Xin hãy hiểu cho Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt

Tháng Tám 31, 2010

Đã gần một tháng, kể từ ngày Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt về Đan viện Châu Sơn. Sự kiện này, như đã thấy, trở nên một dấu chỉ, một sự khích lệ cho dân Chúa, cho những người yêu chuộng công lý và hòa bình. Bởi biểu tượng của công lý – Đức Cha Kiệt – đã trở về Việt Nam.

Như tôi biết, nhiều giáo dân sau khi nghe tin Đức Cha Kiệt trở về đã đi lễ trở lại và giữ đạo hẳn hoi. Nhiều người đã bật khóc khi nghe tin Đức Cha Kiệt trở về… Có thể nhiều vị sẽ cười những giáo dân ấy rằng, họ giữ đạo vì Đức Cha Kiệt, nhưng nếu vì một Mục tử biết nói lên những điều cần thiết cho giáo hội và xã hội hôm nay mà giữ đạo thì âu cũng là điều phải lẽ. Các vị Mục tử phải trở nên dấu chỉ và niềm tin vào Chúa cho giáo dân, đó cũng là điều mà mỗi vị Mục tử phải suy nghĩ, hành động và cố gắng mỗi ngày. Nếu 6 triệu giáo dân Việt Nam, vì những vị Mục tử của mình mà tin kính Chúa, giữ đạo mỗi ngày sốt sáng hơn, biết xả thân vì tha nhân, vì quốc gia, dân tộc hơn… thì đó là cái phúc của Giáo hội Việt Nam. Nhưng nếu như còn nhiều vị Mục tử làm cho giáo dân phải vấp phạm, giảm sút niềm tin hay chẳng còn nhận thấy các vị là những “Đấng thay mặt Chúa” thì các vị Mục tử phải sám hối lại mỗi ngày về tư cách của mình, đặt mình trước mặt Chúa xem liệu mình có còn xứng đáng là Mục tử của giáo dân Việt Nam nữa hay không! Đó là điều cần thiết!

Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt với trẻ em

Trở lại chuyện Đức Cha Kiệt… Có lẽ, nhiều đoàn giáo dân đã rất thất vọng khi đi cả trăm cây số về Đan viện Châu Sơn (Nho Quan – Ninh Bình) mà không được gặp Đức Cha Kiêt. Thậm chí có những đoàn tín hữu đã khóc, gào lên “Cha ơi!” rất tha thiết, nhưng Ngài vẫn bước đi “đầu không ngoảnh lại”! Phải chăng Ngài không còn tha thiết với giáo dân của mình? Phải chăng Ngài đã chẳng còn để ý gì khác? Phải chăng Ngài không còn quan tâm đến những gì đang diễn ra? Xin thưa: với trái tim Mục tử nhân lành, Ngài vẫn là Đức Cha Kiệt như khi còn làm Tổng Giám mục Hà Nội!

Tôi may mắn đã được gặp Ngài lâu giờ vào một buổi chiều êm ả trung tuần tháng 8. Vẫn phong thái bình tĩnh, vẫn giọng điệu ôn tồn, vẫn nhiệt huyết nóng hổi… Ngài vẫn giữ cho mình một phong cách và tinh thần “Ngô Quang Kiệt”! Có lẽ, điều Ngài trăn trở thì vẫn rất nhiều, và mong ước của Ngài cho giáo hội, cho đất nước vẫn luôn canh cánh hàng đêm.

Chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều về giáo hội, về xã hội và cả những ưu tư, trăn trở của hàng triệu giáo dân Công giáo Việt Nam. Thật ra, Ngài vẫn lắng nghe, vẫn dõi theo từng biến chuyển của giáo hội, vẫn ưu tư mỗi khi có những tiếng nói quan tâm đến Ngài, quan tâm đến hiện tình giáo hội. Tôi thấy nơi Ngài sự lạc quan, niềm tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng… Chỉ một vị Mục tử với đời sống nội tâm sâu sắc mới có thể có những tâm tình và thái độ đó ngay cả trong lúc gian nan…

Cuộc nói chuyện của chúng tôi được phụ họa bởi tiếng chim, tiếng gió trong Đan viện Châu Sơn… Một khung cảnh thanh bình khiến tấm lòng của một người từng chịu nhiều sóng gió chắc cũng ấm lại. Ngài nói rằng: “Tất cả những gì cần nói, cần làm, Cha đã nói, đã làm rồi”! Phải, tôi thực sự không dám đòi hỏi gì thêm nữa nơi Ngài, tôi muốn Ngài được bình an, để tích thêm sinh lực cho những tháng ngày sắp tới, theo như ý định của Chúa quan phòng, mặc dù tôi không hiểu được chương trình của Chúa!

Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đi xuồng thăm giáo dân bão lụt tại Đồng Chiêm

“Điều cần thiết nhất cho đất nước, cho giáo hội Việt Nam hiện nay chính là sự thật. Vì thiếu sự thật, người ta không dám nói thật với nhau, không dám tin tưởng nhau…” – Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt

Nhìn phong thái của Ngài trong từng lời nói, từng cử chỉ… tôi hiểu được Ngài đang hy sinh và an vui với những hy sinh ấy! Điều Ngài mong muốn, ấp ủ thì còn rất nhiều… nhưng tôi tin chắc, Ngài đã chiến thắng, chiến thắng mọi trở ngại đến từ nhiều phía, và quan trọng hơn hết, Ngài chiến thắng chính bản thân mình.

Tôi hy vọng và mong muốn mọi giáo dân Việt Nam, nếu còn yêu mến Ngài, xin hãy để Ngài có thời gian nghỉ ngơi sau những truân chuyên mà Ngài, với tư cách là Mục tử nhân lành, sẵn sàng thí mạng sống vì đoàn chiên, đã phải chịu đựng.

Cuộc sống thanh bình, huynh đệ trong Đan viện Châu Sơn thực sự đang là động lực giúp Ngài thanh tịnh tâm hồn. Thánh lễ vào lúc 5g30 chiều mỗi ngày của Ngài thực sự là lương thực linh thiêng cho tâm hồn Ngài. Có thể rồi đây, Ngài sẽ thực sự thâm nhập vào đời sống “lao động” của Đan viện, nhưng tinh thần cầu nguyện mà Ngài vẫn luôn có sẽ giúp Ngài an vui, cho dù còn nhiều lắng lo, trăn trở cho giáo hội và xã hội. Tinh thần phó thác vào Chúa quan phòng nơi Ngài sẽ chẳng bao giờ làm Ngài mất hy vọng vào những điều tốt đẹp sẽ đến, cho dù có chậm trễ đôi chút.

Tôi xin giáo dân Việt Nam hãy thêm lời cầu nguyện cho Ngài… Tôi biết chắc rằng: hầu hết các Giám mục miền Bắc vẫn bằng cách này hay cách khác đồng hành với Ngài, bên cạnh Ngài trong lời cầu nguyện, hay trong các cuộc viếng thăm không một dòng tin tức hay hình ảnh… Xin hãy để cuộc sống cầu nguyện của Ngài tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta trên con đường tìm về sự thật là Thầy Giê-su chí thánh!

Rồi đây Ngài sẽ ân cần tiếp xúc đoàn con cái khắp nơi về với Ngài trong Đan viện Châu Sơn, nhưng chắc chắn không phải thời điểm hiện tại. Nên, nếu có một lúc nào đó Ngài phải yên lặng bước đi, không tiếp xúc với con cái của mình theo từng đoàn đến Đan viện, xin mọi người hãy hiểu rằng: trái tim Ngài đang thổn thức, và cũng có thể là đang rỉ máu! Nhưng tất cả mọi điều Ngài làm, dù có vẻ là vô tâm, nhưng Ngài đang nghĩ cho đại cuộc, cho lợi ích chung của giáo hội…

Tôi sẽ nói điều này với Ngài trong lần gặp tới…

Thuận Tâm


Kịch bản nào cho kỳ họp HĐGMVN sắp tới?

Tháng Tám 30, 2010

Theo thông báo mới nhất, kỳ họp HĐGMVN thường niên lần II năm nay sẽ được tổ chức tại Sài Gòn từ 4 – 8/10/2010.

Sau những biến động trong Giáo Hội Việt Nam thời gian qua, nhiều người công giáo thành tâm thiện chí mong muốn đây sẽ là kỳ họp khai mở một giai đoạn mới trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Tiếng nói của người giáo dân sẽ được các đấng bậc trong Hội Thánh lưu tâm đưa vào bàn nghị sự làm tiền đề cho những quyết sách định hướng cho Giáo Hội Việt Nam trong tương lai?

