ngang và áp đặt”?

Bên cạnh đó, Đại Hội sẽ lắng nghe và trao đổi về nhiều vấn đề khác, chẳng hạn, dự án Học viện thần học (cao cấp). Giáo Hoàng Học viện Pio X Đà Lạt hôm xưa vẫn là niềm tự hào của Giáo Hội công giáo Việt Nam, nơi đã đào tạo bao Giám mục, linh mục, và học giả trụ cột của Giáo hội VN, nơi hình thành bao công trình nghiên cứu và dịch thuật vô giá cho Giáo hội. Không biết cụ thể dự án Học viện thần học có khả năng đáp ứng cơn đói cơn khát tri thức của Giáo hội Việt Nam hôm nay trong thế hệ X – thế hệ thông tin nhanh như gió bão? Hoặc tệ hơn, (xin nói nhỏ), chỉ là một biến thái của Câu lạc bộ Nguyễn văn Bình đang hồi tàn cuộc?
May mắn thay, chương trinh nghị sự vẫn còn thời gian để “lắng nghe và trao đổi” về Chân dung vị mục tử nhân 100 năm ngày sinh của Đức cố Tổng giám mục Phaolo Nguyển văn Bình. Ý kiến lề trái lề phải về cuộc tọa đàm này đã quá nhiều và quá sôi nổi. Chắc chắn các thành viên trong Đại Hội không thể không nghe biết. Khúc mắc là các Giám mục sẽ dành giờ học hỏi thêm về chân dung của ngài hay chân thành rút ra những nhận định “thực” về cuộc tọa đàm “bịt miệng” vừa qua, na ná theo khuôn mẫu Đại hội nhà văn toàn quốc của nhà nước trước đó; để từ đó rút tỉa kinh nghiệm cho Đại hội Dân Chúa sắp tới? “Gaudium et Spes” của toàn dân Chúa VN đang ngóng cổ chờ mong kết quả của Đại Hội XI về vấn đề này.

Hơn nữa, khi bàn về chân dung Đức cố tổng giáo phận Sài gòn, sao lại cố tình làm lơ chân dung Đức cố phó tổng giáo phận Nguyễn Văn Thuận, vị thánh tương lai của Giáo hội toàn cầu, niềm hãnh diện của Giáo hội VN, tấm gương soi dọi hướng đi cho Giáo hội VN trong hoàn cảnh cụ thể hôm nay? Không lẽ Đức cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận không cần được nhắc đến, hay không được phép nhắc đến, hoặc không dám bàn đến? Chỉ vì ngài thuộc “lề trái”? Vì ngài không cùng đường lối với Giáo hội công giáo VN? Hoặc đơn giản chỉ vì trong cuộc họp giữa nhà nước với Vatican vừa qua, vấn đề Nguyễn văn Thuận đã trở thành “phạm húy”, và không thể hiện diện trong chương trình nghị sự của Đại Hội? Tổng giáo phận Sài gòn quyết tâm bước theo lối mòn vị tiền nhiệm Đức cố Phaolo. Không lẽ toàn bộ các vị cao cấp nhất của Giáo hội công giáo VN đều nhắm mắt đồng hành với tổng giáo phận Sài gòn? Không lẽ toàn thể các chủ chăn Giáo hội VN thực sự muốn gầy dựng một chân dung mang đầy nỗi sợ, “đến chết vẫn còn sợ”? Và đáng nói hơn, không lẽ Giáo hội VN lại phủ nhận công trình cao quý Tòa thánh đang thiết dựng cho Giáo hội VN: tiến trình phong thánh Đức cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận?

Có lẽ khi những dòng viết này đến tay các chủ chăn Giáo hội VN, Đại Hội cũng đã về chiều. Mọi sự có thể rồi đâu vẫn hoàn đấy. Thế nhưng, hành trình Emmaus vẫn luôn có Chúa hiện diện dù đang bị đêm đen vây phủ. Và Thánh Thể trong giây phút khai mạc Đại Hội luôn nói lên chân lý “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Nói cho cùng, trong niềm tin người con Chúa, vẫn phải là “ai tin tưởng vào Chúa không hề thất vọng bao giờ”.

Người tôi tớ hèn mọn


Nhật ký Đại Hội lần thứ XI Hội đồng Giám mục Việt Nam 04–08/10/2010 (1)

Tháng Mười 5, 2010

WHĐ (05.10.2010) – Ngày 04-10-2010, ngày lễ thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của hòa bình, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã khai mạc Đại Hội lần thứ XI tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Tp.HCM. Lúc 20 giờ, tất cả các giám mục thuộc 26 giáo phận trong cả nước đã tề tựu trong nhà nguyện đơn sơ, ấm cúng của Trung tâm Mục vụ để chầu Thánh Thể. Bắt đầu Hội nghị bằng giờ chầu Thánh Thể, HĐGMVN như muốn nói rằng các ngài đến đây trước hết là để thờ phượng, lắng nghe tiếng Chúa, để rồi có thể suy tư, trao đổi với nhau về mọi vấn đề trong ánh sáng của Chúa. Lúc 20g30 tại Hội trường Phaolô Nguyễn Văn Bình, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, chủ tịch HĐGMVN, mở đầu buổi khai mạc cách nhẹ nhàng nhưng không kém trang trọng:

“Tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn, trước đây vốn là Tiểu chủng viện nơi đào tạo linh mục tương lai cho Giáo Hội, trên phần đất từng là nơi giam giữ các chứng nhân đức tin các thế kỷ trước, các chủ chăn của 26 giáo phận từ khắp đất nước hôm nay đã tụ về đây trong tâm tình hân hoan tạ ơn Thiên Chúa đã yêu thương vun trồng và cho lớn lên hạt giống Tin Mừng trên mảnh đất Việt Nam nhỏ bé này. Trong không khí tưng bừng của Năm Thánh 2010 mừng kỷ niệm 350 năm thiết lập hai giáo phận Tông Tòa đầu tiên, 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và 30 năm sau Thư chung 1980 của HĐGMVN, và tâm tình cầu nguyện, canh tân, và hòa giải của Năm Thánh, Đại hội lần này sẽ dành nhiều thời gian để lắng nghe chia sẻ của các giáo phận và các Ủy ban thuộc HĐGM, và cùng trao đổi những việc phải làm trong thời gian tới, đặc biệt để chuẩn bị cho Đại Hội Dân Chúa từ 22-25/11 tại Trung tâm Mục vụ Sài Gòn sắp tới và cho Lễ Bế mạc Năm Thánh tại Trung tâm Hành hương La Vang.

Chúng ta sẽ cùng bàn thảo và quyết định một số hoạt động khác nữa để phục vụ Dân Chúa. Và trước khi bế mạc Đại Hội sẽ bầu lại Ban Thường vụ HĐGM và chủ tịch các Ủy ban cho nhiệm kỳ mới.

Với lòng cảm mến tri ân, chúng ta hãy bắt đầu Đại hội lần thứ XI”.

Kế đến, Đức cha Phó Tổng thư ký Giuse Võ Đức Minh giới thiệu từng vị tham dự. Các Đức cha vui mừng vì sự có mặt  đầy đủ các vị thuộc 26 giáo phận với 33 Giám mục và một linh mục là cha Phaolô Lê Đức Huân, giám quản giáo phận Đà Lạt, cùng ba cha thư ký.

