Tấn phong Phó tế tại DCCT Sài Gòn: Bài chia sẻ của Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh

Tháng Tám 28, 2010

Cách đây hai tháng tôi phong chức cho 9 anh em linh mục ở đây, trong đó có hai anh em không được sự chấp thuận của ‘xã hội’. Sau đó chúng tôi có dịp gặp gỡ những vị liên hệ, hôm nay tôi cũng chia sẻ với cộng đoàn một chút không ngoài mục đích để mỗi người chúng ta ý thức rằng chúng ta có ơn gọi, có sứ mạng loan báo Tin Mừng. Khi tôi trình bày ở đây tôi trình bày với tư cách là một người công dân hết lòng với quê hương đất nước này và trong mỗi trường hợp tôi làm thì tôi đặt quyền lợi của quê hương đất nước trên tất cả. Nhưng mà tôi cũng xác tín rằng quyền lợi của quê hương đất nước cũng là quyền lợi của Giáo hội, cũng là quyền lợi của mỗi người chúng ta.

Vì thế trước và sau khi truyền chức tôi có dịp gặp gỡ và trình bày với các vị liên hệ rằng bí tích là của Hội Thánh và truyền chức Thánh cho các tiến chức bên Giáo hội Công giáo làm rất thận trọng. Sau nhiều ngày đào tạo, tìm hiểu, điều tra, tham khảo ý kiến cũng như lời cầu nguyện của không riêng một người mà của cả Hội Thánh. Vì thế khi tôi nói chuyện với cá vị liên hệ tôi cũng nói đây là điều mà cần phải tôn trọng lẫn nhau. Trong các tổ chức, có những phạm vi, lãnh vực mà chúng ta phải tôn trọng không có có giơ tay dài quá đụng đến nhau. Chúng ta cần phải nói để cho mọi người hiểu và giúp cho nhau mỗi ngày hiểu nhau hơn. Nhất là trong hoàn cảnh đặc biệt rất tế nhị, nhảy cảm của Việt Nam chúng ta. Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta cần phải nói lên để giúp nhau ngày càng hiểu nhau và biết tôn trọng lẫn nhau có như thế thì mới có thể gọi là yêu nước, yêu đồng bào, xây dựng cách thiết thực.

Cụ thể mỗi khi gặp khó khăn tôi nhớ lại câu chuyện cổ tích mà tôi có nhiều dịp nói lên với quý vị ở trung ương cũng như địa phương trên văn bản cũng như là qua cuộc nói chuyện và qua giảng dạy. Hôm nay tôi xin chia sẻ với cộng đoàn, tôi nghĩ rằng đây là một cách để chúng ta cùng nhau suy nghĩ để làm sao để cho mọi người khi tiếp cận với chúng ta ngày càng sát gần nhau hơn để cùng xây dựng dất nước Việt Nam thân yêu chúng ta. Tôi nhớ câu chuyện cổ tích thế này: Một hôm môn đệ hỏi thầy: thưa thầy, hạnh  phúc là gì? Tự do là gì? Ông thầy không trả lời. Mấy ngày sau nhà hiền sĩ gọi người đệ tử đi chơi, đến nhại mồ hôi rồi nhảy xuống khúc sông tắm. Khi đang tắm vui vẻ mát mẻ, nói chuyện trời đất mông lung. Thì ông thầy bất thình lình túm tóc của người học trò dí xuống, nó ngộp thở nó ngoi lên. Dí xuống lần thứ hai, nó ngộp thở nó ngoi lên. Ông thầy dí lần thứ ba nó gần chết, nó đạp ổng một cái. Ông thầy buông nó ra, nó ngoi lên, ông thầy hỏi: Con đã hiểu hạnh phúc là gì chưa? Tự do là gì chưa?

Và tôi nói, người có niềm tin tôn giáo cũng như anh đệ tử kia vậy. Người có niềm tin tôn giáo cũng tha thiết được sống với niềm tin của mình. Hệ ai mà ép buộc thì chịu không nổi. Ép lần thứ nhất ráng chịu. Ép lần thứ hai cũng ráng mà chịu. Ép lần thứ ba thì chúng tôi cũng phải đạp (tràng pháo tay dài). Mà khi đạp như thế thì xin đừng ai hiểu là chúng tôi phản động hay là âm mưu lật đổ chính quyền hay diễn tiến này nọ […] Không có đâu, chỉ có muốn thở (…) thôi (tràng pháo tay dài)…

Nhiều khi chúng ta không gặp gỡ nhau hay là nói xa nói gần dễ bị hiểu lầm nhau. Và khi gặp gỡ thì cứ nói thật, nói thẳng với nhau đi, nói một cách chân tình và bác ái. […] đây là một cách mình xây dựng quê hương đất nước một cách hữu hiệu, cụ thể nhất. Hôm nay tôi tới Hội dòng, tôi tới với tư cách là một người yêu đồng bào, yêu nước, yêu quê hương. Và tôi cũng cố gắng làm tất cả những gì để giúp cho mỗi người chúng ta hiểu nhau, gần gũi nhau để cùng xây dựng quê hương đất nước này. Chính vì thế, một lần nữa tôi xin cám ơn cha Giám Tỉnh, cám ơn anh chị em. Tôi tỏ bày một chút tâm với anh chị em hy vọng rằng với ơn Chúa Thánh Thần giúp đỡ, mỗi người chúng ta có thể chu toàn sứ mạng của mình một cách tốt đẹp nhất đó cũng là một cách phục vụ quê hương tốt đẹp nhất. Cám ơn anh chị em.

Video: Bài chia sẻ của Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh cuối Thánh lễ phong chức Phó tế ngày 28/8/2010 tại Dòng Chúa cứu thế – Sài Gòn:

http://www.youtube.com/v/q0aOqT4Jy1I?fs=1&hl=en_US

Một số hình ảnh Thánh lễ Tấn phong phó tế tại DCCT Sài Gòn:

Hình Chuacuuthe.com

28/8/2010

Nữ Vương Công Lý


Đức TGMHN Phêrô Nguyễn Văn Nhơn thăm UBTƯ Mặt trận tổ quốc Việt Nam

Tháng Tám 27, 2010

Ngày 23/8/2010, Đức Tổng Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn đã tới thăm UBMTTQ Việt Nam. Ông Huỳnh Đảm Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam đã tiếp đoàn.

TGMHN Nguyễn Văn Nhơn và Chủ tịch UBMTTQVN Huỳnh Đảm. Ảnh: UBDKCG

Tại cuộc gặp, ông Huỳnh Đảm đã “ghi nhận và đánh giá cao những  đóng góp to lớn của đồng bào Công giáo trong cả nước nói chung và người Công giáo trong giáo phận Hà nội nói riêng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Chủ tịch Huỳnh Đảm mong muốn với cương vị là Tổng Giám mục giáo phận Hà Nội cùng với các Giám mục, linh mục và giáo dân tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để phát huy những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời động viên đồng bào Công giáo tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động như cuộc vận động “ngày vì người nghèo”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư…và tích cực hưởng ứng các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước như kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đồng thời với các hoạt động trong khuôn khổ Năm Thánh 2010 của Giáo hội Công giáo.”

Đáp lại những mong muốn của người đại diện UBMTTQ Việt Nam, Tổng Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn: “vui mừng cảm ơn sự nhiệt tình đón tiếp của Chủ tịch Huỳnh Đảm. Ngài cũng đánh giá cao những hoạt động của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và khẳng định rằng với trách nhiệm của một người chủ chăn sẽ tiếp tục động viên bà con giáo dân, quý tu sĩ, linh mục tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo theo tinh thần Thư chung năm 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam.”

Trong một diễn biến khác, thành phố Hà Nội đang tích cực vận động các giới, các tổ chức hành chính sự nghiệp, các tổ chức tôn giáo đăng ký tham gia cuộc diễu hành mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Các xe hoa đại diện cho các ngành, các giới, các tổ chức  hành chính sự nghiệp, các tổ chức tôn giáo đã được hoàn thành.

Chính quyền Hà Nội đang hết sức lúng túng, khi phía Giáo Hội Phật giáo nhiều Chùa chiền đã đua nhau đăng ký tham gia diễu hành, trong khi đó, giới Công giáo vẫn chưa thấy có ai đăng ký tham gia.