Người khác thì lại cho rằng, sau những gì đã bị bạch hóa, kỳ họp này sẽ là một kỳ họp mà “dàn đồng ca áo tím” với chủ trương “thỏa hiệp và câm nín chính là đường hướng của Công đồng Vatican II” sẽ không còn sức để “khuynh loát” –  từ dùng của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh – và một chương mới sẽ mở ra cho Giáo hội Công giáo Việt Nam? Bởi người ta vẫn tin vào sự thật sẽ giải thoát cho Giáo hội chúng ta.

Tuy nhiên, những diễn biến đang xảy ra trong Giáo Hội, với “dàn đồng ca áo tím” hiện diện cách đặc biệt trong thánh lễ phong chức đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp – giáo phận Vinh và cuộc tọa đàm “Chân dung một vị Mục tử” vừa được Câu Lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình tổ chức nhằm chứng minh đường lối “thỏa hiệp và câm nín kiểu Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình” thích hợp với lập trường của Công đồng Vatican II.

Hội Đồng GMVN bay ra Hà Nội, xếp hàng "chào" Thủ tướng VN sau khi họp HĐGMVN tại Vũng Tàu

Với lá thư Mục tử tháng 9/2010 của Đức Hồng y G.B Phạm Minh Mẫn kêu gọi người tín hữu trở thành người “công giáo và công dân tốt” – từ ngữ mà dạo gần đây chính quyền cộng sản thường dùng để nói về người công giáo… thì nhiều người e ngại, trong cuộc họp HĐGMVN tới đây, không biết kịch bản nào sẽ được “dàn đồng ca áo tím” đưa ra để tiếp tục lập trường “thỏa hiệp với cộng sản, câm nín trước tội ác bạo quyền” mà các ngài đã quyết chọn?

Trong cuộc họp HĐGMVN vào tháng 10 tới đây, một điều nữa mà người tín hữu Việt Nam đang quan tâm, đó là đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt – đương kim Tổng Thư ký HĐGMVN, sẽ tham dự kỳ họp này thế nào?

Đức TGMHN Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN đã không hề lên tiếng trước những vấn nạn của giáo hội ngay trong nhiệm kỳ của mình sẽ tiếp tục giữ chức Chủ tịch HĐGMVN khóa tới?

Trong kỳ họp HĐGMVN lần trước, tháng 4/2010, vì lý do “sức khỏe”, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã không thể tham dự kỳ họp. Tuy nhiên, có một điều mà ít người biết, đó là ngay trước kỳ họp HĐGMVN, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã viết một bức tâm thư trải nỗi lòng của ngài trước các Đức giám mục Việt Nam và gửi tới Đức cha Giuse Võ Đức Minh – Phó Tổng thư ký HĐGMVN để đưa ra thông qua HĐGMVN, một bức thư điện tử khác chứa đựng nội dung mà theo ngài cần phải được bàn luận tức khắc trong khóa họp của HĐGMVN.

Ngay sau đó, bức thư được đức cha Giuse Võ Đức Minh chuyển tới xin ý kiến đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn – Chủ tịch HĐGMVN. Nhưng đến đó thì bức thư đã bị bức tử và bức thư này sau đó đã không được đưa ra bàn luận trong kỳ họp tháng 4/2010?

Theo thông tin chúng tôi nhận được, sau khi các thông tin đã bị bạch hóa, thay vì lắng nghe nỗi lòng của người giáo dân, thay vì phải sám hối theo đúng tinh thần của Năm thánh 2010, nhóm các giám mục thỏa hiệp càng liên kết với nhau và quyết tâm thực hiện cho bằng được chủ trương “thỏa hiệp” đã được vạch sẵn.

Các giám mục trong “dàn đồng ca” này đang tìm hết mọi cách để chứng minh cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam thấy rằng chủ trương thỏa hiệp là “đúng đắn, hợp với Công đồng Vatican II và đôi bên Nhà thờ – Nhà nước cùng có lợi”.

TGMHN, Chủ tịch HĐGMVN Nguyễn Văn Nhơn chào thăm UBTƯ Mặt trận Tổ Quốc VN ngày 23/8/2010

Khi cả một HĐGMVN nhất trí thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác thì nhà nước CSVN được lợi thì đã nhìn thấy sẵn, nhưng Nhà thờ có lợi hay không lại là chuyện khác. Nếu có thì có lợi cho ai? Chắc chắn không phải là giáo dân, những tầng lớp bần cùng nghèo khổ trong xã hội mà họ là một phần nhỏ của phần lớn dân chúng Việt Nam đang rên xiết dưới bạo lực, bạo quyền và tước đi quyền làm người của họ. Cũng không hề có lợi cho các vị trong hàng giáo phẩm sống đúng mực của những người tu hành, dấn thân cho Thiên Chúa và tha nhân.

Có một điều chắc chắn rằng, sau những gì đã và đang xảy ra trong Giáo hội, kỳ họp HĐGMVN vào tháng 10 tới đây, sẽ không còn là một cuộc họp êm ả, với “nhóm khuynh loát” làm chủ diễn đàn như các kỳ họp trước. Bởi dù có cố tình im lặng cho êm chuyện và “đoàn kết”, không thích lớn chuyện hoăc cãi cọ, thì các đức giám mục can đảm, thật sự dấn thân cho Thiên Chúa, cho Giáo hội sẽ không thể không thấy trách nhiệm của mình rằng: “Đồng lõa với những việc đó cũng là tội ác”.

Tuy nhiên, nếu một số các vị giám mục sống đúng tinh thần Phúc âm, hiến tế chính bản thân mình và hi sinh cho những người đau khổ, những vị vừa qua đã ủng hộ lập trường của Đức cha Kiệt, vẫn im lặng và chủ trương “làm thinh cho nó lành” như xưa nay vẫn có, thì xem ra nhóm các Giám mục “thỏa hiệp” vốn đang chiếm số đông trong HĐGMVN, sẽ lại thắng thế.

Theo chúng tôi được biết có một kịch bản do dàn đồng ca áo tím thể hiện đã bắt đầu được dàn dựng công phu.

Sau một thời gian dài im tiếng, hoặc “lên tiếng như không lên tiếng”, kỳ họp này chắc chắn HĐGMVN buộc phải lên tiếng về các sự kiện diễn ra trong Giáo Hội thời gian qua và trong Thư chung của HĐGMVN kỳ này không thể không nhắc tới các sự kiện đã xảy ra vừa qua nếu HĐGMVN không muốn một lần nữa chôn mình sâu đưới lớp bùn dày phủ lên uy tín.

Nhưng lên tiếng thế nào để chứng minh cho công luận và giáo dân thấy rằng dàn “đồng ca áo tím”, đặc biệt “nhóm tam ca áo tím” hoàn toàn trong sạch không như những gì truyền thông công giáo đã công bố trong thời gian qua. Nhất là cần phải lên tiếng thế nào để từ nay có thể “bịt miệng truyền thông”, để có thể thoải mái thực hiện đường hướng khiếp nhược, thỏa hiệp đã vạch ra mà không ngại bất cứ sự cản trở nào. Khi đó, không cần một đàn chiên đông đúc, đạo đức mà chỉ còn lại đàn cừu ngoan ngoãn được dắt đi.

Đây quả là thâm ý cao siêu, nhưng đây cũng lại là điều không dễ dàng thực hiện.

Tuy nhiên, con cái thế gian thì luôn khôn ngoan hơn con cái sự sáng. Theo dự định, nhóm đồng ca sẽ thuyết phục các giám mục đồng ý với nhau rằng trong kỳ họp HĐGMVN lần trước không hề có các “cuộc mặc cả gay gắt” như trang nuvuongcongly.net đã loan trong bản tin “Hội đồng Giám mục VN đang họp và những cuộc mặc cả gay gắt”. Cũng như một vài vị giám mục đã cố tình nói rằng “trong cuộc họp đó làm gì có cuộc mặc cả nào?”.

Thực chất, đây là việc cố tình “chẻ sợi tóc ra làm tư” để tìm một lý do nhằm bắt bẻ người khác để che lấp một sự thật không thể chối cãi về những cuộc mặc cả gay gắt với nhà nước CSVN trong các vấn đề liên quan đến GHVN thời gian qua, nhất là trong “Sự kiện Ngô Quang Kiệt”.

Những cuộc mặc cả gay gắt không chỉ diễn ra trước đó mà ngay cả sau khi Đức cha Ngô Quang Kiệt đã được Vatican chấp nhận từ chức để Đức cha Nguyễn Văn Nhơn vừa nhậm chức Tổng Giám mục Phó Hà Nội được mấy ngày lên chức Tổng Giám mục.

(Vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày trong một dịp thuận tiện khác, nhưng những người theo dõi thông tin có hệ thống đã không khó nhận thấy những cuộc mặc cả đó như thế nào qua các phương tiện truyền thông công giáo. Điển hình như mới đây là cuộc gặp gỡ vòng 2 giữa HN và Vatican).