Sau đó, các Đức cha tại các giáo phận có các Đức cha tiền nhiệm đang nghỉ hưu chia sẻ về tình hình sức khỏe và đời sống của các Đức cha hưu và bệnh cách vắn tắt và cảm động trong sự quan tâm lắng nghe của mọi người.

Tiếp lời, Đức cha Phó Tổng thư ký trình bày chương trình nghị sự trong những ngày sắp tới. Những vấn đề sẽ bàn tới là:

– Các đề mục trong chương trình Đại Hội Dân Chúa sắp tới, đặc biệt về việc thông qua Tài liệu làm việc của Đại Hội Dân Chúa;

– Ba giáo tỉnh tường trình lại về các cuộc Hội ngộ Linh mục trong giáo tỉnh trong năm vừa qua;

– Giáo tỉnh Huế trình bày về dự kiến chương trình Lễ Bế mạc Năm Thánh tại La Vang.

Ngoài ra, Hội nghị sẽ lắng nghe và trao đổi về:

– Khóa cập nhật cho các giám mục mới tại Roma vừa qua;

– Dự án Học Viện thần học;

– Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của cha Léopold Cadière tại Huế;

– Chân dung vị mục tử nhân 100 năm ngày sinh của Đức cố Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình;

– Nhìn lại Quy chế HĐGMVN.

Cuối cùng, vào chiều thứ năm 07-10, HĐGM sẽ tiến hành việc bầu cử Ban Thường vụ HĐGM và các chủ tịch của các Ủy ban cho nhiệm kỳ mới.

Nguồn: WHĐ


“Tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình”: Cơ may nào cho GH Việt Nam?

Tháng Tám 26, 2010

Theo Thông báo của Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, kèm thư mời của học giả Nguyễn Đình Đầu, trong hai ngày 27-28/8/2010, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cố Tổng Giám mục Phaolô  Nguyễn Văn Bình, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình sẽ tổ chức cuộc tọa đàm: “Chân dung một vị mục tử” nhắm “chứng minh rằng, nơi ngài không có sự đối nghịch giữa niềm tin, lòng yêu mến Giáo Hội với lòng yêu quê hương, gắn bó dân tộc. Phân tích tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình, trên cơ sở tinh thần, đường lối xuyên suốt của Giáo Hội”. Đọc tiếp »


Chủ chăn và Truyền thông Công giáo

Tháng Bảy 31, 2010

Khi một người bơi lội sẩy chân, phải uống quá nhiều nước, anh ta càng la càng sặc, càng giãy giụa càng chìm. Do đó người ta khuyên, khi ta lỡ sẩy chân dưới nước, cứ bình tĩnh giữ thăng bằng và chờ người cứu. Nếu không ai cứu thì hãy vin vào cành cây hay bất cứ vật gì có sẵn để nương vào đó mà bơi.

Thế nhưng những lời khuyên ấy cũng chỉ là ứng phó lúc đã sẩy chân. Có một lời khuyên quí giá hơn: đi đứng cẩn trọng, hành xử chừng mực để khỏi sẩy chân.

Trong vài năm qua, nhiều chủ chăn nhân hậu và anh dũng xuất hiện như chứng cứ hùng hồn của lời Chúa giao phó: “Hãy chăn chiên của Thầy”. Nhưng đồng thời, một số chủ chăn – vì gì khó ai đoán được – đã tuyên bố hớ hênh rồi bị cuốn vào cơn lốc. Hoảng hốt, các ngài làm hai việc lẽ ra không nên làm: bào chữa bằng mọi cách và kết án truyền thông.

Thiên Chúa tự bản tính Ngài là truyền thông và Giáo Hội lữ hành cũng chia sẻ bản tính truyền thông cao cả ấy. Và do vậy mà Giáo Hội, xét như toàn thể, là phải truyền thông, không thể câm miệng, bởi vì tự hành vi câm miệng đã là đáng quở trách. Isaia còn nặng lời với những mục tử câm lặng, và Đức Thánh Cha Benedicto XVI trong tác phẩm Muối Cho Đời đã nhấn mạnh lại điều ấy. Vì lời lẽ chỉ trích các mục tử câm rất nặng nề, chúng tôi đã từng trích và xin không nhắc lại nữa (xem Isaia 56, 10; 57, 1-2; Muối Cho Đời, bản dịch trang 85).

Và khi chủ chăn ngậm miệng thì các thành phần dân Chúa phải la lên. Nếu con người không nói thì đá cũng phải mở miệng loan báo Công Lý. Chúa Giêsu đã dạy như thế.

Tuy nhiên, điều làm cho dân Chúa bàng hoàng là gần đây một số mục tử đã im lặng trước bất công lại còn dị ứng với truyền thông, nếu không muốn nói là “căm tức” truyền thông Công giáo. Có lẽ các ngài chỉ chấp nhận loại truyền thông nhai lại hay truyền thông chẳng có lề (dù giấy đã rách) kiểu Công giáo và Dân tộc (xin mở ngoặc nói thêm khi nhắc đến báo này: tôi đã gặp mấy người viết cho báo này không dám nhận mình là người của báo!).

Đó là chưa kể một số website “chính thức” trong Giáo Hội Việt nam không hề nói lên tiếng nói của Công Lý và hoàn toàn làm ngơ trước những cảnh đời.

Truyền thông Công giáo thời gian qua đã từng bị một số mục tử la mắng. Các vị cho rằng “thông tin không chính xác”, “người viết vô danh”, và là “bóng ma”. Có ông thì còn đặt ra điều răn mới: Thứ mười một chớ đọc tin website nọ website kia! Nhưng nếu ngồi một mình trước mặt Chúa, có thể các vị cảm thấy hối hận vì lỡ đi quá xa (hoặc bị kéo đi quá xa).

Cho đến bây giờ lượng người đọc đông đảo chưa thấy các website trên đưa sai tin nào. Người viết bài có thể vô danh xét về mặt chức quyền trong Hội Thánh, nhưng người viết vẫn là những giám mục, linh mục hết lòng vì Hội Thánh, những giáo dân nhiệt thành với công cuộc canh tân Hội Thánh, và cả những người ngoài Công giáo nhưng yêu mến Công Lý. Mà ai yêu mến Công Lý thì dù vô danh cũng vẫn có thể nói tiếng nói Công Lý.

Cũng xin đừng gọi các website là bóng ma. Mới đây có một chủ chăn gửi thư cho Hội Đồng Giám Mục gọi website nọ là bóng ma. Báo chí lề phải của nhà nước thì có ghi tên tổng biên tập với ban bệ đàng hoàng, nhưng xét về nhiều mặt, chưa hẳn lề nào đã là lể đúng luật giao thông xét như lương tri con người. Nhưng có những website vì lý do an toàn mà tạm thời không cho biết ai chủ trương. Điều này ai cũng phải hiểu vì sao. Nhưng chắc chắn họ không là bóng ma, bởi lẽ ma sao nói sự thật, ma sao đòi công lý, ma sao lại mời gọi nguyện cầu cho quê hương (chẳng khác gì ma sơ!)