Trong một dịp lễ lớn như dịp kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, chính quyền Hà Nội sẽ trình diện trước mọi người thế nào khi trong đoàn diễu hành không thấy bóng dáng của các giám mục, linh mục, tu sĩ công giáo? Trong trường hợp nếu có, ai sẽ là người tham gia cái lễ hội này của chính quyền Hà Nội?

Không biết Đức Tổng Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn sẽ làm thế nào để “tích cực tham gia các hoạt động của dịp mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long, khi hứa với ông Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam: “sẽ tiếp tục động viên bà con giáo dân, quý tu sĩ, linh mục tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo theo tinh thần Thư chung 1980 của HĐGMVN”?

Từ nhiều năm nay, “Sống tốt đời, đẹp đạo” là một trong những khẩu hiệu mà cộng sản thường dùng chung với khẩu hiệu “Sống Phúc âm giữa lòng Dân tộc”, để định hướng cho Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Đây là một kiểu đánh tráo khái niệm cách tinh vi, coi đạo chỉ là thứ yếu. Nhiều vị lãnh đạo Giáo hội cũng đã bị đánh lừa, nghĩ rằng Dân tộc là đảng Cộng sản và Chủ nghĩa xã hội, và rằng tốt đời thì mới đẹp đạo, trong khi phải nói ngược lại “có tốt đạo thì mới đẹp đời”.

Chủ trương đối thoại mà Giáo hội theo đuổi là một chủ trương đúng đắn, nhưng đối thoại làm sao khi chính quyền cộng sản tiếp tục muốn lèo lái Giáo hội theo viễn kiến và chủ đích không tốt của họ?

27/8/2010

Nữ Vương Công Lý


“Tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình”: Cơ may nào cho GH Việt Nam?

Tháng Tám 26, 2010

Theo Thông báo của Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, kèm thư mời của học giả Nguyễn Đình Đầu, trong hai ngày 27-28/8/2010, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cố Tổng Giám mục Phaolô  Nguyễn Văn Bình, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình sẽ tổ chức cuộc tọa đàm: “Chân dung một vị mục tử” nhắm “chứng minh rằng, nơi ngài không có sự đối nghịch giữa niềm tin, lòng yêu mến Giáo Hội với lòng yêu quê hương, gắn bó dân tộc. Phân tích tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình, trên cơ sở tinh thần, đường lối xuyên suốt của Giáo Hội”. Đọc tiếp »


Góp ý cho ĐHDC: Tâm thư gửi mẹ Giáo hội Việt Nam từ nước Đức

Tháng Tám 26, 2010

Đức Quốc, ngày 26.8.2010

Kính thưa Mẹ là ”Giáo Hội Công Giáo Việt Nam”,

Trước khi viết tâm thư này, con đã dâng Thánh Lễ Chủ Nhật 22.8, đến quỳ trước Bàn Thờ Mẹ Maria của Giáo Hội Hoàn Vũ và hát lại bài mà con đã đồng ca với giáo dân Đức: ”Salve Regina. – Lạy Nữ Vương”, rồi dâng lên Mẹ Chúa Giêsu: Giáo Hội, Quê Hương Việt Nam, trong đó có cả người cộng sản vô thần như Mẹ Fatima đã từng dạy và báo trước thế này: ”Dâng cả Thế Giới và đặc biệt là Nước Nga cho Trái Tim vẹn sạch của Mẹ. Hãy mau ăn năn đền tội, hãy năng lần Hạt Mân Côi. Rồi Trái Tim Mẹ sẽ thắng! Nước Nga sẽ trở lại…”

Kính thưa Mẹ,

Theo thiển ý của con, chúng ta cũng phải dâng lên Thiên Chúa và Mẹ LA VANG cả TRUNG CỘNG để cầu nguyện cho họ trở lại như nước Nga, như Giáo Hội Công Giáo VN đã từng nỉ non với Ngài trước biến cố năm 75: ”…Xin Mẹ gìn giữ Giáo Hội Việt Nam. Xin Mẹ soi sáng Hàng Giáo Phẩm, dìu dắt và thánh hóa các Linh Mục. Xin Mẹ giúp sức cho toàn thểgiáo dân được trung thành giữ Luật Chúa và sốt sắng làm việc tông đồ. Xin Mẹ nâng đỡ và ủi an những anh chị em của chúng con đang phải khốn khó vì Đạo Chúa. Xin Mẹ chúc lành cho Tổ Quốc Việt Nam. Xin Mẹ hướng dẫn các nhà lãnh đạo Dân Tộc. Xin Mẹ đem Tinh Thần Phúc Âm thấm nhuần tất cả các Cơ Cấu Quốc Gia. Xin Mẹ cho toàn thể Dân Việt biết đoàn kết để cùng nhau xây dựng lại Giang Sơn. Nhất là xin Mẹ cho chúng con thoát nạn cộng sản vô thần để mọi người được sống trong tự do hòa bình ngõ hầu Nước Chúa được mở rộng khắp nơi…Chúng con tin chắc Trái Tim Mẹ sẽ thắng. Amen.” (1)

Kính thưa Mẹ,

Kinh nghiệm của Thánh Hiền dạy: ”Phá nhất điểm: Khai thông toàn diện!” Đó là Trung-Cộng-cản- mũi-kỳ-đà đối với Dân Tộc Việt Nam. Để ”ôn cố, tri tân” rằng giặc Tàu là kẻ-thù-ngàn-kiếp của đồng bào, của mọi Tôn Giáo, con xin mạo muội phát họa vài nét về nước láng giềng của chúng ta:

”Tam Tự Kinh” là cuốn sách tập hợp mọi tinh hoa của Nho Giáo và Khổng Giáo, trong đó có câu: ”Nhân chi sơ, tính bổn thiện. – Người ban đầu, tính vốn tốt.” Lão Tử cũng ”gọi Ông Trời là Đạo, có thể làm Mẹ người trần. – Tự chi viết đạo, khả vi thiên hạ mẫu.” Nhưng tiếc rằng triết lý xã hội của hai Thánh Hiền ấy, vốn ảnh hưởng sâu rộng đến cả Á Đông, đã bị các nhà thống trị Tàu bóp méo bằng lịch sử xâm lược rùng rợn, đẫm máu, mà cụ thể nhất là từ khi có Tần Thủy Hoàng (Doanh Chính) là bạo chúa thành công trong việc tiêu diệt các nước chư hầu thời Chiến Quốc để lập nên đế quốc TRUNG HOA khổng lồ bằng chính sách thống trị bất nhân, tàn bạo,… đến thời Chủ Nghĩa Mác-Lê coi Tôn Giáo là thuốc phiện, đến thời Chủ Nghĩa Mao (một hình thức vận dụng Chủ Nghĩa Mác-Lê) coi trí thức không bằng gánh phân trâu, và tiếp nối đến hôm nay là Quan Thầy Bắc Kinh có Đệ Tử ruột là Đảng Cộng Sản Việt Nam đang nuôi ong tay áo,cống cả Nước cho giặc Tàu! Dù kế thừa cái văn hóa vô luân của Trung Cộng, Đảng CSVN vẫn tự coi mình là vô cùng đạo đức,Lương Tri của Thời Đại, là người thay Trời làm mưa, là ”đấng hóa công” như sau: ”Bàn tay ta làm nên tất cả. Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm!” muốn đảng hóa mọi Tôn Giáo hòng dễ bề

Kính thưa Mẹ,

Vậy thì còn đâu nữa ”nhân chi sơ, tính bổn thiện” là một xác tín phù hợp với Lời Chúa trong Sáng Thế Ký, tức là sau khi dựng nên Thiên Thần và Vũ Trụ, Thiên Chúa Ba Ngôi nói: ”Chúng ta hãy làm nên con người giống Hình Ảnh Chúng Ta.” (STK 1, 26) Đó là Adam và Eva! Mà ”Eva” có nghĩa là ”mẹ của mọi sinh linh”! Nhưng tiếc rằng hai anh-em-kết-nghĩa ”Bắc Kinh-Hà Nội” vẫn còn là ”hiện thân của bà Eva cũ” vốn đã nghe lời Satan dụ dỗ, lừa gạt để rồi kéo luôn chồng theo phe chống lại Thiên Chúa đã ban cho con người TỰ DO, khác với đồ vật vô tri.