Vấn đề mấu chốt là ngoài dàn đồng ca áo tím đang chiếm số đông và đang giữ các vị trí quan trọng trong Giáo hội Việt Nam, phần lớn các giám mục Việt Nam còn lại vì bản tính hiền lành, muốn “yên cho lành”, nên cũng không hiểu được nội tình, sự thật “thực” của nội bộ HĐGMVN. Do đó, các ngài sẽ khó phản bác được những gì mà các ngài không biết và không chứng kiến. Điều này thể hiện rõ trong các bài phỏng vấn Đức cha đương kim Phó Chủ tịch HĐGMVN Giuse Nguyễn Chí Linh rằng “ngài rất bất ngờ” tuy vẫn đoán biết rằng “có một thế lực nào đó đang chống phá giáo hội”.

Với kịch bản đó, các GM sẽ phải đồng ý một Thư Chung, nhằm “giải độc” cho những âm mưu đã có và sẽ có để “dàn đồng ca” rộng tay hoạt động.

Về vấn đề nhân sự, với thế áp đảo số đông, với ý định tiếp tục con đường thỏa hiệp đã chọn và nhắm chứng minh cho cộng đồng Dân Chúa thấy không hề có sự rạn nứt nào trong nội bộ HĐGMVN, nhóm các giám mục thỏa hiệp phải làm thế nào để tiếp tục giữ các vị trí chủ chốt trong ban lãnh đạo HĐGMVN. Có như thế các vị mới có thể tiếp tục lèo lái con thuyền Giáo Hội tới với bến “xã hội chủ nghĩa vinh quang”.

Trong hoàn cảnh, dàn đồng ca áo tím chiếm số đông và hiện đang giữ các chức vụ quan trọng, số các vị giám mục còn lại không nhiều và xưa nay hầu như ít có tiếng nói trong các kỳ họp HĐGM, thì việc cơ cấu nhân sự nhằm phục vụ cho mục đích “tiếp tục chủ trương thỏa hiệp” của dàn đồng ca áo tím là điều hết sức khả thi. Các vị giám mục theo tinh thần của đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, dù có cầm lá phiếu bầu trong tay trong kỳ bầu cử sắp tới, thì cũng khó có thể thay đổi được tình hình do bởi thế yếu.

Một dàn lãnh đạo HĐGMVN mới đã được dự định có thể sẽ là: Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn tiếp tục giữ chức vụ Chủ tịch HĐGMVN, chức danh Phó chủ tịch sẽ được trao cho đức cha Giuse Võ Đức Minh, Tân giám mục giáo phận Vinh Phaolo Nguyễn Thái Hợp với tiếng tăm về khả năng tri thức và mới mẻ trong HĐGMVN, khéo ăn nói… sẽ được trao cho chức vụ Tổng Thư ký. Một số ban bệ trong HĐGMVN sẽ được cơ cấu lại sao cho thích hợp với hoàn cảnh tình hình. Một số vị vốn không nhất trí với đường lối thỏa hiệp, có hành động và phát ngôn mạnh mẽ, sẽ được mời ra ngoài “ngồi chơi xơi nước”.

Nếu sự thật “thực” diễn ra đúng như kịch bản hiện nay “dàn đồng ca” đã soạn sẵn cho kỳ họp HĐGMVN sắp tới, thì chẳng còn gì để mà hy vọng một tương lai tốt đẹp cho Giáo hội Công giáo Việt Nam. Từ đây, GHCGVN sẽ mạnh mẽ “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc” vào con đường quốc doanh hóa. Một giáo hội mô hình Trung Quốc đã và sẽ hình thành trong lòng GHCGVN là điều không xa.

Lời kêu gọi “Giáo hội Việt Nam chân thành sám hối” mà các vị đã mạnh mẽ lên tiếng trong đêm khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện (24/11/2009), bên mộ các thánh Tử đạo Việt Nam, sẽ chỉ là một “vở diễn” của những “Sơn đông Mãi võ” của thời hiện đại.

Giáo hội Việt Nam sẽ lại tiếp tục “đồng hành bên lề dân tộc”“sống phúc âm giữa lòng đảng cộng sản” như vật trang trí cho chế độ độc tài toàn trị, bỏ qua tiếng kêu khóc của người nghèo, của người cùng khổ.

Con đường đưa Giáo hội Công giáo Việt Nam “tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc” lên chủ nghĩa xã hội theo định hướng “Phúc âm, Dân tộc, Chủ nghĩa Xã hội”, cũng sẽ chẳng còn bao xa.

30/8/2010

Nữ Vương Công Lý


Góp ý với Đại hội Dân Chúa: Phân hóa

Tháng Tám 30, 2010

Hiện tình Hội Thánh Việt Nam có ánh sáng và cũng có bóng tối. Một bóng tối, mà tôi cho là nguy hiểm nhất, chính là sự phân hoá. Sự phân hoá thường xảy ra trong mọi thời. Nhưng nay nó đang trở nên nặng nề và lan rộng.

Nguyên nhân

Mỗi người là một cấu trúc riêng, về sinh lý, tâm lý và tinh thần. Cấu trúc riêng đó làm nên tính tình riêng. Tính tình riêng người này ngả mạnh về khuynh hướng này. Tính tình riêng người kia lại nghiêng chiều về hướng kia. Bá nhân bá tính. Mỗi người có những phần riêng tư của mình.

Ngoài ra, mỗi người là một lịch sử. Một lịch sử, mà nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn đều mang theo những biến cố riêng. Mỗi biến cố đều để lại dấu vết, gây nên những chuyển biến trong con người, từ tình cảm đến tư tưởng. Với những chuyển biến đó, lịch sử của từng giai đoạn tác động không ngừng đến toàn thể con người từ sức khoẻ thể xác, đến sức khoẻ tâm linh, làm nên một động lực riêng.

Hơn nữa, nền giáo dục, phong hoá và nếp sống của tập thể hoặc giai cấp cũng ảnh hưởng nhiều đến tư duy của mỗi người, khiến họ có thể có những chọn lựa riêng, không giống những người khác.

Chính nhu cầu sống của mỗi người cũng thường phát sinh ra những tình cảm, ước muốn và tư tưởng riêng. Thí dụ để sống thì phải đấu tranh. Để đấu tranh có hiệu quả, thì phải phe phái, mưu cơ, đôi khi cần có lãnh tụ. Do đó mà họ có những chủ trương, đường lối riêng.

Trên đây chỉ là tóm lược rất vắn một số nguyên nhân thường dẫn tới phân hoá trong cộng đoàn.

Bây giờ, với cái khung đó, chúng ta nhìn vào Hội Thánh Việt Nam.

Chúng ta thấy mỗi miền Bắc, Trung, Nam đều có những nét riêng. Cũng thế, mỗi giáo phận cũng có những nét riêng. Nói bạo một chút, thì mỗi giáo xứ cũng có những nét riêng. Mỗi tổ chức, mỗi nhóm cũng có những nét riêng. Mỗi nơi có lịch sử riêng của mình, với những hoàn cảnh riêng, với những nhu cầu riêng, với những tập quán riêng.

Nếu những nét riêng đó là những màu sắc đẹp, bổ túc cho nhau, thì bộ mặt Hội Thánh Việt Nam sẽ rất rạng rỡ. Nhưng nếu xảy ra trường hợp những nét riêng đó quay ra chọi nhau, thậm chí tìm loại trừ nhau, thì đó là phân hoá.

Phân hoá càng sẽ trở nên trầm trọng, khi nó đưa đến những hậu quả xấu.

Kinh nghiệm của các nước Công Giáo lâu năm cho thấy: Khi đạo đức xuống là lúc các thứ giáo phái sai lạc, các phong trào xấu, các thứ chủ nghĩa thế tục tràn vào nội bộ Hội Thánh. Nếu chính lúc đó, hàng giáo phẩm và giáo sĩ lại suy giảm uy tín, thì Hội Thánh sẽ bị phân hoá dữ dội. Chẳng cần chính quyền nào bắt bớ Hội Thánh, mà chính nội bộ Hội Thánh sẽ bắt bớ Hội Thánh.

Hậu quả xấu

– Phân hoá dễ gây nên hoang mang. Rất nhiều người đau xót, không biết đâu là đúng, đâu là sai. Đau xót đôi khi dẫn tới chán nản.

– Phân hoá dễ làm cớ cho nhiều người giảm lòng tin đối với các đấng bậc giữ trách nhiệm soi sáng cho đoàn chiên.

– Phân hoá dễ phát sinh những làn sóng ngầm độc hại. Khi dư luận để tự do trôi nổi, tình hình sẽ dễ bị những người cơ hội, thủ đoạn lợi dụng. Những ai nông nổi sẽ dễ bị lôi cuốn vào đủ thứ suy đoán và bịa đặt.