Có một chuyện động trời hơn. Khi truyền thông Công giáo đưa tin về cái chết oan uổng của một giáo dân, một vị mục tử đã trưng bằng chứng là gia đình nạn nhân phản đối truyền thông, bảo là truyền thông sai lạc. Nhưng theo những thông tin chúng tôi vừa nhận được, vị mục tử ấy đã “làm công tác tư tưởng” để gia đình viết thư theo ý vị ấy. (Chúng tôi đã có bằng chứng). Rồi người ta còn bảo rằng hình trong bài không phải là hình của nạn nhân. Thật ra hình ảnh chỉ là để minh họa, và hình trong bài ấy là của một nạn nhân khác cũng chung số phận. Vậy đó hoàn toàn không phải là sai sự thật.

Sự kiện Giáo Hội Việt Nam xin lỗi mọi người ở Sở Kiện đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đàng sau những lời xin lỗi phải là nỗ lực vươn lên để các vị chủ chăn đồng hành thật sự với dân Chúa, chứ không phải là lời hô hào đồng hành với ai khác, nhất là đồng hành với những kẻ đang cố gắng kéo dân Chúa đi ngược lại với Tin Mừng của Chúa Kytô.

Người tín hữu Việt nam mấy trăm năm đọc hoài mà ít hiểu thế nào là người chăn thuê như Chúa Giêsu nói. Bây giờ trong xã hội này chúng ta thấy rõ có những vị được người ta thuê chăn chiên. Các vị được thuê để cho dân Chúa ăn loại cỏ nhân tạo, uống nước ô nhiễm và đón những làn gió vương mùi tử khí. Nhưng chắc chắn Thánh Giá Chúa sẽ xua tan các nguồn chết chóc đó.

Trẻ em đôi khi chơi trò mê tín là cầu cơ. Có một điều đáng chú ý là nếu ai đeo Thánh giá thì không cầu cơ được vì quỉ run sợ. Giáo dân Việt nam kính mong các chủ chăn đừng nói theo ai cả, đừng chịu áp lực của ai. Thánh Giá Chúa sẽ bênh đỡ các vị mà.

Xin đừng coi truyền thông như cơn lũ. Thật ra truyền thông Công Giáo tiếp tục sứ mạng Chúa giao, làm nguồn nước mát cho thế gian trong lành. Nhưng nếu con người sẩy chân và vùng vẫy thì có thể bị ngộp nước.

Cách đơn giản nhất để chấp nhận truyền thông Công giáo là sống trong ánh sáng.

Gioan Lê Quang Vinh


Đức Tổng Kiệt có mất ngủ không?

Tháng Bảy 11, 2010

Trong thời gian qua, vì yêu Chúa Giêsu và Giáo Hội do Ngài lập nên, nhiều người công giáo đã nhận định về triệu chứng mất ngủ của Đức Tổng Kiệt. Vì đồng cảm với nỗi đau của người tin Đạo Chúa, nhiều Kitô hữu ngoài Công Giáo, bà con Bên Lương và Đồng Bào yêu Nước cũng nói lên cảm tưởng và thiện ý xây dựng cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Do đó, người viết xin phép nhân Danh Thiên Chúa là Tình Yêu để tỏ lòng thành kính cảm ơn quý vị hảo tâm như lời Thiên Thần ca mừng trong Đêm Chúa giáng trần: ”Vinh Danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người lòng ngay.”, như Lời Chúa dạy: ”Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời. – Ubi caritas et amor, Deus ibi est.”

Theo thiển ý của tôi, sự thật về chứng mất ngủ của Đức Tổng Kiệt đang còn ”ở vào thời kỳ tranh tối, tranh sáng – pénombre, haft-light, semi-darkness” bởi vì Ngài chưa nói lý do, ngoại trừ với Thiên Chúa, Mẹ Maria, Thánh Giuse là Quan Thầy của Ngài, với Đức Thánh Cha và với một vài Vị Mục Tử mà Ngài tin tưởng, trong đó là Đức Cha Nguyễn Chí Linh và những Mục Tử đã ”đồng sinh, đồng tử” đúng nghĩa với Ngài qua hành động cụ thể, chứ không bằng lời giảng suông không có sức thuyết phục. Vì thế mà Bossuet mới có câu: ”Mọi người đều giống nhau qua lời nói, và chỉ có việc làm mới cho thấy rằng họ khác nhau. Tous les hommes sont semblables par les paroles, et ce n’est que les actions qui les découvrent différents.” !!!

Trong chừng mực nào đó, cá nhân tôi và nhiều người khác cũng có những chứng cớ rõ ràng về tình trạng MẤT NGỦ của Đức Tổng. Chẳng ai dám nói ra cụ thể vì chưa phải lúc, vì mỗi thời kỳ đều có tính giai đoạn và lịch sử riêng của nó, vì sự việc có nhiều tế nhị, chỉ có Ơn Khôn Ngoan của Chúa Thánh Linh mới phơi bày ra, vào một ngày không xa, trước công luận, việc làm vì Đức Mến của hai Cha-con: Giáo Hoàng và Tổng Kiệt! (Hồi Ký của Đức Cha Trọng, mười ba năm tù của Đức Cố Hồng Y thánh thiện Nguyễn Văn Thuận, cái chết oan ức của Đức Cha Nguyễn Kim Điền là ba trong nhiều bằng chứng Tử Đạo vì Đức Mến!) Vào lúc này, các Vị Mục Tử nhân lành trong HĐGMVN cũng phải ”tịnh khẩu” như thái độ của Đức Tổng Kiệt trong bài ”Sự im lặng của Thánh Giuse”, viết ngày 18. 3. 2010, khi Ngài ở Vatican để chữa bệnh! Còn các Vị Mục Tử khác Kitô là người trong cuộc, cũng biết rõ ”đầu dây, mối dợ” của sự việc, mà lại sợ sự thật vì nghĩ rằng sự thật không giải phóng được mình, sẽ làm cho mình ”bị lúa đời” thêm một cách nhục nhã!

Tuy nhiên, ngạn ngữ latinh sau đây giúp tôi mạo muội nói lên cảm nghĩ chung của mọi người, nhất là của Kitô hữu. Đó là: ”Nihil novum / novi sub sole! Dưới mặt trời, chẳng có gì mới lạ!”

Để tránh tiếng là ”do chủ quan” và do ”thiên vị”, tôi xin dựa vào Lời Chúa như sau để chứng minh rằng tội lỗi là quyền lực của sự Tối Tăm đang điều khiển những người chống lại Chúa: ”Hằng ngày, tôi ở giữa các ông, nơi Đền Thờ, các ông đã chẳng ra tay làm gì tôi. Nhưng này là giờ của các ông và thời của quyền lực Tối Tăm.” (Luca 22, 53)

Chúa đã bị bắt, tra tấn vào ban đêm, tắt thở vào lúc tối tăm bao trùm trên khắp mặt đất trong khi mặt trời khuất bóng. (Luca 23, 44) Đức Tổng Kiệt cũng phải lủi thủi với hạng người ”đi đêm” vì họ sợ ánh sáng! Đó là đêm mà Ngài mất ngủ nhiều nhất trong đời khi vội vàng ”nhìn lại trong trí nhớ” Tòa Tổng Giám Mục, Nhà Thờ Chính Tòa, các khuôn viên và con chiên tụ họp để cầu nguyện cho tự do và công lý. Ngài phải rơi lệ khi nghĩ đến Quê Hương Việt Nam yêu dấu, Đấng Sinh Thành, Dưỡng Dục, nơi chôn nhau, cắt rốn, mồ mả Tổ Tiên, Ông Bà, người thân, các người Thầy, nhất là Giáo Hội! Ngài đã nghẹn ngào nói lại Lời Chúa Giêsu: ”Xin Cha tha thứ cho họ vì họ không hiểu việc họ làm.”