Ngày xưa, Tổ Tông loài người đã cho SỰ DỮ ”nhập hộ – ghi danh vào Vườn Địa Đàng”! Chúa phạt, nhưng vẫn còn thương xót hai ông bà bằng Lời Hứa với họ, cũng là lời răn đe ”quyền-lực-tay sai-của-Satan-hôm-nay” như sau: ”Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi; còn ngươi sẽ táp chân nó.”

Dựa vào Lời Chúa hứa, các Tiên Tri và toàn Dân Ngài đã ngóng trông Đấng Cứu Tinh như lời Tiên Tri Dacaria như sau: ”Hỡi nàng thiếu nữ Sion, hãy reo lên, hãy vui mừng! Này Ta đến ở giữa ngươi. – Sấm của Giavê. (Thiên Chúa Hằng Hữu) Ngày ấy, lắm quốc gia sẽ gắn bó với Giavê và họ sẽ là Dân của Ta nên Ta sẽ cư ngụ giữa ngươi…Hỡi mọi xác phàm, hãy lặng thinh trước Nhan Giavê bởi vì Ngài tỉnh dậy từ Thánh Điện của Ngài.” (Dac. 2, 14-17)

Kính thưa Mẹ,

Chúng ta nâng niu, hôn và tôn thờ Lời Chúa trong Kinh Thánh, thậm chí còn được phép đặt tay lên ĐÓ để thề, để biến Đức Tin thành hành động bởi vì Kinh Thánh, gồm có Cựu và Tân Ước, là Cuốn Sách Lịch Sử Cứu Độ của Thiên Chúa qua sự cộng tác của Thiếu Nữ Sion như lời báo trước của Tiên Tri Dacaria vốn đã thành sự nơi ”Bà Eva Mới” là Trinh Nữ Maria, như lời Thiên Sứ Gabriel đến nhà riêng của Mẹ để cất tiếng kính chào và ngợi khen: ”Hãy vui lên! Hỡi Ân Phúc Đầy! Thiên Chúa ở cùng Cô.” (Luca 1, 28)

Như vậy, Trinh Nữ là Đấng Đại Diện cho Sion, cho Dân Chúa, cũng là cho chúng ta hôm nay. Cho nên, Thiên Chức Kitô Hữu buộc chúng ta phải tuyên xưng như lời reo mừng của Bà Isave: ”Bởi đâu mà tôi được phước rất trọng là Mẹ của Chúa tôi đến viếng thăm tôi? Vì này tiếng Bà chào vừa lọt tai tôi thì hài nhi trong dạ tôi nhảy mừng. Phúc cho Bà là người đã tin rằng mọi điều Thiên Chúa đã truyền dạy cho Bà sẽ thành sự.” Vâng, thưa Mẹ, ”sẽ thành sự” đối với hai chị-em-họ Isave-Maria vào lúc ấy. Và ”đã thành sự” về sau nơi Mẹ Maria, cho chúng ta qua Chúa Giêsu từ trên Thập Ác, đặc biệt là từ Mầu Nhiệm Phục Sinh của Ngài vì Ngài đã thắng SATAN và chỉ cho chúng ta VŨ KHÍ để đè đầu NÓ và bầy tôi của NÓ!

Lời báo trước của Dacaria: ”Thiên Chúa tỉnh dậy từ trong Thánh Điện của Ngài” đã ứng nghiệm trong Tin Mừng theo Thánh Luca 1,39: ”Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, đon đả ra đi lên miền sơn cước” ! Chẳng có Thánh Điện nào tinh tuyền, thánh thiện cho bằng LÒNG DẠ cưu mang Thiên Chúa là Giêsu!!! Thai Nhi Giêsu cũng chỗi dậy trong Dạ Mẹ để ra khỏi Thánh Điện Thứ Hai là ”Nơi Được Truyền Tin”, để theo Đấng cưu mang Ngài, cùng băng qua miền núi mà đem Chúa đến cho nhà Dacaria-Isave. (2)

Dù Isave và thai nhi của bà đã được đầy Thánh Linh nhờ Mẹ Maria đến thăm, NGÀI vẫn ở lại nơi nhà ấy ba tháng để hầu hạ người chị họ cho đến ngày bà ta sinh ra Gioan Tiền Hô, tức là người sẽ KHÍCH BÁC thành phần tội lỗi như sau ở sông Yordan: ”Này nòi rắn độc kia, ai chỉ cho các người trốn cơn thịnh nộ sắp giáng xuống? Các người hãy sinh quả xứng với lòng sám hối. Đừng vội nghĩ bụng: Chúng ta có tổ phụ là Abraham! Tôi bảo các người nghe đây: Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này thành con cháu của Abraham. Cái rìu đã nằm sẵn gốc cây. Cây nào không sinh quả tốt, sẽ bị chặt và quăng vào lửa…Chớ đòi gì quá mức đã định cho các người. Đừng hà hiếp người nào, đừng tống tiền ai, hãy bằng lòng với mức lương của mình.” (Luca 3, 7-15)

Kính thưa Mẹ,

Lịch sử của loài người từ ngày Adam-Eva sa ngã cho đến hôm nay và đến Tận Thế không thể thoát ly khỏi Lịch Sử Cứu Độ bởi vì cái tội kiêu ngạo và ích kỷ vẫn còn, là nguyên nhân của các tội khác. Cho nên, Thánh Lễ vẫn được cử hành tiếp nối nhau từng giây, từng phút trên khắp Thế Giới để cho người sống và người chết đặng hưởng nhờ. Hôm nay, Chúa Giêsu còn bị tra tấn, mạ lỵ, đóng đinh bởi vô số lý hình gian ác gấp trăm, ngàn lần ngày xưa vì con người hôm nay tự xưng mình là tác giả của Khoa Học là điều quá ngây thơ, quá phạm thượng! (3) Và chính vì biết rằng con người sẽ mãi mãi sa ngã mà Thiên Chúa đã chọn Bà Maria làm Mẹ Chúa Giêsu, Thánh Giuse làm Dưỡng Phụ, Dacaria- Isave làm Thân Phụ của Gioan Tiền Hô, các mục đồng làm người loan báo Tin Mừng, Ba Vua và Tông Đồ Gioan để ông ta nghe DI CHÚC trước giờ Chúa tắt hơi!

Vậy thì Giáo Hội CGVN cũng nên chọn người như thế nào?

1. Vô cùng khiêm nhượng như Mẹ Maria!

Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Tri cũng là Cứu Chúa Giêsu thì Ngài ”khéo chọn người, chỉ việc làm, hướng dẫn lời ăn, tiếng nói” cho mỗi Vị, mà người đứng đầu là Trinh Nữ Maria! Dù biết rằng mình sẽ trở thành Mẹ của Cứu Chúa, Trinh Nữ vẫn xưng mình là tôi tớ của Ngài! Khi được bà Isave gọi mình là Mẹ của Chúa, Mẹ cũng đáp lại như sau: ”Vì Ngài đoái đến phận hèn tớ nữ!”

2. Vô cùng thương người như Mẹ Maria!

Trong tiệc cưới Cana, Mẹ nói với Chúa: ”Con ơi, nhà này hết rượu!” Mẹ theo chân Chúa lên tận Thập Giá, nhận Gioan, cũng là chúng ta, làm con thay Chúa Giêsu. Mẹ kề vai, sát cánh với Cộng Đoàn tiên khởi để cùng họ đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện.

3. Vâng lời Mẹ dạy!

Mẹ nói với người hầu bàn, cũng là với chúng ta hôm nay: ”Chúa bảo gì thì hãy làm theo Lời Ngài.” Lời Mẹ dạy không đơn thuần là vâng Lời Chúa trong tiệc cưới Cana, mà phải làm theo Ý Ngài dạy nơi khác, tức là mọi Lời Giáo Huấn của Ngài trong Tân Ước. Câu kết của đoạn văn Gioan 2, 11: ”Chúa đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana, xứ Galilê để tỏ vinh quang của Ngài và môn đệ đã tin vào Ngài.” cũng nói lên điều này: Đức tin là một chuỗi hành động của môn đệ theo Lời Chúa dạy trong suốt cuộc đời!