– Phân hoá làm cho nhiều người mất phương hướng, nhất là mất sự bình an tâm hồn. Họ không còn tập trung vào bổn phận, mà lại chạy theo những tiên tri giả, những thầy dạy giả.

– Phân hoá cản trở việc rao giảng Tin Mừng. Bôi lọ nhau, kết án nhau, loại trừ nhau nơi những người đạo Chúa, đó có phải là dấu chỉ của Tin Mừng hay là phản Tin Mừng ?

– Phân hoá ở cấp cao dù chỉ là theo dư luận đồn thổi, sẽ làm cho uy tín của Hội đồng Giám mục Việt Nam bị giảm sút. Vị trí của Hội Thánh trong nước bị rớt xuống một cách thê thảm.

– Phân hoá nguy hiểm nhất không phải là phân hoá trong lãnh vực chính trị, mà là phân hoá trong lãnh vực đạo đức.

Báo động

Đang khi nhiều người vốn nhìn Hội Thánh Việt Nam là Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô, thì cũng nhiều người lại nhìn Hội Thánh Việt Nam là Hội Thánh của nhân vật này, nhân vật kia.

Đang khi nhiều người luôn xây dựng đời sống đạo trên nền tảng Phúc Âm, Thần Học, Công Đồng, Giáo Luật, thì cũng nhiều người lại xây dựng đời sống đạo một cách tuỳ tiện theo ý riêng mình, dựa trên những ý kiến của phe này nhóm nọ.

Đang khi nhiều người coi đời sống nội tâm là cần thiết, thì cũng nhiều người lại bỏ đời sống nội tâm, để chạy theo đời sống bên ngoài một cách mù quáng.

Đang khi nhiều người vốn tu thân theo con đường tu đức Phúc Âm, sống sự từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Chúa, thì cũng nhiều người đang biến đời tu thành một lối sống hưởng thụ, buông thả.

Khi đạo đức đã xuống dốc, thì sự phân hoá sẽ nảy nở mạnh trong đời sống đức tin, đời sống luân lý, đời sống tu trì.

Kinh nghiệm của các nước Công Giáo lâu năm cho thấy: Khi đạo đức xuống là lúc các thứ giáo phái sai lạc, các phong trào xấu, các thứ chủ nghĩa thế tục tràn vào nội bộ Hội Thánh. Nếu chính lúc đó, hàng giáo phẩm và giáo sĩ lại suy giảm uy tín, thì Hội Thánh sẽ bị phân hoá dữ dội. Chẳng cần chính quyền nào bắt bớ Hội Thánh, mà chính nội bộ Hội Thánh sẽ bắt bớ Hội Thánh.

Ước mong

Vì thế, ước mong tha thiết mà tôi xin gởi tới Đại Hội Dân Chúa là hết sức tránh nảy sinh thêm những phân hoá mới, trái lại hết sức chỉnh đốn lại đời sống đạo đức trong Hội Thánh Việt Nam, nhờ đó, mà bớt đi những phân hoá tai hại.

Hội Thánh Việt Nam chúng ta rất cần tái-Phúc-Âm hoá. Việc đào tạo những người đào tạo phải chăng là một vấn đề ưu tiên cho chương trình tái-Phúc-Âm hoá, để có thể cộng tác với Chúa Thánh Thần một cách có hiệu quả.

Gm. GB. BÙI TUẦN


Phỏng vấn Linh mục Chân Tín về một số vấn đề của GHCGVN

Tháng Tám 29, 2010

Như Nữ Vương Công Lý đã đưa tin và có bài bình luận, ngày 27/8/2010, câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình đã tổ chức buổi tọa đàm “Chân dung vị mục tử” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố TGM Phalo Nguyễn Văn Bình.

Để chuẩn bị cho cuộc tọa đàm này, linh mục Chân Tín, người đã một thời làm cố vấn cho Đức TGM Phaolo Nguyễn Văn Bình, người am hiểu về TGM Phaolo Nguyễn Văn Bình rất sâu sắc đã gửi đến một bản tham luận.

Tiếc thay, thay vì một buổi thảo luận trong tinh thần của sự thật, chân lý, ban tổ chức hội thảo đã thực hiện theo sách lược nhà cầm quyền CSVN vẫn hay dùng: Cắt xén, bịt miệng.

Trước khi cuộc tọa đàm khai mạc, Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp đã đề nghị linh mục Chân Tín cắt một số đoạn trong bản tham luận của mình. Nhưng linh mục Chân Tín đã không đồng ý vì những ý kiến được viết ra đã qua nhiều suy nghĩ cân nhắc cẩn thận.

Vì vậy, bản tham luận đã không được trình bày tại cái gọi là “Cuộc tọa đàm”.

Thiển nghĩ, nếu bản tham luận có những vấn đề chưa đúng, cũng cần có sự phân tích và mổ xẻ để đi tìm đến sự thật. Tuy nhiên, ở đây BTC Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình đã không làm như vậy, vẫn vận dụng phương cách hành động mà nhà cầm quyền CSVN thường làm là cắt xén hoặc bịt miệng người phát biểu, bất chấp sự thật ở đó ra sao.

Qua sự kiện này, người ta càng thấy rõ hơn, mục đích của việc tổ chức cái gọi là “tọa đàm” này, nhằm mục đích đưa lên hình ảnh một Đức TGM Nguyễn Văn Bình với những lời lẽ tô vẽ, nhằm dựng lên một hình tượng, làm bình phong che đỡ cho các Giám mục khiếp nhược  và thỏa hiệp với cộng sản núp bóng và đưa GHVN đi theo đường hướng quốc doanh hóa.

Mời quý vị xem video phỏng vấn linh mục Chân Tín về vấn đề này và một số vấn đề khác liên quan đến GHVN.


http://www.youtube.com/v/z4bwDwr-tNQ?fs=1&hl=en_US

Nữ Vương Công Lý


Việc đấng bậc mình

Tháng Tám 29, 2010

Trong Sắc-lệnh về Tông-đồ Giáo Dân của Công-đồng Vatican II đã mở đầu “Thánh Công Đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc Tông-đồ của Dân Thiên Chúa nên chú tâm hướng về các Ki-tô hữu giáo dân, những người có phần riêng biệt và cần thiết trong sứ-mệnh của Giáo-hội như đã đuợc nhắc đến trong những văn-kiện khác” (Phần 1, câu 1 và 2). Rồi Công-đồng dựa trên căn-bản Lời Chúa trong Mat-thêu 11, 4-5 thuật lại câu nói của Đức Ki-tô trả lời cho môn-đệ của ông Gio-an Tẩy-giả khi ông này đang ngồi tù vì dám lên tiếng cảnh-cáo hành-vi sai trái của người lãnh-đạo: “Đức Giê-su trả lời “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què đuợc đi, người cùi đuợc sạch, kẻ điếc đuợc nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo đuợc nghe Tin Mừng” trong Sắc-lệnh về Tông-đồ Giáo Dân thì Công-đồng gọi  những điều Đức Giê-su nhắn gửi này là “dấu chỉ của sứ-mệnh cứu-độ”.

Chẳng hiểu có sự gì khác nhau hay không về ý nghĩa giữa “sứ-mệnh cứu-độ” này theo Công-đồng với “sứ-vụ tôn-giáo” của nhiều các đấng bậc đang chăn dắt khối chiên cừu của Giáo-hội Việt-Nam như đức cha Bùi Văn Đọc đã nhân-danh tất cả để xác-nhận rằng Rõ ràng sứ mạng của chúng tôi là một “sứ vụ tôn giáo”, không phải là một nhiệm vụ chính trị, như Chúa Giêsu khẳng định trước mặt Philatô: “Nước Ta không thuộc về thế gian này”. Chủ chăn đã nói thế, hèn chi đàn cừu chẳng quan-tâm chi đến chuyện thế-gian cũng là có lý,  cho dù cái thế-gian này có một tập-đoàn chính-trị nắm quyền cắt đặt quá nhiều sự việc liên-hệ đến “sứ vụ tôn giáo” của các vị. Cái sự-vụ tôn-giáo mà quý vị lãnh-nhận thì ai cũng biết là thế nào rồi, nhưng đã làm ra sao và làm đưọc bao nhiêu thì không nhìn thấy đuợc, không biết đuợc vì nó dành cho những cái không thuộc về thế gian này. Còn lại thì, ai cũng thấy các vị bị lệ-thuộc vào cái thế gian này nhiều quá, nhận của thế gian này nhiều quá và ngay cả những cái đòi hỏi oan-nghiệt nhất của một tập-quyền gian-ác nhất thế gian cũng đã trói buộc quý vị vào một điều lệ bất thành văn là quy-chế XIN – CHO để quý-vị phải theo đó mà sống, mà thi-hành sứ-vụ tôn giáo. Chẳng hạn như… nhận hay không nhận bài sai hoán-chuyển hay bổ-nhiệm các vị; ký hay không ký những chiếu-khán xuất-ngoại cho quý vị đi nước ngoài thi hành sứ-vụ;  muốn các vị ở hay đi khỏi một giáo-phận; cho phép sống “sứ vụ tôn giáo” kiểu nhà nước mà không đuợc thi-hành sứ vụ tôn giáo theo huấn-thị của  Giáo-hội và rất nhiều cái quý vị xin mà không đuợc cho như được thoải-mái ấn-hành các sách Đạo nhưng lại phải nhận những cái họ cho khi không cần thiết để xin như giảng dạy chủ-nghĩa Mác-Lê  trong Đại chủng-viện…Cho nên, khi có ai viết gì hay nói gì thì chẳng qua cũng là thấy có thì nói có, không thì nói không mà thôi.