Người ”đi đêm” theo phạm trù vừa nói chẳng khác nào con cò trong ca dao Việt Nam: ”Con cò, mày đi ăn đêm! Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao!” Họ đang run, mà cứ giả vờ vô tội hay ngụy biện lung tung, chẳng trúng vào đâu vì sự việc quá rõ như sau:

Phản bội

Phản bội

Đức Tổng Kiệt chỉ bắt đầu có triệu chứng mất ngủ trầm trọng từ khi quyền lực của Bóng Tối đã lộ chân tướng, tức là họ bịt được miệng của tuyệt đại đa số Mục Tử Việt Nam nói chung, và nhất là của nhiều Vị trong Hội Đồng Giám Mục VN! Ngài và các Vị kề vai, sát cánh với Ngài cảm thấy cô đơn. Ngài chính là Kitô khác, chứ không khác Kitô, đã thấy rõ tâm địa của các tân Giuđa trong lòng Giáo Hội và những tân môn đệ trong Vườn Cây Dầu khi đọc lại Lời Chúa sau đây: ”Trở lại với các môn đồ và thấy họ đang ngủ, Ngài mới nói với Phêrô: ”Thế là các con không có sức để thức với Ta một giờ hay sao? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẽo sa cơn thử thách. Tâm thần thì muốn làm, mà xác thịt thì yếu đuối….” Rồi Ngài lại đến và thấy họ đang ngủ…Ngài bỏ họ mà đi…Bấy giờ, Ngài đến với họ và bảo: ”Các con cứ ngủ, cứ nghỉ được sao? Này giờ đã gần, và Con Người sẽ bị nộp vào tay người tội lỗi! Dậy! Ta đi! Người nộp Ta đã tới.”

Trong bài giảng vào Mùa Vọng 2008, Đức Tổng Kiệt cũng đã cảnh báo Mục Tử mà Đức đương kim Giáo Hoàng gọi là Chó Câm như sau:

”Tỉnh thức không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chờ đợi. Tỉnh thức là bắt tay vào hành động. Chúa như ông chủ đi vắng. Người cho ta được toàn quyền khi Người vắng nhà. Người giao trách nhiệm cho ta trông coi gia đình ta, giáo xứ ta, địa phương ta, đất nước tacả thế giới nơi ta đang sống. Ta được tự do hành động. Ta có trách nhiệm làm cho gia đình, xứ đạo, địa phương, đất nước, và cả thế giới được phát triển về mọi mặt. Vì thế, tỉnh thức là nhìn thấy những nhu cầu của anh em, và đáp ứng những nhu cầu đó. Tỉnh thức là nhìn thấy ý Chúa trong những trào lưu thời đại. Tỉnh thức là nhận biết Chúa hành động trong những tâm hồn thiện chí thuộc các niềm tin, mầu da, quan điểm khác nhau để biết cộng tác trong việc xây dựng xã hội. Tỉnh thức là dấn thân hy sinh phục vụ anh em trong quên mình.

Ngay từ đầu mùa Vọng, Chúa mời gọi ta hãy tỉnh thức. Hãy bước ra khỏi giấc ngủ miệt mài, lười biếng. Hãy đoạn tuyệt với những giấc mộng phù hoa. Hãy thôi đuổi theo những đam mê dục vọng. Hãy nói không với những đồng tiền bất chính.

Hãy tỉnh táo phân định để nhận ra dung mạo thực sự của Ðức Kitô. Ðừng chạy theo những khuôn mặt mang dáng vẻ cao sang quyền quý. Ðừng chạy theo những khuôn mặt nặng về quyền lực. Ðừng chạy theo những lời hứa hẹn giàu sang. Dung mạo đích thực của Ðức Kitô là nghèo hèn, là khiêm nhường, là bé nhỏ.

Hãy tỉnh thức để làm việc không ngừng, để quên mình, hy sinh phục vụ cho lợi ích của đồng loại. Như thế, tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta sẽ khó mà tỉnh thức. Nên ta phải tha thiết cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp. Có ơn Chúa thúc đẩy, ta mới có thể dứt bỏ con đường tội lỗi xưa cũ. Có ơn Chúa soi sáng, ta mới đủ tỉnh táo nhận ra dung mạo đích thực của Ðức Giêsu. Có ơn Chúa trợ giúp, ta mới đủ hăng hái ra đi phục vụ trong quên mình.

Lạy Chúa, xin giữ hồn xác con luôn tỉnh thức để con nhận biết Chúa đang đến với con trong cuộc sống hằng ngày. Amen.”

Tôi hy vọng rằng, ở nơi đất khách, quê người, Đức Tổng Kiệt đọc được bài này và đồng ý với tôi rằng Ngài không hề có triệu chứng mất ngủ khi Ngài sang Düsseldorf, Đức Quốc để thăm Giáo Dân ở vùng Cha Long là bạn cùng lớp với Ngài và Linh Mục… là Thầy cũ của Ngài. Chính Ngài đã sung sướng, tươi cười, kể lại như sau: ”Tôi đến thăm anh chị em giáo dân vào ngày Tết, nơi họ cầu nguyện. Tôi hỏi họ: ”Ông Bà và anh chị em có lạnh và đói bụng không? Họ trả lời: ”Chúng con đã ăn bánh chưng nướng! Đó là khoai lang lùi! Chúng con là đàn bà mặc tới tám, chín cái áo để phòng khi Công An có kéo thì mình tuột áo ngoài ra! Chúng con mang áo mưa, họ có giựt thì áo cũng tuột theo tay họ thôi! Sợi dây điện là để tròng vào cổ Công An mà kéo họ lại cho họ khó đánh mình vì đó là cách tự vệ của phái yếu không có súng!…” (Tôi không thuộc lòng nguyên văn lời Ngài kể.)

Tóm lại, việc mất ngủ sau này của Tổng Kiệt là chuyện có thật như lời phát biểu của Đức Cha Linh với Đài Phát Thanh của Pháp. Ngài mất ngủ vì ”một con ngựa đau, cả tàu vẫn ăn cỏ!”, vì có những ”tâm hồn chết là tâm hồn bị tập quán hóa”, tức là ”riết rồi quen”, trở thành ”vô thức, vô cảm”! Đức Tổng Kiệt dạy: ”Hãy bước ra khỏi giấc ngủ miệt mài, lười biếng.” Người Đức thì nói: ”Giấc ngủ là anh em của sự chết! Der Schlaf ist der Bruder des Todes!” Cụ Nguyễn Khuyến lại buồn cho vận Nước như sau: ”Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được – Cá đâu đớp động dưới chân bèo!” Cần câu thì nhỏ, mà phải ”ôm”, huống chi là Lời Chúa thì ĐC Kiệt phải ghi tạc vào lòng!