4. Biết noi gương Mẹ và Thánh Giuse

Mẹ là Ân Phúc Đầy! Dưỡng Phụ Giuse là người công chính! Cả hai đều sống đạm bạc, đơn sơ, khiêm nhượng, nghèo khó.vẫn lặn lội đi tìm Chúa cho ra khi đã sơ ý để ”mất Ngài”! Dù bận công ăn, việc làm, hai Ngài

5. Noi gương gia đình ông Dacaria

Khi Gioan đã được làm phép cắt bì, ông Dacaria đầy Thánh Linh và nói: ”…để cho ta hết khiếp sợ, thoát tay địch thù, được thờ phượng Chúa trong thánh thiện và công minh trước mặt Ngài, mọi ngày trong đời ta. Hài nhi, con ơi, con sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Tối Cao vì con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn lối cho Ngài.- Luca 1, 73-76” (Phần về lời nói của hai mẹ-con Isave-Gioan thì con đã dẫn chứng.)

6. Noi gương các người chăn chiên, tức là mục tử!!!

Họ là người coi sóc, bảo vệ đàn chiên, là mục tử nhân lành, biết yêu chiên, cận kề với chiên nên được đón nhận Tin Mừng và lời chúc phúc của Thiên Chúa qua Đạo Binh Thiên Quốc: ”Bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Ngoài Mẹ Maria và Thánh Giuse, họ là người đầu tiên đi chiêm ngưỡng Chúa Cứu Thế và loan báo Tin Mừng cho toàn dân đang ngóng chờ!

7. Noi gương Ba Vua

Ba Vị Vua này đến thờ lạy Chúa, không nghe theo lời đường mật, xảo trá của vua Hêrôđê đang tìm cách giết Chúa Hài Đồng Giêsu nên họ đã tìm đường khác mà trở về chốn cũ!!!

8. Gioan Tông Đồ rước Mẹ về nhà mình, chứ không mời Philatô, Caipha và quân lý hình!

Vậy thì, theo tám gương mẫu vừa nêu, xin Mẹ GHCGVN noi gương Chúa mà chọn người hầu hạ con chiên của Mẹ. Chúa thông biết mọi sự! Còn Mẹ là Giáo Hội thì không! Cho nên, để chọn cho đúng người làm mục tử, xin Mẹ vui lòng hỏi han thật kỹ ý kiến của con chiên vì ”chúng nó” là đại đa số, là thành phần ở tuyến đầu Giáo Hội. (4) Chúng nó cũng là Giáo Hội dù đại đa số không có học vị cao, nhưng, bù lại, là có Ơn Thánh Linh mà không có bằng cấp, học vị nào hơn hay bằng! Tiêu chuẩn để làm Giáo Hoàng, Mục Tử, như lời Đức Cha Nguyễn Chí Linh, là không phải tay nghề bởi vì Chúa chỉ hỏi ông Phêrô có mến Chúa không! Đức mến phải được thử thách qua bao bằng chứng, chẳng hạn: đức tính GAN DẠ của Phêrô, biết nhận lỗi, biết thống hối, biết khóc lóc, biết tốc tả chạy ra mồ tìm xác Chúa, xem Ngài đã sống lại chưa! Đó là không nói đến chuyện Chúa biết trước ông ta sẽ đương đầu với bạo quyền thời ấy sau khi đón nhận Thánh Linh và sẽ nghe Lời Chúa để về Roma, xin được đóng đinh, mà đầu lộn ngược để vinh Danh Thầy!

Khi công bố Năm Thánh dành riêng cho Linh Mục, Đức Giáo Hoàng không chọn các Thánh có học vị cao, mà là Linh Mục chẳng có bằng cấp, nghèo khó, quê mùa, Cha Xứ Gioan Maria Vianney, để làm khuôn vàng, thước ngọc cho Linh Mục hôm nay noi theo dù ngài đã từng là người được châm chước cho học thử Thần học năm đầu với kết quả ghi trong học bạ là ”quá yếu !” Khi được cho chịu chức vì quá thiếu Linh Mục, ngài đã bị người đời chê bai là ”linh mục dốt nát !”Linh-Mục-dốt-nát này đã khiến cho Cha Lacordaire, nhà giảng thuyết trứ danh của Nhà Thờ Notre-Dame ở Paris và mọi người phải thay đổi não trạng về Linh-Mục-không-ra-gì này! Bài giảng như sau: “Chúng ta chẳng bao giờ dám nghĩ đến việc xin Thiên Chúa sai Con Một của Ngài xuống thế gian. Nhưng điều mà con người không bao giờ nghĩ đến, không tưởng tượng ra và cũng không bao giờ dám ước mong thì Thiên Chúa, bằng Tình Yêu Thương vô biên của Ngài, đã diễn nghĩa, đã thực hiện. Có khi nào chúng ta dám xin Thiên Chúa cho Con Một của Ngài chết nhục nhã trên Thánh Giá để cứu chúng ta, dám xin Thịt của Con Thiên Chúa cho chúng ta ăn, xin Máu của Ngài cho chúng ta uống không? Người tội lỗi trở lại để xin ơn tha thứ hay chính Thiên Chúa chạy theo họ để kéo cho họ trở về với Ngài? Thiên Chúa tốt lành như thế, dù có biết bao xúc phạm đến Ngài, Ngài vẫn tìm cách đưa chúng ta về Thiên Ðàng, làm như thể không biết gì đến những tội lỗi của chúng ta vậy. Ngài như người mẹ ra tay cứu vớt và bồng bế đứa con khi nó sắp rơi xuống hố sâu và, sau đó, luôn quan tâm đến nó để nó khỏi hiểm nguy thì, ngược lại, đứa con cứ tiếp tục cào cấu mẹ và cư xử tồi tệ với mẹ mình!” Nhưng, một hôm, bài giảng của

Kính thưa Mẹ,

Con cái của Mẹ đang buồn Mẹ, đang giận, thậm chí đang ngao ngán Mẹ lắm! Cho nên, ”chúng nó có đứa” thì im lặng vì sợ CS bỏ tù, sợ không được cấp hộ chiếu về thăm mẹ sinh thành ở VN, sợ bị giết như Tổng Điền, sợ bị đày đọa như Đức Hồng Y Thuận, sợ bị giam cầm như Cha Lý, sợ bị mất ghế như Đức Tổng Kiệt, sợ mất lòng các Đấng làm Thầy, sợ đủ thứ, Mẹ ơi! Nhưng nỗi lo sợ lớn nhất là thấy Mẹ chưa can đảm như Tông Đồ của Chúa Giêsu khi Mẹ đối diện với Đảng CS vốn tôn thờ ”Chủ Nghĩa coi tôn Giáo là thuốc phiện”, khi Mẹ mỉm cười đón nhận vòng hoa của họ. Con khóc khi nhìn Mẹ đứng chụp hình với người của Trung Ương Đảng CS vì nghĩ đến Đức Tổng Kiệt, đến họ như là nụ hôn của Giuđa, vì Mẹ đã vô tình tạo điều cho họ chứng minh với Thế Giới rằng VN đang có tự do tôn giáo… Con không buồn hai Đức Giáo Hoàng đã tiếp lãnh tụ cộng sản ở Vatican vì các Ngài đã và sẽ thành công…! Còn Mẹ GHCGVN vẫn tiếp tục cái đà quan hệ ấy với CSVN, làm con quá đau lòng đến nỗi phải xin lỗi nhạc sĩ quá cố Trịnh Công Sơn, mà vô phép đổi lời nhạc của ông ta, rồi hát một mình, nhớ đến Giáo Xứ CỒN DẦU vô vàn kính yêu như sau:

”Mẹ đâu vắng?! Mẹ đâu vắng?! Con đi vô nhà thờ! Con đi vô nhà thờ! Con buồn, con quỳ, con khóc! Con buồn, con quỳ, con khóc! Khấn cho Mẹ tìm đến con! Khấn cho Mẹ tìm đến con!”