Một  đoạn khác, đoạn 8, câu 4 trong Sắc-lệnh về Tông-đồ Giáo Dân nói rõ hơn: “Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc  men, thiếu việc làm, thiếu giáo-dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục, thì ở đó bác-ái Ki-tô giáo phải tìm gặp, ân-cần săn-sóc, ủi-an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng….” Chẳng cần đuợc giảng dạy thì ai cũng có thể trả lời ngay  là mọi sự Công-đồng nêu trên đã có đủ ở  xã-hội Việt-Nam hiện nay và sứ-mệnh cứu-độ của Đức Ki-tô thì đang bị lấn-cấn bởi một sứ-vụ tôn-giáo của “chúng tôi” nhắm vào những sự không thuộc về thế gian này…Đây chính là những việc gọi là “việc đấng bậc mình” theo nghĩa của kinh bổn Nhà Đạo trong câu kinh ngày xưa người ta vẫn đọc trên đuờng theo chân quan-tài một người quá cố đến nghĩa-trang. Chỉ nhân giờ phút cách biệt giữa sinh và tử đó, người ta mới sám-hối, xét mình để thấy rằng đã sống kiểu “việc đấng bậc mình, coi như không phải….” (Kinh Lạy Chúa Ngôi Hai).

Vậy thì rõ-ràng là ai ở đấng bậc nào cũng đều có việc để phải làm cả. Việc đó là việc Tông-đồ. Đây không hẳn là việc bị giới hạn chỉ trong con số đọc cho nhiều kinh, “xem” cho nhiều lễ và ngồi chờ đến ngày về một nước không thuộc về thế gian này. Bởi vì nếu như sứ-mệnh cứu-độ qua việc rao giảng Tin Mừng không nhắm con người tại-thế, không đặt nặng về sự sống với những nhu cầu nhân-bản thì chắc Đức Ki-tô cũng không cần xuống cái thế-gian mà nước Người không thuộc về nó làm gì, không cần có những phép lạ cứu nhân độ thế và  chọn môn-đồ để phải hy-sinh chết treo khổ-hình, mà chỉ cần ngồi trên chín tầng mây xanh chỉ huy thiên-binh thiên-tướng thòng dây xuống điạ-ngục bắt hết quỷ lớn quỷ nhỏ là xong.

Thời gian gần đây, trước những diễn-biến ngoài xã-hội Việt-Nam liên- quan nhiều đến tinh-thần chính-thống của Giáo-hội Công-giáo và thái-độ cũng như phản-ứng của số lớn các vị giám-mục Việt-Nam, nhiều giáo dân và giáo-sĩ trong nước cũng như ngoài nước cảm thấy đã đến lúc phải nói lên nhận-thức của một người có đạo đã đuợc hấp-thụ giáo-lý cũng như thánh-truyền để phân-biệt đúng sai,  hơn thiệt  thì đó đây  cũng có vài ba lập luận đã chỉ dựa vào cách theo đạo tiền Công-đồng để đổ vạ cho những người này là gây chia rẽ, làm giảm uy-tín của  giám-mục; thậm chí còn chửi bới những giáo dân này là bất-hiếu bất-mục. Cái nhóm chữ này chỉ áp-dụng cho tương-quan giữa con cái với cha mẹ sinh ra theo huyết nhục và chẳng riêng gì thời phong-kiến, ngay bây giờ mà người con nào có những hành-vi đáng phải kết tội là bất-hiếu bất-mục cũng vẫn kể là đáng khinh hoặc chê trách. Nhưng ngoài gia-đình ruột thịt ra thì cái thành-ngữ này vô nghĩa hoặc có những lãnh vực người ta mượn đỡ để dùng thì cũng vẫn là một cách cưỡng-từ đoạt-lý. Theo văn-phong Nhà Đạo, khi giáo dân Việt-Nam xưng “con” với hàng giáo sĩ là vì  muốn bày tỏ lòng kính trọng chức thánh vị đó mang và cũng vì ngôn-ngữ Việt-Nam có nhân-xưng đại-danh-từ “con” dùng cho ngôi thứ nhất mà thôi. Cho nên khi càng muốn gán ghép tội này tội kia cho những người đã nói lên và nói giúp tiếng nói trung-thực của bao lương-tâm con người theo giáo-huấn của Hội-thánh thì càng chứng tỏ một nội-tình chẳng ra làm sao cả và nhất là vẫn giữ cái não-trạng thời Trung-cổ, vẫn khinh thuờng cộng-đồng tín-hữu chỉ ngu-ngơ như là những con cừu đần-độn.

Bởi vì, nếu các vị giám-mục Việt-Nam có uy-tín thực sự thì ai có khả-năng làm giảm nổi. Nếu các vị đồng lòng nhất-tề theo hướng đi Tông-truyền, theo đúng tinh-thần đuợc sai đi thì ai chia rẽ nổi. Chân-lý chỉ có một như hai với hai là bốn thì ai dám xuyên-tạc hay vu-khống…Vả chăng, những người viết kia có nói sai không, có đòi hỏi không chính đáng không và cho dù có vài ba người viết theo cách “bươi móc” thì những gì bị bươi ra có đúng không, có là những sự thật “thực” không? Và những người viết lên sự thực chẳng qua cũng chỉ là làm những việc theo đấng bậc mình, nếu không sẽ là thiếu sót và đây mới là việc sẽ phải đấm ngực ăn-năn vì Thiên Chúa đã ban cho tự-do, đã ban cho sự hiểu biết, cho lương-tâm cương-trực mà để uổng phí, giao cho các nén bạc tốt mà không sinh lời thì nhận lãnh ân-sủng cách nào đây?

Đã là con nhà có đạo, ai chẳng được ê-a sách bổn đồng-ấu thời năm bảy tuổi  nên ai cũng  thuộc từ lâu rồi…đức vâng lời ai cũng biết, tinh-thần hiệp-nhất ai chẳng ham….nhưng  một số phụ-đính lệch-lạc về đức vâng lời, về sự tuân-phục  phát sinh từ một thời phong-kiến tâm-linh thì đã theo thói quan-liêu xuống hố, theo thực-dân về Tây rồi; nếu đem điều này chòng chéo qua sự nọ thì đâu còn là niềm tin trong sáng đuợc mạc-khải bằng chính cái chết của Đức Ki-tô trên Thập-giá, cây Thập-giá tổ-phụ của cây Thánh-giá ở Đồng Chiêm. Những giáo dân tác-giả kia là chiên theo nghĩa bóng chứ không phải cừu theo nghĩa chính xác là con vật ù-lì phải chờ người chăn theo nghĩa đen nhất để xỏ mũi dắt đi theo kiểu cùng nhau đi hồng binh. Đức Ki-tô còn không gọi chúng ta là tôi tớ mà là bằng- hữu thì không ai có cái quyền coi chúng ta là con theo nghĩa đuợc sinh ra từ lòng mẹ rồi bắt cắm đầu hiếu thảo với những kiểu cha mẹ như một số “dân chi phụ-mẫu” đang có trong đạo cũng như ngoài đời tại xã-hội Việt-Nam hiện nay. Lại nữa, theo sứ-vụ tôn-giáo đuợc hưởng từ trước đến nay ở Việt-Nam, thì người  giáo dân tuy không đuợc học hỏi tí gì về các huấn-giáo của Hội-thánh như các văn-kiện của Công-đồng Vatican II hoặc các Tông-thư, Tông-huấn nhưng  lại đuợc trực tiếp cũng có, gián-tiếp thì nhiều hơn, dạy cho hiểu là chống cha tức nhiên chống Chúa và chống Giáo-hội cho nên họ chỉ không dám nói động đến hàng giáo-sĩ, chứ còn giáo dân mà viết bậy, viết láo thì  họ sợ ai mà tha cho, mà không lên tiếng phản-đối…