Khi thấy ”Ngư Ông” Ngô Quang Kiệt ”bị” trở thành người bất lực vì nhiều NGÀI Mục Tử vẫn thờ ơ, bất cảm, Đức Thánh Cha hẳn đã phải nói riêng với con cưng của mình: ”Mấy ông già này! Ôi! Mấy tay già này!” Cho nên, phải chăng hai Cha-con đành ”tương kế, tựu kế” với hạng vô thần cứng đầu có nội gián đội lốt ”tu sỹ”! Danh ngôn sau đây của Grant lý giải phần nào việc làm ”bất đắc dĩ” của hai Cha-con: ”Tôi chẳng biết đến phương pháp nào hay hơn để loại trừ các luật lệ xấu xa, chỉ có cách là để cho chúng nó được mang ra áp dụng!”?

Những "Đạo sĩ" lạc đường vào cung vua Herode?

Những "Đạo sĩ" lạc đường vào cung vua Herode?

Rõ ràng là ”dân kêu trời đã thấu” thì Đức Thánh Cha mới tìm cách tái lập quan hệ ngoại giao với Cộng Sản VN để có điều kiện canh tân xã hội đã quá lạc hậu, nghèo đói về Lời Chúa: Chỉ có sáu triệu người công giáo trong tổng số gần chín muơi triệu dân! Đức Tổng Kiệt ra đi để có lợi về sau cho ”anh chị em” như Ngài tâm sự qua ”di thư”, để sống còn, có ngày ”vinh quy”! Nếu ở lại, Ngài sẽ khổ tâm hơn! Và biết đâu chừng Ngài đã cùng số phận như Đức Tổng Điền! Vatican phải ”kéo” Ngài ra khỏi tầm tay của những ác nhân muốn ám hại Ngài! Cho nên, Đức Giáo Hoàng phải đề cao cảnh giác, phải đưa người mà Việt Cộng ưa để ”càng cháy nhà mới ra sự thật”, để biến ”người yếu đuối trở nên mạnh mẽ”, để có thêm bằng chứng ai là ngư phủ giỏi hơn trong việc bắt ”cá người”! Cho nên, xin đừng vội vã ”ngủ quên trên chiến thắng tạm bợ”, xin đừng nhẹ dạ nghĩ rằng Nhà Cầm Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa vốn coi Tôn Giáo là thuốc phiện, cho xe ủi đất làm đường vào Linh Địa La Vang là một thiện chí! Chẳng lẽ Linh Mục Chánh Xứ và Bề Trên của Ngài đã quên dụ ngôn ”Cô Bé Quàng Khăn Đỏ – Le petit Charperon Rouge” rồi sao? Chỉ ngần ấy sự việc đã khiến cho tôi mất ngủ, huống chi là Đức Tổng Kiệt phải đối diện với nội và ngoại tuyến!

Xin lật Kinh Thánh mà xem: Những người công chính thường mất ngủ vì Chúa! Samuel được Ngài đánh thức bốn lần liên tiếp trong một đêm! Các mục đồng mất ngủ để được loan báo Tin Mừng Chúa sinh ra! Ba Chiêm Tinh Gia (ba Vua) theo ánh sao lạ để tìm Chúa Hài Đồng! Thánh Giuse được báo mộng, liền đem Chúa và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập về ban đêm!…Lạc mất Chúa, hai Ngài phải mất ăn, mất ngủ ba ngày đêm!

Ban đêm cũng là cơ hội cho người xấu gieo giống cỏ lùng vào ruộng lúa! Nụ hôn phản bội của Giuđa cũng ”thực hiện” về đêm! Nhưng đêm trong ”Những Vì Sao – Les étoiles” của Alphonse Daudet là  biết bao tình cảm tuyệt vời, đơn sơ, thánh thiện! Thời giờ là quà quý báu mà Chúa ban cho ta hưởng dùng! Đêm cũng là ngày nếu người tin đi theo Chúa chính là Ánh Sáng, Sự Thật và Tình Yêu.

Biết đến bao giờ Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thật sự là ánh sáng ban ngày như mặt trời rực rỡ, như ánh trăng mười sáu soi đường cho người đi đêm?

Kính xin HĐGMVN vui lòng xem lại khả năng ”tư tế, ngôn sứ, quân vương” của mình.

Düsseldorf, 11. 7. 2010

Đaminh Phan văn Phước


Từ câu chuyện người Samaritanô đến những trăn trở đối với Giáo hội Việt Nam

Tháng Bảy 10, 2010

Trong bài tin mừng Chúa nhật 15 Thường niên, để trả lời cho người thông luật về câu hỏi “Nhưng ai là anh em của tôi?” Chúa Giêsu kể dụ ngôn về người Samartanô nhân hậu: Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua. Nhưng một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: “Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông”. Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” Người thông luật trả lời: “Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy”.

Trong một lá thư mục vụ gửi cho toàn thể dân Chúa trong giáo phận, một vị Gíam mục ở Việt Nam đã đưa dụ ngôn này vào lá thư và nhấn mạnh dụ ngôn này là một trong những dụ ngôn lớn trong Tin mừng.

Dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu đúng là một dụ ngôn quan trọng vì kêu gọi bác ái, yêu thương vốn là những điểm cốt lõi trong đạo Chúa. Không những chỉ có người tin Chúa mà ngay cả rất nhiều người không tin Chúa cũng biết rõ nội dung và ý nghĩa của câu chuyện được kể trong dụ ngôn.

Đọc câu chuyện trong dụ ngôn tuy Chúa Giêsu không trực tiếp trách cứ vị tư tế và vị trợ tế nhưng ai cũng thấy được Chúa Giêsu đang nghiêm khắc cảnh cáo các ông về sự thờ ơ, vô tâm của họ trước cảnh một nạn nhân bị cướp bóc, bị đánh đập và bị bỏ rơi ở dọc đường.

Trong một bài suy niệm liên quan đến dụ ngôn ngày, linh mục VXH đã chỉ ra căn nguyên của sự vô tâm của họ chính là vì sự sợ hãi. Vị tư tế và vị trợ tế đã làm ngơ, không dám đến gần người đang gặp nạn vì sợ phạm luật. Theo luật Do Thái thời đó thì ai đụng chạm vào xác chết hay tiếp xúc với người ngoại giáo sẽ bị coi là bị nhiễm ô uế. Vị tư tế và vị trợ tế chỉ vì sợ hậu qủa của việc bị nhiễm ô uế sẽ có ảnh hưởng bất lợi cho mình mà họ đành bỏ mặc người bị cướp đáng thương. Họ đã sợ hãi cách mơ hồ vì nạn nhân bị đánh nửa sống nửa chết chứ chưa chết hẳn và cũng chưa có gì chắc chắn rằng nạn nhân là người ngoại gíao.