Kính thưa Mẹ,

Người xưa dạy: ”Bần cư trung thị vô nhân vấn! Phú tại sơn lâm hữu khách tầm!” Con tin rằng Mẹ biết rõ giáo dân nào, đồng bào nào nghèo khổ ở đâu đang cần bàn tay của Mẹ chìa ra cho họ được hôn Nhẫn của Mẹ đã kết hôn với Chúa Kitô, được ngắm dung nhan của các Linh Mục như Cha Thánh Gioan Maria Vianney đến viếng thăm họ ở vùng khỉ ho, cò gáy và nhất là những nơi con cái Mẹ đang bị bách hại! Con lạy Mẹ, xin các Mục Tử luân phiên đến thăm các vùng ấy cho Nước Cha trị đến! Xin Mẹ vui lòng gieo giống vào lòng đất tốt là những người nghe Lời và hiểu cặn kẽ để sinh hoa, kết trái và làm thành một trăm, sáu mươi hay là ba mươi, chứ Mẹ đừng gieo dọc đường, vào đất cằn, sỏi đá, gai góc để Lời bị quỷ dữ đến giựt đi như trong Tin Mừng theo Math. 13, 18-23!

Mẹ đã lỡ để mất biết bao Đền Thờ, Tu Viện của Mẹ từ biến cố 75 đến nay mà CỤ GIÀ chín mươi tuổi vừa mới công bố sơ lược hôm qua, 25.8.2010. Nhưng Đền Thờ mà Mẹ đã và sẽ còn mất nhiều hơn nữa là con cái của Mẹ trong và ngoài Nước như lời khẳng định của Thánh Phaolô: ”Anh chị em là Đền Thờ của Thiên Chúa!” (I Cor. 3, 16)

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, TGM Tổng Giáo Phận Sàigòn, con xin phép thay mặt con cái của Mẹ để ”góp ý cho Đại Hội Dân Chúa” và kính mong Mẹ cho ”chúng-con-đang-khóc” được bú thêm Lời Chúa để đi đứng vững mạnh trong Đức: Tin-Cậy-Mến!

Con kính chúc Mẹ được thành công rực rỡ trong Chương Trình ”Nước Cha Trị Đến!”

Nay kính,

Đaminh Phan văn Phước

Ghi chú:

1. Xin ghi ”Xin cứu chúng con thoát nạn cộng sản vô thần” thì thấy Đài Vatican có trọn cả Kinh này.

2. Chồng của bà Isa ve trùng tên với Tiên Tri Dacaria trong Cựu Ước là điều hết sức huyền nhiệm!

3. Con người chỉ khám phá ra định luật sức đẩy của nước (Archimède) có từ lúc ”tạo thiên, lập địa”!

4. Giám Mục phải điều tra thật kỹ trước khi truyền chức LM cho thầy nào đó. Giám Mục cũng nên cho giáo dân góp ý kín về LM của mình để cho HĐGM có danh sách kín mà xin Đ.G Hoàng chọn GM. Cộng Sản VN nhúng tay vào…thì ”kín” làm sao được?!


Nhóm giáo dân Sài Gòn: Góp ý cho Đại hội dân Chúa

Tháng Tám 26, 2010

I/.Cảm nghĩ:

Thoạt nghe mấy từ “Đại Hội Dân Chúa”, chúng tôi thấy nó đượm đầy niềm hân hoan và sự thân thương, nhưng nhìn vào thực trạng hiện nay của một Giáo Hội đang bị rách nát và phân hóa,  lại cảm thấy ngao ngán chán buồn! Góp ý? Nhưng là góp ý cho ai? Có ai nghe mà góp ý? Chứ góp ý như kiểu làm cho có lệ, cho ra vẻ lắng nghe, nhưng khi nhận được góp ý thì thẳng tay quăng ngay vào thùng rác như một số nơi từng làm, thì hỏi mình có nên đem tâm lực và thời giờ ra làm những việc không đâu đó không?

Nói là nói vậy, nhưng nghĩ lại, việc xây nhà GH là trách nhiệm của mọi người, vì vậy, chúng tôi, một nhóm giáo dân, sau khi đã có những lần ngồi với nhau, cùng suy nghĩ về Mẹ Giáo Hội của mình, cũng đã có một số ưu tư sau đây, xin gửi lên cho ĐẠI HỘI, để mong góp thêm viên gạch vào việc tân trang sửa chữa và xây dựng lại tòa nhà chung thân yêu này.

II/. GÓP Ý:

1/. Về số lượng người được ấn định tham dự Đại Hội:

– Qua tin tức đăng tải trên báo, thì số lượng tham dự viên của toàn ĐH là khoảng 280 đến 300 người, gồm các thánh phần Giám Mục từ 30 đến 40 người, Linh Mục Tổng đại diện 26 người,LM đại diện 26 giáo phận 26 người, LM Giám đốc các Đại chủng viện 8 người, đại diệnTu Sĩ các dòng 30 người, và ban thư ký 20 người (không rõ thành phần), còn đại diện cho toàn thể Giáo dân chỉ từ 120 đến 130 người.Theo chúng tôi nghĩ, con số này là quá thấp so với một cuộc hội nghị mang tên Đại Hội, và với một sự chuẩn bị tổ chức xem có vẻ quy mô lớn. Số tham dự viên là hàng GP,TS như vậy là quá đủ, nhưng GD thì quá ít. Không phải là đông người cho có vẻ hoành tráng bề ngoài, mà cần có nhiều người, nhất là những người tiêu biểu, có trình độ, để có thêm ý kiến, tiếng nói xây dựng GH. Và sau khi dự ĐH, thì những người  này còn phải về làm việc ở địa phương nhà. Nếu một giáo phận mà không có được vài chục đại diện GD, thì sao có thể làm việc được. Do đó con số tham dự phải ít nhất năm bảy trăm người để có thể gọi là một ĐH.

– Đã gọi là Đại Hội Dân Chúa, thì GM, LM, TS hay Giáo dân đều là dân chúa như nhau cả, thế mà với số GD quá đông gấp nhiều chục lần Giáo Sĩ, thì số đại diện của họ lại ít hơn của GS ( theo con số đưa ra là khoảng 150 đại diện GS, và từ 120 đến 130 đại diện GD) là không cân xứng. Nếu có cuộc bầu bán hay biểu quyết, thì số phiếu của hàng Giáo Phẩm gồm GM, LM, TS, sẽ áp đảo số phiếu ít ỏi của GD! Chưa kể  là các đại diện GD này không do GD đề cử, thì không biết những vị được “chọn” này là theo tiêu chuẩn nào, và những vị đó có thực là đại diện cho GD, dám chân thành nói lên tiếng nói, nguyện vọng, ý kiến của GD không? Do đó chúng tôi đề nghị nên tăng thêm số lượng người GD tham dự ĐH, cho tương xứng với tỷ lệ đông đảo GD, chẳng hạn nên chọn mỗi Địa phận ít nhất từ 10 đến 15 người GD đại diện. Số đại diện GD phải ít nhất gấp 3 lần đại diện GS, và nhất thiết phải là những người nhiệt thành, và dám nói những điều cần nói trước ĐH, vì xét ra cho đến thời điểm này thì vẫn có quan niệm và cả trong thực tế, coi vai trò của GD còn quá thấp kém trong GH, mọi quyết định dường như do hàng Giáo phẩm đảm trách hết, ngay cả lãnh vực Hôn Nhân Gia Đình là vấn đề của người GD, họ thực sự sống, có trải nghiệm sâu sa, mà những vị  tu hành sống độc thân lại cũng toàn quyền quyết định, hay thậm chí bỏ mặc kệ họ, chẳng thèm áp dụng cả những điều mà Tòa Thánh đã ban ra, đã được áp dụng ở GH mọi nơi, mà GHVN thì không, điển hình như việc tuyên bố vô hiệu phép hôn phối một số trường hợp gãy đổ mà nguyên nhân đã có từ khởi đầu do động lực hôn nhân không chính đáng!