Đòi hỏi của Hội-thánh Chúa về những nhiệm-vụ tại-thế có nền tảng ngay từ khi Hội-thánh Công-Giáo chưa đuợc phôi-thai, từ thời I-sai-a với lời nói “Đẹp thay bước chân nguời đi loan báo Tin Mừng…” chứ đâu phải mới-mẻ gì cho cam và  đã được lập lại, đuợc nói rõ thêm bằng cả một  công-trình đuợc gọi là nguồn sáng mới với tinh-thần mới về tự-do và đối-thoại mà sao giờ này vẫn chưa sáng đến cộng-đồng dân Chúa ở Việt-Nam. Đây là mốc điểm  Giáo-hội  đặt lại thế đứng cho những thành-phần Dân Thiên Chúa đã từng bị quên lãng vào suốt thời gian xưa cũ. Thành ra, bây giờ đã là Thiên-niên-kỷ Thứ Ba và là thời-kỳ sau Công-đồng Vatican II đã nửa thế-kỷ mà sao vẫn còn những người có đạo cứ ngồi cú-rũ ôm khư-khư quyển sách bổn đồng-ấu với quan-niệm phân chia cấp bậc cao thấp giữa giáo-sĩ và giáo dân như trong “Tự Điển Biện Giáo Đức Tin Công Giáo” ghi rằng truyền lệnh là quyền của hàng giáo-sĩ và vâng lời là bổn-phận của giáo dân’ (DAFC, bộ II, cột 1769).

Khi nói lên những cái xấu, cái ác, cái sai lệch về một hướng tâm-linh không có nghĩa là làm cho bản-chất tốt lành của đời sống tâm-linh đó giảm sút hay xấu đi. Nhất là vào thời buổi này, thời buổi mà đâu đâu cũng lảng-vảng bóng dáng của sự dữ  như Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã khuyến-báo trong Tông-thư “Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến” rằng: “Trước ngưỡng cửa của một tân thiên-niên, Ki-tô hữu cần phải khiêm tốn đặt mình trước Nhan Chúa, xét mình về trách-nhiệm mà họ cũng phải gánh chịu đối với những sự dữ của thời-điểm chúng ta”…và cho dù như đức cha Bùi Văn Đọc phủ-nhận mọi trách-nhiệm nhân-văn và nhân-bản giữa xã-hội trần-thế mà chỉ  bảo-thủ một sứ-vụ tôn-giáo, thì các thế-lực trần-gian như  các chủ-nghĩa chính-trị phi-nhân, các phương-thức kinh-tế chỉ nhắm lợi-nhuận vẫn là đe doạ và nếu có dịp là đè bẹp mọi giá-trị  nhân-phẩm và đạo-đức. Chưa kể đến tình-trạng có khi vì nghĩ rằng để tránh đi tình-trạng này thì phải thoả-hiệp mà không có một hướng đi với những cây khổ-giá có Đức Ki-tô.

Vậy sứ-mạng của người Ki-tô hữu, của giáo dân, khi nhìn thấy những hiện-tượng này mà viết trong đức tin thì có quyền né tránh hay quên đi các vấn-đề mà Giáo-hội đã nêu ra như vậy không? Cho nên nếu cần làm động đến những bụi rậm bất-an của một khu rừng để bớt đi sự đe doạ của thú dữ thì tại sao lại trách những người  bứt dây vì theo đòi hỏi của việc đấng bậc họ, họ phải làm như thánh Gia-cô-bê nói: “Ai biết làm điều lành mà không làm là có tội”. Nói lên sự thật, dù là sự thật đau lòng vẫn còn hơn là che dấu nó trong sự phỉnh gạt qua cái vẻ ngoài hào-nhoáng mà bề trong thì có bao nhiêu chuyện chẳng nên để cho nó âm-ỉ phát sinh thêm sức tác-hại. Còn lại, tất cả đều tuỳ vào từng cá-nhân với từng tâm-hồn có trung-thực nhận lãnh và thi-hành đúng việc đấng bậc mình hay không chứ không thể lý-luận kiểu thiếu ý-thức trách-nhiệm là việc mình làm mà ảnh- huởng lại do người khác tạo nên.

Phạm Minh Tâm


Đưa vào cõi thơ: Tưởng nhớ anh Năm Cồn Dầu

Tháng Tám 29, 2010

Thi sĩ Paul Verlaine nói về Thi Ca: ”Có nhạc là trên hết – De la musique avant toute chose”! Bielinski thì: ”Trong thơ, đờiđời hơn cả cuộc đời. – Dans la poésie, la vie est plus vie que la vie même.” Còn Shelly thì: ”Những gì tốt nhất và đẹp nhất trên cõi đời này đều được thơ làm thành bất tử. – La poésie immortalise tout ce qu’il y a de meilleur et de plus beau dans le monde.”

”Có nhạc là trên hết” chẳng phải là tự tiện đem ”Cùng nhau đi Hồng Binh” vào Buổi Lễ Truyền Chức Linh Mục cho ba mươi ba Thầy ở Sàigòn nhắm biến các vị ấy thành ”mục tử đỏ” cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ”độc lập – tự do – hạnh phúc”, cũng không phải là cho phấp phới lá cờ đỏ hoe vuốt Đầu tượng Mẹ Thiên Chúa trong Nghi Lễ cung nghinh Ngài! Lại quá sức phạm thánh khi đem tượng Hồ Chí Minh làm ”nhạc trữ tình”, đặt ngang hàng với ”Bà có phước lạ hơn mọi người nữ. Cho nên Trái của Lòng Dạ Bà cũng có phước.” (Lời Isave kính chào Mẹ Thiên Chúa.)

Những ai không hòa tấu nhạc lòng với Cồn Dầu, Tam Tòa, Đồng Chiêm…, không ”khóc với ai đang khổ sầu vì Tình Yêu là chính Giới Luật của Chúa, Tình Yêu bền vững…” như trong bản Thánh Ca ”Hỡi Các Dân Tộc” và nhất là những ai đồng tình với chỉ thị ”nghiêm cấm giăng biểu ngữ với bất cứ nội dung nào” trong khi cầu nguyện tại Linh Địa La Vang thì vui lòng học thuộc đoạn Tin Mừng theo Mathêô 11, 16-19 như sau: ”Ta ví thế hệ này với ai đây? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ mà gọi vói lũ trẻ khác, rồi nói: ”Tụi tôi thổi sáo cho các bạn, mà các bạn thì không chịu múa! Tụi tôi hát bài than vãn, mà các bạn không đấm ngực khóc lóc. Gioan đến, không ăn, không uống thì thiên hạ nói: ”Ông ta bị quỷ ám.” CON NGƯỜI đến, cũng ăn, cũng uống thì thế gian lại bảo: ”Đấy là tên chè chén với quân thu thuế và phường tội lỗi. Nhưng mà Ơn Khôn Ngoan thì được công chính hóa nơi việc mình làm.

Thử xem lệnh cấm ở Tổng GP Huế và Sàigòn có được công chính hóa bởi lòng tin vào Đảng Cộng Sản VN hay là bị ”phản Kitô hóa” bởi Linh Mục chui Phan Văn Lợi! Con XIN LẠY CÁM ƠN CHA LỢI đúng như quý danh của Cha đã từng là anh bạn của chúng con ở Huế, trong Khóa Cursillo Huế I – Nhatrang 12 dưới sự chỉ ĐẠO của Đức Cha Thuận trước năm 75. Thử xem ai chui và ai chui lòn, thưa Cha Lợi muôn vàn kính yêu!

Đã bao lần, thưa Cha, thằng giáo dân này viết ra ngạn ngữ Latinh: ”Sống trước, rồi triết lý sau ! – Primum vivere, deinde philosophari !” Blaise Pascal nói: ”Nhạo báng triết học chính là triết lý! – Se moquer de la phhilosophie, c’est  vraiment philosopher !” Còn nhạo báng Thần Học Tình Yêu nơi Cha Lợi là sẽ nghe Chúa Giêsu nói lại ở Tòa Phán Xét những gì mà Ngài đã nói và được ghi  trong PHÚC ÂM: ”Hãy tránh khỏi mặt Ta vì khi Ta… thì  ngươi không…, khi Ta… thì ngươi chẳng…” (Quý danh Pascal có nghĩa là ”của, thuộc về Lễ Phục Sinh, Lễ Vượt Qua: Pâques, Pâque.”)

Con kính dâng lên linh hồn Anh Năm Cồn Dầu, kính tặng chị Năm, các Cháu, Giáo Hội Cồn Dầu, quý MỤC TỬ đang noi gương các Thánh Tử Đạo VN, quý đồng Kitô hữu và quý Bà Con Bên Lương bài thơ:

TƯỞNG NHỚ ANH NĂM CỒN DẦU

Đaminh Phan văn Phước

Cha-con mà chẳng tương phùng!             (1)

Cháy nhà! Lộ tẩy chân dung nhiều ngài!