Ngày nay cũng có những sự sợ hãi mơ hồ như vậy. Cũng trong bài suy niệm của mình, linh mục VXH có đề cập đến trường hợp một linh mục chỉ vì sợ không được xây nhà thờ đã ngăn cản không cho phổ biến những tờ flyers quảng bá việc bảo vệ sự sống. Tôi không phản đối việc xây dựng nhà thờ, còn cổ võ là đàng khác nhưng tôi không thể đồng ý với thái độ “yếu bóng vía” của vị linh mục nào đó. Cho dù người ta có nói thẳng thừng ra rằng nếu anh cho quảng bá việc bảo vệ sự sống tôi sẽ cấm không cho xây nhà thờ thì với lương tâm và trách nhiệm, một vị linh mục phải biết chọn điều nào chứ. Chỉ  vì sợ không được xây nhà thờ mà lại đi đồng lõa với việc làm của “văn hóa sự chết”, đi ngược với đường hướng bất di bất dịch của Giáo hội. Thử hỏi một sự đánh đổi như vậy  có  đáng không?

Thật ra thì vị linh mục trên đây không phải là nạn nhân duy nhất của sự sợ hãi. Mặc dầu trong Thánh kinh Chúa Giêsu bảo đừng sợ, các bậc lãnh đạo Giáo hội thường kêu gọi đừng sợ, các gíam mục, linh mục trong những bài giảng, bài viết luôn nhắc nhở giáo dân đừng sợ. Nhưng sự sợ hãi đã trở thành căn bệnh trầm kha mà con vi trùng gây ra sự  sợ  hãi đã  xâm nhập vào đến tận lục phủ  ngũ  tạng của mọi thành phần dân Chúa: giáo dân, linh mục và ngay cả hàng giáo phẩm.

Đức cha Nguyễn Văn Hòa nguyên chủ tịch HĐGMVN trong hai nhiệm kỳ đã có lần than phiền về sự đơn độc của Ngài khi dám nêu lên các vấn đề cấp thiết của Giáo hội. Trả lời một cuộc phỏng vấn của Đài BBC Đức cha thổ lộ “Hàng năm chúng tôi có cuộc gặp gỡ hoặc có những đề nghị với nhà nước về các vấn đề tự do tôn giáo, văn hóa, đạo đức, luân lý, giáo dục giới trẻ, vấn đề công bằng sự thật. Có khi chúng tôi là đơn vị duy nhất dám nói lên điều đó với nhà nước”.

Các đơn vị không “dám nói lên điều đó với nhà nước” vì sao nếu không phải vì sợ hãi? Xem ra căn bệnh sợ hãi đã hoành hành đến mức báo động. Lời Chúa vẫn còn đó “Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng ra các con phải sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”. Nếu chính những người rao giảng lời Chúa vẫn sợ hãi, không xác tín vào lời Chúa thì còn rao giảng được cho ai? Đức tin không có việc làm là đức tin chết, lời rao giảng không được thể hiện bằng hành động sẽ chỉ còn là những lời sáo rỗng.

Tôi nhớ có đọc trên internet một bài viết có nội dung châm chích Giáo hội Công giáo. Tác gỉa bài viết hoài nghi về con số 300 ngàn người Công giáo Việt Nam đã  chịu chết vì đạo. Tôi thật sự bất bình về luận điệu của tác gỉa bài viết nhưng nói cho ngay, nếu cứ nhìn vào thái độ bạc nhược, yếu hèn của nhiều thành phần dân Chúa trong Giáo hội Việt Nam hôm nay thì cũng khó mà tin được trong thời kỳ còn non trẻ mà Giáo hội Việt Nam đã có được con số to lớn như vậy về số người Công giáo sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đức tin. Thật đáng buồn và đáng hổ thẹn với các bậc tiền nhân, khi Giáo hội lớn mạnh hơn thì lại là lúc niềm tin bị sa sút!

Trở lại câu chuyện người Samaritanô. Nạn nhân trong câu chuyện cũng giống hệt tình cảnh của những nạn nhân của chế độ độc tài phi nhân ở Việt Nam. Họ là những mảnh đời đáng thương, là những người cô thế bị cướp đi đất đai, ruộng vườn; là những tấm thân bê bết máu gây ra bởi những trận đòn thù. Họ là những linh mục, những tu sỹ, những giáo dân ở Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu v.v. Họ cũng bị đánh đến dở sống dở chết (cũng có người bị đánh chết tức tưởi) như nạn nhân đáng thương ở thời điểm 2000 năm trước và cùng mang chung một số phận, họ cũng bị các vị “tư tế, trợ tế” làm ngơ, có khi còn gián tiếp khuyến khích “kẻ cướp”.

Nhớ lại biến cố Đồng Chiêm tôi vẫn còn thấy đau lòng. Có thiếu gì cách nếu chỉ muốn “di dời” (cách nói của nhà cầm quyền Hà Nội) cây thánh gía trên núi Thờ. Hà cớ gì phải đem quân quyền đến bao vây giáo dân Đồng Chiêm và dùng chất nổ phá tan tành cây thánh gía? Hành động triệt phá cây thánh gía, biểu tượng của niềm tin tôn giáo rõ ràng là hành động cố tình khiêu khích, thách thức đối với người Kitô hữu. Nhưng thật khó hiểu khi mà nhiều nơi trên thế giới lên tiếng phản đối hành động báng bổ tại Đồng Chiêm và  riêng Giáo hội Ba Lan đã dành riêng một ngày cầu nguyện cho những người bị bách hại tại Việt Nam thì thật đáng buồn,chính ở nơi đang có những nạn nhân bị bách hại lại chẳng có mấy ai quan tâm đến hoặc cố tình làm ngơ.

Giữ thái độ im lặng có phải là đồng tình với hành động của nhà cầm quyền Hà Nội? Tôi không nghĩ như vậy. Đến một ông linh mục quốc doanh còn biết “Đập phá thánh gía là bậy rồi, tôi không hề xúc phạm đến Đồng Chiêm, không hề có một ý kiến gì bảo vệ chính quyền làm những chuyện đó ở Đồng Chiêm”. Thế nhưng các vị chức sắc, những người có trọng trách trong Giáo hội cần phải có tiếng nói thì lại im thin thít. Lên tiếng bênh vực người cô thế, chia sẻ với người bị đánh đập, hiệp thông cầu nguyện cho những người đang gặp đau khổ chẳng lẽ là phạm pháp hay chỉ vì sợ hãi, vì sợ bị coi là “đối đầu”?

Thời gian gần đây người ta nghe nói nhiều đến đối thoại. Đối thọai là phương cách hay nhất để gỉai quyết những bất đồng. Một số người chủ trương đối thoại với nhà cầm quyền để giải quyết những bất đồng giữa Giáo hội và nhà nước. Nhưng để việc đối thoại đạt được kết qủa thì điều cần thiết là phải tôn trọng lẫn nhau, hợp tác chân thành và cũng cần phải có sự bình đẳng nữa. Liệu nhà cầm quyền CSVN có chịu tuân thủ những nguyên tác đó khi đối thoại với Giáo hội hay không? Hãy nghe họ tuyên bố nhân dịp Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Nguyễn Văn Nhơn vào chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội: “Được sự chấp thuận của Thủ Tướng Chính phủ, Đức Giáo Hòang đã tiến hành việc bổ nhiệm này”.