Để có tiếng nói của mọi thành phần dân Chúa, thì phải có đủ các thành phần như Nam, Nữ, đại diện của giới công nhân, nông dân, trí thức, của giới ông, giới bà, của các thành phần vợ- chồng, con cái, thanh niên, thiếu nhi (vì còn nhỏ nên thiếu nhi không thể dự ĐH, mà là những huynh trưởng, những người lo cho thiếu nhi). Mọi thành phần đều cần có tiếng nói trong ĐH, và sau đó họ về địa phương nắm vững đường lối, sẽ làm việc dễ dàng hơn.

2/. Nên thường xuyên có những nghị hội GD ở mỗi địa phương: Sau ĐHDC lần này, thiết nghĩ nên theo mô hình đó mà thường xuyên tổ chức những nghị hội có GD mỗi khi cần bàn thảo hay quyết định một vấn đề hệ trọng của Giáo xứ, Giáo Hạt, Địa phận, chứ không phải chỉ có hàng GP gồm GM, LM tự định đoạt hết, không có tiếng nói GD hay GD chỉ ngồi cho có mặt.Tốt nhất, lần ĐH này, thật ra không thể đủ thì giờ để đi sâu vào rất nhiều vấn đề của GH cần được mổ xẻ bàn thảo, nên chỉ chú tâm soạn thảo ra các nguyên tắc để sau này áp dụng mà thôi.

3/. Về các đề tài đem ra thảo luận trong 4 ngày của ĐH: Nên cho công bố rõ ràng cụ thể ngay, để mọi người kịp thời góp ý, và người tham dự kịp hội ý hay chuẩn bị mà phát biểu (chứ không chỉ nghe!). Các đề tài không nên chỉ nghiêng về tín lý, giáo lý, thần học, mà nên có nhiều đề tài sâu sát với thực trạng GH và XH, có như thế mới kịp thời xây dựng GH trong lúc đang tối cần thiết này.

4/. Về tinh thần của ĐH: Nên áp dụng tinh thần NÓI THẲNG, NÓI THẬT , và có sự BÌNH ĐẲNG và TÔN TRỌNG LẪN NHAU giữa mọi thành phần dân Chúa tham dự ĐH, không nên dành quyền ưu tiên hay đặc quyền quyết định cho bất cứ ai. Nên lấy tinh thần DÂN CHỦ áp dụng trong ĐH, nếu cần thì biểu quyết bằng phiếu kín hoặc giơ tay, và quyết định theo đa số. Có như vậy thì mới đáng gọi là ĐHDC!

5/.Những góp ý cho việc xây dựng và canh tân GHVN, qua việc góp ý xây dựng hàng GP:

– Về Giáo Luật: Chúng tôi thấy có nhiều nơi, nhiều địa phận, hay nhiều giáo xứ không áp dụng luật của GH, của Chúa cho một vấn đề, mà áp dụng “luật của Cha, của Đức GM sở tại”! Nhiều LM hay GM kỹ tính hay có chút độc tài, thường hay có những “luật riêng”, áp dụng trong GX hay trong GP đó mà những nơi khác không có, khiến GD không biết là mình phạm tội với Chúa thật không! Ví dụ ở GP này thì các LM không được tham dự các tiệc tùng ở nơi GD, chỗ khác thì thoải mái; ở GX này 2 vợ chồng tránh thai không bằng phương pháp tự nhiên liền bị LM xứ rút phép thông công, có khi còn bị rao lên ở nhà thờ, nhưng đến cha khác hay xứ khác thì không, chẳng những không bị lên án mà còn được chia sẻ,khuyên răn. Giáo luật thì chỉ có một, thống nhất ở mọi nơi, hàng GP làm sao để áp dụng đúng cho GD khỏi hoang mang nghi ngờ về sự thống nhất luật của GH.

– Về lãnh vực Hôn Nhân Gia Đình: Trên toàn thế giới GH đều có sự quan tâm đặc biệt đến lãnh vực HNGĐ, nhiều nơi GM, LM đi sâu sát với các gia đình, thấu hiểu và lắng nghe họ để mà giúp đỡ, ủi an, kể cả “cởi gỡ” khi cần, cũng bằng Luật GH chứ không phải “luật riêng”, chỉ ở VN trong khi xã hội đã vô cùng phức tạp, các gia đình đang bị sóng gió và đau khổ rất nhiều, thì hàng GP vẫn lạnh nhạt làm ngơ. Tòa án hôn phối có tên nhưng không làm việc, ai “tự ý chia rẽ” thì GH, GS thường lên tiếng bằng cách chỉ trích, ghép tội, miệt thị, chứ không thấy gần gũi, ủi an, nâng đỡ, đặc biệt chỉ “cầm buộc” chứ không “cởi gỡ” như ở các nước khác. Như vậy e rằng những vị chủ nhiệm chưa chu toàn bổn phận Chúa giao, nhất là các vị “tu hành đồng trinh” mà soi xét đời sống hôn nhân gia đình một cách chủ quan thì e sẽ thiếu lòng nhân và đức ái!

– Về việc đào tạo các LM, TS: Nên chú ý bổ sung thêm phần NHÂN BẢN, NHÂN CÁCH, TÂM LÝ XH và đào luyện thêm về các ĐỨC TÍNH cần thiết như khiêm nhường, nhân hậu, trung thực v.v…, vì thực tế nhiều LM, TS khi ra tiếp xúc với GD, rao giảng Tin Mừng, còn tỏ ra yếu kém phần nhân bản, từ tư cách, lời nói đến ứng xử chưa phù hợp, nhất là còn tính kiêu căng tự phụ, thiếu đức ái, yếu kém về tâm lý quần chúng, nhiều khi gây phản cảm, và dĩ nhiên công việc rao giảng Tin Mừng của vị ấy bị sút giảm hiệu quả rất nhiều, đồng thời cũng làm sút giảm uy tín của hàng GP, điển hình như LM Giang của dòng Đa Minh mới đây! Đặc biệt nên tránh những hành động thiếu tế nhị, thậm chí xúc phạm GD, như LM quát nạt GD, thậm chí đánh, quăng ném trong nhà thờ, hoặc đứng trên tòa giảng mà phê bình chỉ trích người nọ người kia, điều đó không được phép, vì không phù hợp ý Chúa!

– Về việc tổ chức các lễ mừng Ngân,Kim Khánh hay lễ tấn phong GM: Có lẽ hàng GP cũng nên có sự bàn thảo nội bộ, hay có một quy chế riêng về những việc tổ chức liên hoan mừng Ngân Khánh, Kim khánh, và các lễ tấn phong…, sao cho nặng về phần thiêng liêng hơn là phô trương bề thế hay sự sang giàu. Ví dụ có những tiếng đồn đãi về những buổi lễ NK, KK ăn hàng tấn thịt chó, hay có những lễ mừng mời hàng ngàn người, xa gần thân sơ mời hết. Rồi cũng nhạc sống inh ỏi! Như thế chỉ gây phản cảm với những lời đồn đãi rất không hay: quá tốn kém, vênh vang quá, làm mất thì giờ vô ích của nhiều người, rồi tạo cơ hội ăn nhậu, trong khi thiếu phần thiêng liêng. Hay có những lễ tấn phong quá rình rang rườm rà, thậm chí có lời đồn vị được tấn phong còn thuê hẳn cả một chuyến máy bay riêng để chở khách mời! Tiếng đồn này cả GD và lương dân đều không thiện cảm hoặc có phần khó chịu! Không lợi ích gì về danh tiếng và dễ gây sốc, phạm vào đức bác ái, đức khiêm nhường! Giá như những dịp đó mà có một công tác cứu trợ người nghèo của người trong cuộc tổ chức, như một lời tạ ơn, thì là một gương lành và đẹp đẽ biết bao!