Hồng Y Minh Mẫn, chứ ai!

Tổng Nhơn Chủ Tịch, các ngài Tri, Chương…

CỒN DẦU, Mục Tử không thương

Mà đi o bế TRUNG ƯƠNG ĐẢNG là

Những người tỷ phú đô la

Buôn Dân, bán Nước, Ông Cha của mình!   (2)

Nếu hồn tràn ngập Thánh Linh

Các ngài đâu có làm thinh thể này!

Lòng tin, mà chẳng ra tay

Thì tình mến Chúa cũng bay mất rồi! (3)

Miệng thì ”Lạy Chúa Ba Ngôi”

Tay thì lần Hạt Mân Côi làm gì ?

Các ngài được Chúa sai đi

Để làm Nhân Chứng thực thi Lời Ngài!

Vậy là Mục Tử cho ai

Mà Chiên bị giết, các ngài tỉnh bơ ?

Ai cho mang để Bàn Thờ

Tượng Hồ Chủ Tịch, lá cờ đỏ hoe ?

Phải chăng Mục Tử muốn lòe

Để cho Chiên hết ngo ngoe, kêu Trời ?

CỒN DẦU bị đánh tả tơi!!!

Không nghe Mục Tử nói lời phân ưu !

Chiên con, Chiên Mẹ, Đàn Cừu (4)

Mà sao Mục Tử chẳng ưu tư gì ?

Vậy làm Mục Tử mà chi

Để cho thiên hạ khinh khi quá chừng !?…

Tông Đồ là đuốc sáng trưng

Cớ sao tắt lịm, tối bưng giữa đường ?

Tông Đồ chứng tá TÌNH THƯƠNG (5)

Cớ sao lại chẳng nêu gương cho đời ?

Tông Đồ rao giảng NƯỚC TRỜI

Cớ sao chẳng sống ĐẠO, LỜI THÁNH KINH ?

CỒN DẦU đang bị đóng đinh !

Hội Đồng Mục Tử làm thinh, chẳng màng !!!

Anh Năm tử Đạo, hiên ngang!

Thơ tôi thay khói nến nhang quyện mồ

Đức Cha yêu mến ”Bác Hồ” ! (6)

Anh Năm thờ Chúa Kitô đến cùng !!!

Cha-con mà chẳng tương phùng

Mỗi người một ngã, không chung ”ĐƯỜNG VỀ” !!!

Con Chiên thờ Chúa Giavê

Đức Cha theo Đảng Mác-Lê, lúa đời !!!

Đức Quốc, 28.8.2010

Ghi chú:

1. Không gặp nhau như một con gà trống gáy thì các con khác, dù ở xa, cũng gáy theo: gọi là ”đồng thanh tương ứng” ! Hai vật dụng cùng một chất kim khí dễ hòa hợp với nhau, tìm nhau: gọi là ”đồng khí tương cầu” !

2. Lạc Long Quân ”không còn” là Vị Cha Già của Dân Tộc mất rồi !!!

3. Lấy ý lời dạy của Thánh Giacôbê.

4. Lời Chúa giao Đàn Chiên cho Phêrô

5. Thiên Chúa là TÌNH THƯƠNG: Deus Caritas est.

6. Mới đây, Báo Nhân Dân ca ngợi quá sức lời phát biểu của mục tử Châu Ngọc Tri đang dẫn dắt Đàn Chiên đi theo đường lối của Đảng vô cùng đạo đức theo lời Đảng khẳng định.

Đaminh Phan văn Phước




Từ Đại hội nhà văn đến Đại hội dân Chúa

Tháng Tám 28, 2010

Sự thật sẽ làm cho các ông được tự do” (Ga 8,32)

Sự kiện gần nhất

Trong những ngày này, truyền thông Việt Nam không ngớt lời ca ngợi Giáo sư Ngô Bảo Châu, một tài năng trẻ Việt Nam, 38 tuổi, đã nhận giải toán học Fields. Trong khi đó, một nhà trí thức khác, Phạm Minh Hòang, giảng viên Đại học Bách khoa Sài Gòn, rời Việt Nam năm 1972 qua Pháp du học, rồi trở lại Việt Nam năm 1990 vào thời kỳ “đổi mới”, nay đang chờ ngày ra toà, chắc không vì lý do gì khác hơn là vì đã mớm cho sinh viên những ý tưởng tự do, dân chủ. Chẳng biết nếu khoa học không nhằm mục đích phục vụ con người thì đối tượng của nó sẽ là cái gì !

Đại hội Nhà Văn Việt Nam

Vẫn là chuyện thời sự liên quan đến giới trí thức Việt Nam xảy ra chỉ mới đầu tháng 8 này, chính xác là trong hai ngày 5 và 6 tháng 8: tại trường Học viện Hành chính Quốc gia đã diễn ra Đại hội Nhà Văn VIII, với số tham dự viên lên đến bảy tám trăm, trong số đó quãng 2/3 là các đảng viên cộng sản. Nghe đâu chi phí dành cho Hội Nhà Văn lên đến trên 86 tỷ đồng trong thời gian 2005-2010. Điểm đặc biệt là lần này trong Chủ toạ đoàn có nhà văn trung tướng công an Hữu Ước, không biết có quen cầm bút bằng cầm súng hay không.

Đến lượt nhà văn bị bịt miệng

Nhưng yếu tố đã tạo ra sự chú ý tại đại hội Nhà Văn Việt Nam lần này không là gì khác hơn là một số nhân vật thuộc cánh “lề trái” như Ngô Minh, Bùi Minh Quốc, với những bài viết không được trình bày công khai tại Đại hội, nhưng được biết đến nhờ đưa lên mạng.

Tuy nhiên có lẽ tiếng nói mạnh mẽ nhất là Trần Mạnh Hảo, tác giả bài tham luận được phổ biến trên mạng trước cả khi Đại hội bắt đầu. Tuy được viết theo đơn đặt hàng của nhà văn Hữu Thỉnh, Chủ tịch hội Nhà Văn Việt Nam, nhưng lại không được phép đọc tại Đại Hội. Không những thế, tại hội trường, khi tác giả bài tham luận chỉ muốn ngỏ lời với dăm câu ba chữ thôi, thì cứ đụng đến micro nào là đường dây micro đó y như bị sét đánh, thành ra cuối cùng chẳng nói năng gì được.

Lý do chẳng có gì khó đoán, đó là vì nội dung của bài tham luận “có vấn đề”. Nguyên cái tiêu đề thôi cũng làm cho ai yếu bóng vía phải giật mình: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Đọc những chữ, những câu đầu tiên, ta có cảm tưởng đang chứng kiến cảnh một võ sĩ vừa nhảy lên khán đài đã vung tay múa kiếm: “Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không!  Sợ vợ ư? Không!  Sợ công an ư? Không!  Sợ kẻ cầm quyền ư? Không!  Sợ chết ư? Không ! ”. Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật.

Sau khi đặt câu hỏi và tự trả lời, tác giả liền chứng minh: “Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.

Rồi dựa vào định đề của K.Marx: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”, tác giả lần lượt nêu lên ý tưởng của cố tổng thống Ba-lan Lech Kaczinxki: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất, luôn luôn giải phóng con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hoà hợp.” Tác giả cũng nhắc lại chủ đề cuộc hội thảo do Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức đại Đà Lạt trong hai ngày 12-13 tháng 07 năm 2010, chủ đề đó là “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay.” Tác giả cũng không quên nhắc lại lời cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh căn dặn văn nghệ sĩ: “Cởi trói như thế nào… Cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí… Tôi cho rằng khi sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Ba sự thật

Sau khi đã cẩn thận rào trước đón sau, tác giả lần lượt đề cập đến 3 sự thật :

SỰ THẬT MỘT: chưa bao giờ, số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà, anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”… rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải…

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực… Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục . Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa…là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ…lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam…

SỰ THẬT HAI: Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không? Không!  Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền!  Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi…

SỰ THẬT THỨ BA: Nói một đàng, làm một nẻo, hay là danh không chính thì ngôn không thuận.

Đảng, Nhà Nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.”

Trên đây chỉ là mấy trích đoạn của một bài viết dài gần 16 trang A5 với những ví dụ rất chi tiết, rất cụ thể để chứng mình rằng: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Thiết nghĩ không riêng gì tôi, mà bất cứ ai quan tâm đến văn học, đến con người, đến đất nước, đọc bài này xong chỉ có thể vui mừng, cảm phục và tri ân nhà văn Trần Mạnh Hảo đã “dám liều mạng nói lên những sự thật cay đắng nhất, khủng khiếp nhất của đất nước chúng ta hiện nay, những sự thật chết người, ai ai cũng biết, mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra.”