“Được sự chấp thuận của Thủ Tướng Chính phủ…”
những ngôn từ người dân ở trong nước nghe ra rả  hàng ngày trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình hay đọc được trên các phương tiện truyền thông khác của nhà nước. Những ngôn từ này thường được dùng khi nói đến một quyết định của chính phủ có liên quan đến một cơ quan dưới quyền nay họ đem xử dụng cả với Tòa Thánh. Họ coi Tòa Thánh là gì? Là một bộ phận của nhà nước Việt Nam chăng? Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ thấy họ chẳng hề có thiện tâm thiện chí trong mối quan hệ với Tòa Thánh mà chỉ muốn lợi dụng mọi cơ hội để tuyên truyền, cố ý để cho mọi người thấy quyền uy của họ. Họ không tôn trọng ngay cả Tòa Thánh thì  thử hỏi Giáo hội Việt Nam sẽ là gì dưới con mắt của họ? Đối thoại với nhà cầm quyền trong một tương quan không bình đẳng như vậy mà trông chờ vào một kết qủa tốt đẹp e rằng chỉ là ảo tưởng.

Giáo hội Việt Nam đang cử hành Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thành lập hai địa phận đại diện Tông Tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài và kỷ niệm 50 năm thành lập hàng giáo phẩm đánh dấu giai đoạn trưởng thành của GHCGVN. Thế nhưng nhà cầm quyền CSVN đâu có muốn nhìn thấy Giáo hội vững mạnh. Họ chỉ muốn thấy một Giáo hội phân hóa, cấu xé lẫn nhau để “ngư ông hưởng lợi”. Để thực hiện âm mưu này trong thời gian qua, nhất là ngay trong thời điểm diễn ra Năm Thánh họ đã tạo ra cả chuỗi những sự kiện, đạo diễn hàng loạt những kịch bản gây xáo trộn ngay trong nội bộ để dễ bề khống chế Giáo hội. Họ có vẻ đã thành công một phần nào. Lòng mong ước của ĐTC muốn “đào sâu và phong phú hóa sự hiệp thông trong Giáo hội” đã không thể thành tựu trọn vẹn khiến cho con thuyền Giáo hội Việt Nam như đang chòng chành trong giông bão mà nếu không khéo sẽ bị lạc hướng.


Lại Thế Lãng


Vermont – USA


Cuộc “lội ngược dòng” của giáo dân Hà Nội – Ai là kẻ lo sợ nhất?

Tháng Năm 18, 2010
Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã lại đã bất ngờ rời Việt Nam (đêm 12/5 ) bất ngờ như khi ông trở về từ Vatican (ngày 9/4) để dàn xếp, đón đưa Giám mục Nguyễn Văn Nhơn kế vị mình theo quyết định của Toà thánh sau đó nửa tháng.

Dư luận cũng bất ngờ bùng lên trước cách đối xử với ông của Toà Thánh Vatican, gới cầm quyền Việt Nam và cả HĐGMVN (những thành tố duy nhất có thể tạo tác quyết định cho vấn đề này) ngay khi còn là manh nha, đồn đại.

Những hành động, những biểu lộ quyết liệt, mạnh mẽ chưa từng thấy của giáo dân Hà Nội cũng bùng lên theo đó. Một bầu không khí đau buồn, lo âu, nghi kỵ và phân hoá bao trùm giáo phận Hà Nội, lan toả ra nhiều nơi trong và ngoài nước.

Một thỉnh nguyện thư đã được giáo dân khẩn trương thu thập trong thời gian ngắn nhất với 15.000 chữ ký (được cho là kỷ lục ) chuyển gấp sang Vatican. Một Thánh Lễ, “Lễ tạ ơn chào đón đức TGM phó” diễn ra trong căng thẳng, ngột ngạt và đầy tự phát… nhưng cũng chẳng thể nào khác được, với rừng băng rôn của giáo dân tôn vinh TGM Ngô Quang Kiệt chứ không phải là “chào đón Đức TGM phó” như chủ đề của Thánh Lễ.

Nhiều ý kíên trái ngươc, mâu thuẫn, chống đối nhau tràn ngập trên các trang mạng Công Giáo… để lý giải, để bach hoá sự thật… để bao biện, để che đậy, phá rối và cả để tranh giành, để làm nổi mình lên trong bối cảnh hỗn loạn này.

Tất cả được thấy như những nỗ lực, quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng của những lực lượng cụ thể nào đấy trong việc “đi hay ở” của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Và đến lúc TGM Ngô Quang Kiệt đã chính thức rời sứ vụ, bằng thông báo của Toà Thánh Vatican chấp nhận đơn từ chức của ông và ra nước ngoài chữa bệnh như thông báo của toà TGM Hà Nội, Giám mục Nguyễn Văn Nhơn cũng đã chính thức trở thành Tổng Giám Mục Hà Nội nhưng quán tính của sự kiện “đi hay ở” và dấu ấn “tinh thần Ngô Quang Kiệt” vẫn còn nguyên, vẫn sôi sục, vẫn đòi hỏi phải được lý giải một cách chính thức và minh bạch từ những tầng cao nhất của Giáo Hội.
ThanhlenhamchuccuaDCNhon
Lễ chúa Jê-Su lên trời (một trong những thánh lễ quan trọng hàng đầu của người Công Giáo, theo thông lệ sẽ do Tân Tổng Giám Mục chủ tế) đã lại trở thành cuộc biểu lộ tình cảm của Giáo dân các xứ trong giáo phận… Đến lúc này thì rất khó đặt tên cho cả chuỗi sự kiện , nó giống như một cuộc “lội ngược dòng” đẫm nước mắt đi tìm “công lý sự thật”, đi tìm “chủ chăn đích thực” của giáo dân Hà Nội.

Ở đây “cuộc lội ngược dòng” của những giáo dân bé mọn ấy là hoàn toàn đúng đắn, là chân thực… nhưng nó đã “bùng lên” ngoài tầm kiểm soát, làm cho cả giáo hội chao đảo, HĐGMVN hầu như tê liệt, nó gây đau đớn, lo ngại cho ngay chính các hàm, phẩm cao nhất của Giáo Hội, cho cả giới cầm quyền đang chăm chú theo dõi trong nín lặng, và căng thẳng bởi với chính họ, sự việc cũng đang ngoài tầm kiểm soát,
Nguyên nhân của sự “bùng lên” quyết liệt và tự phát đến như vậy có thể thấy là ngoài tình cảm yêu thương, khát vọng một “chủ chăn đích thực” của giáo dân thì phần còn lại (ẩn phía sau) của vấn đề chính “là quá trình đưa đến sự lựa chọn người kế vị” như nhận định của Linh Mục Vũ Khởi Phụng chánh xứ giáo xứ Thái Hà, hay nói cụ thể hơn là sự xuất hiện không lô-gic, không cần thiết của chính vị GM Nguyễn Văn Nhơn. Quá trình này thể hiện rõ bàn tay của giới cầm quyền Hà Nội từ mở đầu với sự việc Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBNDTP Hà Nội triệu tập Ngoại giao đoàn tại Hà Nội đã Ngày (10/2008) công khai bày tỏ ý đồ trục xuất TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội… cho đến mẩu tin gọn lỏn của TTX VN (ngày 7/5/2010).
Có thể thấy phản ứng của giáo dân chính là phản ứng của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với chính quyền cộng sản vô thần và dã tâm” bóp chết Công Giáo” của họ. HĐGMVN hay một “đáng tiếc” nào đấy của Toà ThánhVatican bỗng nhiên thành điểm đối đầu của phản ứng này (cần thấy rõ Giáo Hội không chỉ là Tổng Giám Mục, HĐGM, hay một vài đấng bậc cụ thể. Giáo Hội là 8 triệu Giáo dân).