– Về việc ban phép Thêm Sức, cử hành Thánh Lễ của các GM: Người dân đồn đãi rằng hình như LM, GM chỉ biết nhận mà ít biết cho! Thậm chí nhiều người cảm thấy mất sự nể phục khi thấy mỗi khi GM đi cử hành Thánh Lễ hay ban Phép Thêm sức thường nhận bao thơ! Làm như GM đi làm những việc đó để được “trả công” bằng tiền, mà lẽ ra đó là trách vụ phải làm, cần làm của GM. Các LM thì có rất nhiều việc phải làm để lo cho con chiên, nhất là các LM lo xứ, nhưng hầu như GM thì không có mấy việc làm để phục vụ dân Chúa (chắc phải có, nhưng không cụ thể cho dân nhìn thấy), ngoài việc lâu lâu đi dâng lễ hay ban phép Thêm Sức ở xứ này xứ nọ khi được mời. Và sau khi được tiếp rước linh đình trọng thể, thì khi tiễn chân GM, bao giờ xứ đó cũng phải có một bao thư, không kể còn quà bằng hiện vật của địa phương kính biếu. Việc làm này không có “luật”, nhưng nơi nào cũng đều làm, thậm chí không  làm không… coi được! Và cứ bình thường thì các vị cũng cứ thoải mái nhận. Việc “gửi bao thư” này cũng không phải ít ỏi, nên đối với các xứ giàu có thịnh vượng thì không có vấn đề, nhưng có rất nhiều xứ nghèo, dân chúng lam lũ, không lo được bao thư nên cũng không dám mời GM về ban phép thêm Sức, đến nỗi có xứ mấy năm trời mới “được” GM đến ban phép một lần, có trẻ đã lớn mới được chịu PTS! Mà vì không có “lời mời” nên GM cũng không về! Nhiều GM tự tìm đến chăm lo đàn chiên mình, vì đó là nhiệm vụ bó buộc, nhưng nhiều vị cũng…quên luôn! Cũng vì tiền lệ “bao thư” mà làm nảy sinh những trường hợp “tiêu cực”, là hễ xứ nào lo được “bao thơ to” thì được chủ chăn năng đến hay vui vẻ đến mỗi khi có lời mời, còn nơi nào “bao thơ nhỏ” vì nghèo, thì ít được chủ chăn quan tâm hay ngại đến! (Dĩ nhiên chỉ là số ít trường hơp). Điều này chúng tôi cũng như nhiều người GD biết rất rõ, chứ hoàn toàn không có ý nói lên để phê phán oan sai cho một vài chủ chăn. Chúng tôi còn biết rõ có chủ chăn “làm xong việc” chỉ đợi nhận xong bao thư là về thẳng còn đi nơi khác, chứ không ở lại thăm hỏi các LM sở tại hay thăm hỏi con chiên nơi đó sống ra sao. Chính vì thế mà nhiều chủ chăn mù tịt về đời sống đoàn chiên của mình ở nơi này nơi kia ra sao!

Thiết nghĩ để chấn chỉnh việc này, chỉ có thể là chính các vị chủ chăn tự họp bàn với nhau mà định ra một tiêu chuẩn hay cách hành xử nào đó cho phù hợp với trách nhiệm, với ý Chúa, và tạo được sự kính mến của GD, chứ dứt khoát LM hay GD không dám tham gia vào, vì nói thế nào cũng đúng: coi đó là tiền xin lễ, hay đó là sự tự nguyện, thậm chí là sự “ép buộc” , không nhận cũng cứ đưa…! Tự quý vị mới hiểu rõ và “quyết định” được việc khó khăn này, tự cá nhân mỗi vị thì hơn, vì nhiều vị chủ chăn không làm như vậy, nói chung là xúc phạm đến các ngài!Lẽ ra khi chủ chăn về ban phép TS, không những không nhận bao thư, mà còn phải quan tâm giúp đỡ những xứ lẻ nghèo nàn, bằng cách tự đến thăm nom an ủi và “đem bao thơ” đến giúp đỡ thêm, nhất là nhiều nơi nhà thờ rách nát, GD không có ghế ngồi xem lễ, hay ngồi dưới mái chòi nhìn thấy trời mà xem lễ, Chúa cũng phải ngự trong một nơi quá “khiêm cung nghèo hèn”, nhưng GM bản quyền chẳng hề biết đến hay thấy bổn phận phải chăm lo cho “nhà Chúa”! Nhiều GX nghèo xây sửa nhà thờ, không được GM cho lấy một xu, mặc dù tiền cho cũng chẳng hẳn là tiền của các vị. Như thế quả thật là thiếu trách nhiệm, thiếu liên đới!

– LM, GM cũng cần làm gương về Đức Tin, Đức Bác Ái, Đức Hy Sinh, Đức Khó Nghèo, Đức Trung Tín cho GD. Nhiều vị không làm gương tốt cho GD mà còn ngược lại, nhất là còn có nhiều gương kiêu căng, độc đoán, xa hoa…không phù hợp với đời tu chút nào!

Tất cả những góp ý trên chỉ vì lòng chân thành và nhiệt tình nhà Chúa, tuyệt nhiên không có ý phê bình chỉ trích, nhất là tuyệt nhiên không có ý “xúc phạm” hay “phá hoại”. Xin Chúa chứng giám, và ban nhiều ơn lành cho mọi thành phần trong GHCGVN, nhất là ơn canh tân sửa chữa, để GH Chúa được sáng ngời trước muôn dân. Xin tạ ơn Người và kính chúc ĐH thành công.

MỘT NHÓM GÍAO DÂN Ở SG

SG  15/8/2010


“Tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình”: cơ may nào cho Giáo hội Việt Nam?

Tháng Tám 26, 2010

Theo Thông báo của Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, kèm thư mời của học giả Nguyễn Đình Đầu, trong hai ngày 27-28/8/2010, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cố Tổng Giám mục Phaolô  Nguyễn Văn Bình, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình sẽ tổ chức cuộc tọa đàm: “Chân dung một vị mục tử” nhắm chứng minh rằng, nơi ngài không có sự đối nghịch giữa niềm tin, lòng yêu mến Giáo Hội với lòng yêu quê hương, gắn bó dân tộc. Phân tích tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình, trên cơ sở tinh thần, đường lối xuyên suốt của Giáo Hội”.

Thực chất của một ý đồ

Việc Tổng Giáo phận Sài Gòn tổ chức những hoạt động mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình (1/9/1910-1/9/2010) là một việc làm đầy tính nhân văn, đúng đắn, cần phải nhân rộng.

Tuy nhiên, phác thảo chân dung ngài để nhằm dựng nên một biểu tượng mới, cổ võ cho lập trường “thỏa hiệp với cộng sản” như người ta đang có ý định làm, thì quả là điều đáng tiếc. Điều này chứng tỏ những gì đã xảy trong Giáo hội những tháng ngày qua không những không làm thay đổi những quan điểm của một số Giám mục Việt Nam. Trái lại, đang làm cho một số vị Giám mục quyết tâm hơn trong việc hướng Giáo hội Việt Nam “tiến nhanh, tiến mạnh” trên con đường quốc doanh hóa Giáo hội theo hướng “Phúc âm, dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội”.

Ai cũng biết, những biến cố xảy ra trong Giáo hội những tháng ngày qua, ngoài những tham vọng cá nhân chi phối, thì quan trọng nhất vẫn là những sự bất đồng về chủ trương, quan điểm trong nội bộ HĐGMVN: một số vị chủ trương thỏa hiệp để được việc và số khác chấp nhận dấn thân đấu tranh cho công lý và công bằng xã hội, phục vụ người nghèo khổ, không tiếng nói trong xã hội như đường hướng của Hội Thánh Chúa.

Sau khi mọi sự thật được bạch hóa, nhóm chủ trương thỏa hiệp tiếp tục tìm bệ đỡ bằng cách cử Đức Hồng y Mẫn qua giải độc nơi tận Rôma. Trong nước, người ta thấy có một sự xích lại gần hơn nơi các vị mục tử theo chủ trương này.

Thánh lễ phong chức cho Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp – giáo phận Vinh, với những vị trí quan trọng trong thánh lễ được dành cho các Giám mục thoả hiệp, khiến nhiều người ngạc nhiên.

"Dàn đồng ca áo tím", "Giám mục tượng Hồ" nhìn rõ mặt và Đức Cha Cao Đình Thuyên, ĐC Nguyễn Văn Yến trong Thánh lễ tấn phong Giám mục Nguyễn Thái Hợp tại Giáo phận Vinh ngày 23/7/2010.

Nhưng, sẽ không ai ngạc nhiên, khi biết rằng sau khi các thông tin bị bạch hóa, những nhân vật trong “dàn đồng ca” thật sự bị động và lúng túng trước những phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng dân Chúa thì đã lui vào im lặng. “Người cầm lái vĩ đại” là Đức ông Cao Minh Dung đã bị vạch trần và đã không còn nhiều tác dụng cho “dàn đồng ca” trong nước cũng như nhà nước CSVN bám víu.