Hướng về Đại hội Dân Chúa

Đại hội các Nhà Văn vừa nói trên đây khiến tôi liên tưởng tới một Đại hội khác sẽ diễn ra tháng 11 tới đây, đó là Đại hội Dân Chúa. Chẳng phải tôi không biết đến những gì là tích cực mà mọi thành phần dân Chúa đã và đang góp phần xây dựng để Giáo Hội Việt Nam được như hôm nay. Nhưng điều tôi e ngại, là những thành công đạt được sẽ ru ngủ chúng ta, không cho chúng ta can đảm nhận ra những yếu kém cần khắc phục, những sai lầm cần sửa chữa. Nếu theo lời Trần Mạnh Hảo, chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước, thì cũng chỉ có sự thật mới giải phóng được Giáo Hội Việt Nam hôm nay. Và cùng với Trần Mạnh Hảo tôi cũng xin được chỉ ra ba sự thật :

Sự thật một: Những điều Trần Mạnh Hảo nói trên đây liên quan đến sự tồn vong của đất nước, của dân tộc là điều hiển nhiên không thể phủ nhận. Câu hỏi đặt ra là trước thảm trạng đó, Giáo Hội Công Giáo chúng ta đã có động thái nào để chứng minh là mình gắn bó với dân tộc, với đất nước. Trong khi các nhà trí thức nhận ra ý đồ xâm lược của ngoại bang nhân vụ bauxite Tây Nguyên, đã nhanh chóng và mạnh mẽ lên tiếng, không những chỉ những người sống trong nước, nhưng cả đến những người Việt ở nước ngoài, kể cả những người không còn giữ quốc tịch Việt Nam, trong khi có những sinh viên, học sinh mạnh dạn kéo nhau đi biểu tình, rồi đến khi bị công an sách nhiễu, canh chừng quá kỹ, thì đêm đêm tìm cách lén vẽ lên tường mấy chữ HS-TS-VN để biểu hiện lòng yêu nước, biểu hiện quyết tâm bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, quyết tâm giữ gìn sự toàn vẹn của lãnh thổ, thì Giáo Hội Công Giáo không có nổi một cử chỉ, một tiếng nói, cứ bình chân như vại, như thể những chuyện đó chẳng liên quan chi tới mình. Vậy sự thật có phải là Giáo Hội Công Giáo đang quyết tình đứng bên lề dân tộc?

Sự thật hai: Tại Na-da-rét, Đức Giê-su đã mặc khải sứ mạng cứu thế của ngài khi trích dẫn lời sấm của I-sai-a: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18). Và sứ mạng của Hội Thánh là tiếp nối công trình cứu độ của Đức Giê-su. Thế thì trên đất nước Việt Nam hôm nay, khi từ bắc chí nam, từ nông thôn đến thành thị, người dân oan bị cướp đất không còn biết kêu ai, vì đi nộp đơn kêu oan thì cứ bị đùn đẩy từ toà dưới lên toà trên, rồi lại từ toà trên xuống toà dưới, khi những người bày tỏ chính kiến cách ôn hoà nhằm góp phần xây dựng xã hội, xây dựng đất nước, những người đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền, bị áp bức, bị tù tội, ngay cả lúc chưa vào tù thì cũng không còn đường sống, vì đi xin việc không ai dám nhận, đi thuê nhà không ai dám cho, khi phụ nữ bị bán làm gái mại dâm, người lao động bị bóc lột tàn tệ, trong những hoàn cảnh bi đát thê thảm như thế, mà Giáo Hội Công Giáo vẫn ngậm miệng làm thinh, thì sự thật hôm nay có phải là Giáo Hội đang quay lưng lại với người nghèo, người bị bóc lột, bị áp bức?

Sự thật ba: Chúng ta viện cớ “không làm chính trị” để khỏi lên tiếng khi phải lên tiếng, chúng ta nói hiệp thông mà chẳng hiệp thông, chúng ta đề ra phương châm hấp dẫn “Đồng hành với dân tộc”, để cuối cùng chỉ đồng hành trên giấy, chúng ta tôn vinh lòng thương xót Chúa, nhưng khi xảy ra các vụ Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, và mới đây nhất là Cồn Dầu, thái độ của ta là ai chết mặc ai. Thế thì câu hỏi đặt ra là: phải chăng chúng ta cũng như những cán bộ cộng sản: “nói mà không làm, hay nói một đàng làm một nẻo?

Mấy điểm tôi nêu trên đây chỉ mang tính gợi ý để ta có thể nhìn lại và suy nghĩ, vì tôi không muốn, mà cũng không có khả năng liệt kê đầy đủ những điều phải tránh, hay những việc phải làm. Hy vọng sẽ còn nhiều người khác góp ý cho Đại hội.

Làm sao tin tưởng vào những vị lãnh đạo tôn giáo chỉ vì muốn được yên thân mà chịu khuất phục bạo quyền?

Vai trò của lãnh đạo

Trong tổ chức nào cũng thế, người lãnh đạo nắm vai trò quan trọng. Chính vì thế mà trong thời gian qua, nhất là từ khi xảy ra những biến động trong Giáo Hội Việt Nam liên quan đến việc thay bậc đổi ngôi tại Toà Tổng Giám Mục Hà Nội, các giám mục đã bị truyền thông phê phán gay gắt, nặng nề. Nhưng làm sao biết được ai đúng, ai sai?

Trước câu hỏi này, diễn đàn Nữ Vương Công Lý ngày 20-08-2010 đăng tải bài của Lê Thiên: “Hội Đồng Giám Mục: Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam”. Đọc xong bài của Lê Thiên, tôi thầm nghĩ: ông này đúng là “bạo phổi”. Là vì dám “đụng” đến giám mục đã là “to gan” rồi, nhưng ở đây Lê Thiên đụng tới cả Hội Đồng Giám Mục (HĐGM)!  Có điều ông không nói vu vơ, nhưng nói có sách. Trong phần chú thích, ông liệt kê ra đến 86 điều trong Bộ Giáo Luật liên quan đến HĐGM! Ông dựa vào đó để chỉ ra quyền hạn và trách nhiệm của HĐGM. Rồi ông khẳng định: “Chúng ta có thể kết luận rằng, theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm “tiếng nói cho những người không có tiếng nói” trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự “lên tiếng hay không lên tiếng” để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm.

Với hàng loạt quyền hạn pháp định, không một HĐGM nào tự cho phép mình nại ra bất kỳ lý do gì để tránh can dự vào việc đấu tranh bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền sống của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, tự do tỏ bày tư tưởng hay phát biểu quan điểm, quyền tự do cư trú cùng các quyền tự do căn bản chính đáng khác… ! ”

Không dừng lại nơi những nguyên tắc trừu tượng, Lê Thiên đi thẳng vào các vấn đề thời sự đặc biệt trong hai năm vừa qua: “Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước, đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận. Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên, hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng”? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc.”

Không biết trong hàng ngũ các giám mục Việt Nam, đã có bao nhiêu vị chịu dành thì giờ nghiên cứu các tài liệu Công Đồng Vatican II và giáo luật hiện hành liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của HĐGM như Lê Thiên đã làm. Nếu không ai chứng minh được là Lê Thiên sai, thì nay các tín hữu Công Giáo đã có cơ sở để đánh giá lập trường và thái độ các giám mục Việt Nam trước những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước và Giáo Hội.

Kết luận

Sau 350 năm truyền giáo và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm, lạc quan hay bi quan là quyền của mỗi người. Nhưng sự thật khách quan là suốt nhiều thập niên liên tiếp, số tín hữu Công Giáo Việt Nam không vượt quá ngưỡng 7 hay 8 phần trăm. Trong cộng đồng dân tộc 86 hay 87 triệu hôm nay, chúng ta vẫn là thiểu số. Nếu truyền giáo là bản chất người Ki-tô hữu, thì chúng ta còn rất nhiều việc phải làm. Thế nhưng nếu dưới mắt người Việt Nam ngoài Công Giáo, Giáo Hội chúng ta chỉ là một tổ chức mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có tài sản lớn lao, có nhân lực có trình độ, nhưng lại thờ ơ với vận mạng dân tộc, quay lưng lại với đại đa số vốn là những người nghèo, thờ ơ với mọi cuộc tranh đấu cho nhân quyền, cho tự do dân chủ, thì đồng bào ta có gì để chờ mong, có gì để hy vọng? Làm sao tin tưởng vào những vị lãnh đạo tôn giáo chỉ vì muốn được yên thân mà chịu khuất phục bạo quyền? Trong bối cảnh đó, những tiếng nói như Trần Mạnh Hảo hay Lê Thiên là những tiếng nói rất đáng trân trọng.

Sài Gòn, ngày 28 tháng 08 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com