Lo ngại của gới cầm quyền là một thực tế bởi mục đích cả lâu dài hay trước mắt của họ là trục xuất TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội một cách êm thấm, từ đó từng bước “quốc doanh hoá” Thiên Chúa Giáo như đã từng làm với nhiều tôn giáo khác chứ không phải là để chọn lựa để tìm tới một kết quả hỗn loạn, không thể áp đặt như hiện nay.

Sự kiện bung ra đã làm cho những con bài chủ nặng ký nhất đã bị bại lộ, đường lối đối ngoại và đối thoại “bẩn” kiểu “Cộng Sản” bị phơi bày, cuồng vọng đứng trên cả “Chúa Trời” của Đảng Cộng Sản đã bị giáo dân Hà Nội chặn đứng và giáng trả quyết liệt hơn cả mức cần thiết, tình thế chạm đến ngưỡng không có lợi cho sự “ổn đinh” của họ trong kỳ “lột xác” cuối cùng (đại hội Đảng).
Thêm nữa trong một tương lai ngắn ngủi, bất trắc đang chờ Đảng Cộng Sản, đã hình thành xu hướng “ tự diễn biến” “tự chuyển hoá” tạo khả năng để có thể tái tồn tại trong một một nền chính trị mới “phi cộng sản” nay mai thì tổn thương lớn này với người Công Giáo không dễ gì mà hàn gắn, hay đền bù, hoà giải được.

Nhìn lại chuỗi sự kiện người ta đã phải rất ngạc nhiên khi thấy rằng chỉ để có 2 công viên bé nhỏ vô tích sự mà cả một chính thể đã mâu thuẫn với 10% dân số của mình một cách trầm trọng đến mức không thể hoá giải được thì rõ ràng tầm vóc, não trạng chính trị của giới cầm quyền Hà Nội nói chung và BT Thành Uỷ Phạm Quang Nghị nói riêng là quá thấp kém.

Do vậy việc ra đi của TGM Ngô Quang Kiệt vốn được coi là “điểm thưởng” cho phe cánh chính trị Hà Nội của Phạm Quang Nghị trong đại hội Đảng nguy cơ trở thành “điểm triệt” bởi kết quả chẳng êm thấm chút nào, sự kiện còn kéo dài và diễn biến khó đoán định, đây chính là lý do tại sao không một tờ báo quốc doanh nào đưa tin hay bình luận ngoại trừ một mẩu tin chiếu lệ của TTXVN.

Sự hoảng loạn và lo ngại không chỉ riêng gì của giới cầm quyền Hà Nội, mà nó còn đang trong suy tư của các lãnh đạo Công Giáo trong và ngoài HĐGMVN, nhất là với những người đã bàn quang, đã làm ngơ, đã chấp nhận, hoặc tham gia vào “quá trình đưa đến sự lựa chọn người kế vị” không lo-gic, không minh bạch này.
Tình trạng hiện thời của HĐGMVN đang là rất hoang mang, lúng túng như trả lời phỏng vấn của Phó CT HĐGMVN Nguyễn Chí Linh… không biết làm gì hơn là tiếp tục chọn lựa cách ứng xử theo lối truyền thống của mình là “im lặng”. Từ khi sự kiện bung ra tới nay người ta chỉ thấy có “thư chúc mừng” của HĐGMVN cho chính vị Chủ Tịch của mình là có lên quan đến sự kiện.

Nhưng trong bối cảnh hiện nay “im lặng” không phải là “vàng” nữa khi mà “một trang sử buồn cho Giáo Hội Việt Nam và cách riêng, cho Tổng giáo phận Hà Nội” đã mở ra (cũng vẫn theo nhận định của giám mục Nguyễn Chí Linh ) với khởi đầu là một lễ tạ ơn chua chát, đau lòng, rồi lễ chúa Jê-Su lên trời vắng bóng tân Tổng Giám Mục làm chủ tế, vắng bóng giáo dân sốt sắng mộ đạo, cái còn đó vẫn là những băng rôn, biểu ngữ tôn vinh TGM Ngô Quang Kiệt. thánh lễ nhận TGP của TGM Nguyễn Văn Nhơn cũng không tổ chức …Những giáo dân Hà Nội cho biết họ sẽ “tiếp tục như vậy cho tới ba năm nữa

Cái lo ngại  nhất của các đấng, bậc trong Giáo Hội chính là sự phân hoá trong nội bộ Giáo Hội. Trong bài “tinh thần Ngô Quang Kiệt”-cuộc canh tân giáo hội bắt đầu chúng tôi cũng đã có nhận định về một viễn cảnh không xa   “Thiên chúa Giáo miền bắc Việt Nam chỉ còn là một tín ngưỡng tại gia
Nhưng ngay cận cảnh đây một tình huống mang những nét “cát cứ tôn giáo” đã xuất hiện, tức là “tinh thần Ngô Quang Kiệt “ cùng những giá trị “tông giáo chân chính” sẽ phát triển, tồn tại theo cách riêng ở từng giáo phận, giáo xứ, thậm chí các cộng đoàn, các giáo họ. Cơ cấu tầm cao như Tổng Giáo Phận, HĐGMVN chỉ còn là tượng trưng, hình thức, mang tính giao đãi…để có mũ, áo, ghế, gậy  trong đại lễ 1000 năm Thăng long, trong đưa đón bang giao với Toà Thánh, trong nghênh đón Giáo Hoàng sang thăm Việt Nam (nếu có). Thế thì cái thông điệp “mầu nhiệm-sứ vụ-hiệp thông” của năm thánh 2010 hoàn toàn phá sản.

Toàn thể HĐGMVN, các đấng bậc cao trọng của giáo hội có nhìn thấy cái viễn cảnh và cận cảnh này không? có còn trách nhiệm không? có còn bản lĩnh, lòng can đảm của một Ki-Tô hữu ? Bởi để vượt qua “trang sử buồn” này đòi hỏi phải có một tầm nhìn, một trách nhiệm, và cả lòng can đảm nữa.

Cần nhận thấy rằng phản ứng bùng lên của giáo dân là đúng đắn, là chính đáng, là phản ứng của nhân dân bị đoạ đầy dưới gót sắt của chế độ Cộng Sản vô thần, nghĩa là giáo dân đang cùng nhịp bước với cả dân tộc, cái còn lại là HĐGMVN các đấng bậc, giáo sĩ, linh mục có đồng hành cùng giáo dân, cùng dân tộc hay không?

Với cuộc “lội ngược dòng” đẫm nước mắt của giáo dân Hà Nội đi tìm“công lý, sự thật” tìm “chủ chăn đích thực” ta đã thấy rõ ai là kẻ lo sợ nhất.

Hồ Học-Trần Trung Luận

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.