Và họ đã âm thầm kết nối với nhau với phương châm “Cùng hành động hay là chết” để bằng mọi cách buộc cộng đồng dân Chúa chấp nhận một sự đã rồi không thể thay đổi (!)

Từ chỗ chỉ đồng quan điểm, nay các vị theo chủ trương thỏa hiệp, trở nên “đồng sinh đồng tử” và quyết tâm cùng nhau thực hiện cho bằng được chủ trương thỏa hiệp nhắm chứng minh cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam thấy rằng “đường lối thỏa hiệp” là đúng theo tinh thần của Công đồng Vatican II và sẽ là đường hướng của Giáo hội Việt Nam trong tương lai.

Với ý định và quyết tâm ấy, biến cố kỷ niệm 100 năm sinh nhật Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã trở thành dịp may hiếm có để nhóm “thỏa hiệp” có cơ hội khuyếch trương “tinh thần Phaolô Nguyễn Văn Bình” – từ dùng của ban tổ chức, tới mọi thành phần trong Giáo hội Việt Nam, bởi Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình vốn là một mục tử ôn hòa, được mọi người yêu mến.

Theo chúng tôi được biết, sau khi gửi bài tham luận tới ban tổ chức, linh mục Chân Tín DCCT đã nhận được cuộc điện thoại từ một vị Giám mục yêu cầu cắt bỏ một số đoạn trong bài tham luận của ngài, với lý do “nhạy cảm”. Chưa biết linh mục Chân tín có được đọc bài tham luận này không? Như thế đủ biết, mục đích của buổi tọa đàm không nhắm trình bày chân dung thật sự của một con người lịch sử, nhưng là để tìm một “thần tượng mới” cho lập trường quan điểm của nhóm để khẳng định đường hướng thỏa hiệp là đúng đắn, hợp với tinh thần của Công đồng Vatican II.

Việc Giáo hội tôn dương một con người như mẫu gương cho người khác là chuyện hết sức bình thường đã từng diễn ra trong lịch sử Giáo hội.

Không ai phủ nhận tầm quan trọng và vai trò có tính lịch sử của Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, nhất là lịch sử của Tổng Giáo phận Sài Gòn những năm 1975 – 1990, một giai đoạn lịch sử mà phải nói được rằng “tồn tại được đã là may mắn”.

Tuy nhiên, lấy ngài làm biểu tượng cho một thời đại mới, với những biến chuyển lớn lao trong Giáo hội cũng như xã hội, thì lại là điều cần có thời gian và những tranh luận học thuật, nhất là hãy để công luận đánh giá những đóng góp hay những thiếu sót của ngài.

Bởi thời đại của Đức Tổng Phaolo Nguyễn Văn Bình với thời đại này đã khác và khác rất nhiều. Từ chỗ phong trào cộng sản đang thế như chẻ tre, với những ngón đòn độc tài toàn trị bịt miệng đàn áp dân lành, bách hại tôn giáo sau bức màn sắt mà không cần gì thế giới còn lại. Đến nay, sau mấy thập kỷ, cả thế giới đã thay đổi cơ bản. Chủ nghĩa Cộng sản đã thi nhau sụp đổ từng mảng đến toàn diện. Giờ đây còn lại mấy mống như Trung quốc, Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam chìm trong nghèo đói và tụt hậu đã chứng minh cho thế giới biết rằng con đường chủ nghĩa cộng sản là hoang tưởng và là con đường đau khổ của những dân tộc nào vô phúc dính vào nó. Chủ nghĩa cộng sản đã bị ngay chính cái nôi sinh ra nó nguyền rủa và vứt vào sọt rác lịch sử từ lâu. Những chính thể cộng sản còn lại đang cô đơn, vất vưởng và bị khinh miệt, xa lánh của thế giới loài người.

Vì vậy, chính quyền CSVN đã buộc phải thay đổi phương thức và phương thế chiến thuật với các tôn giáo.

Ngài là một vị mục tử hiền từ, rất cần cho Giáo hội Miền Nam trong những năm 1975-1990 của thế kỷ trước. Ngài là người không có nhiều kinh nghiệm về chế độ cộng sản, nên có lẽ ngài cũng không hiểu được những gian trá của chế độ cộng sản vô thần, do đó, đã có những sai lầm trong chọn lựa dấn thân của chính ngài.

Chính vì vậy mà những hoạt động của Đức TGM Phaolo Nguyễn Văn Bình trong thời gian cộng sản khát máu và thế lực đó không thể phù hợp với giai đoạn hiện nay.

Biến ngài thành biểu tượng lúc này để dẫn dắt Giáo hội Việt Nam theo con đường do một “nhóm người vạch sẵn”, thì chẳng khác gì cộng sản biến ông Hồ thành cha già dân tộc và hậu quả của chính sách ấy đã để lại những hậu quả khôn lường cho dân tộc Việt Nam.


Cần thiết phải minh định một cách rõ ràng, Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình là một con người, một chứng nhân lịch sử, đã có những đóng góp nhất định cho Giáo hội Việt nam vào một giai đoạn lịch sử cụ thể.

Ngài là một vị mục tử hiền từ, rất cần cho Giáo hội Miền Nam trong những năm 1975-1990 của thế kỷ trước. Ngài là người không có nhiều kinh nghiệm về chế độ cộng sản, nên có lẽ ngài cũng không hiểu được những gian trá của chế độ cộng sản vô thần, do đó, đã có những sai lầm trong chọn lựa dấn thân của chính ngài.

Trong bài “Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn dưới Chế độ mới”, linh mục Chân Tín DCCT đã nêu ra 6 biến cố tiêu biểu, cho thấy Đức cố Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình đã có những sai lầm chết người, gây ra những hậu quả đau lòng cho những ai liên hệ.

Vậy, cơ may nào cho Giáo hội Việt Nam khi có một số vị trong HĐGMVN chủ trương thỏa hiệp với cộng sản đang cố cách dựng Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình lên làm biểu tượng mới cổ võ cho lập trường của họ?

Người Công giáo Việt Nam hy vọng gì trong cuộc họp HĐGMVN từ ngày 4-8/10/2010 sắp tới, khi nhóm chủ trương thỏa hiệp đang tìm mọi cách chứng minh cho thấy rằng, những gì họ chủ trương đều đúng đắn, hợp với Công đồng Vatican II, đã được Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình thể hiện cách xuất sắc?

Tưởng rằng, tiếng nói phản biện của người giáo dân trong những tháng ngày qua về “sự im lặng đáng sợ” của các đấng bậc trong Giáo hội phải là tiêu chí giúp nhận định và thay đổi cách nhìn, cũng như lập trường của các vị lãnh đạo Giáo hội, giúp vạch ra con đường mới cho Giáo hội Việt Nam bước đi trong tương lai, nhưng hình như, những lên tiếng ấy chỉ được gọi tên là “bóng ma” hay “bị thế lực thù nghịch với Giáo hội” kích động gây chia rẽ.

Giáo hội Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chắc chắn, với những gì đã và đang diễn ra, sẽ không có sự thay đổi lập trường quan điểm nơi một số vị lãnh đạo Giáo hội cổ võ chủ trương thỏa hiệp đang nắm trọn quyền lực trong tay.

Trong thời gian tới, chính quyền cộng sản sẽ ra sức ủng hộ cho nhóm này bằng cách tích cực ban phát nhiều ơn huệ cho những ai theo chủ trương này nhắm khẳng định chủ trương thỏa hiệp là đúng đắn, đôi bên cùng có lợi.

Giáo hội Việt Nam tiếp tục đồng hành cùng dân tộc bằng chủ trương đồng hành với chế độ cộng sản, để cùng cả nước “tiến lên chủ nghĩa xã hội” với khẩu hiệu: “Phúc âm, Dân tộc, Chủ nghĩa Xã Hội”.

26/8/2010

Nữ Vương Công Lý


Nhân một bài báo của tác giả Nguyễn Đình Đầu

Tháng Tám 26, 2010

Vài lời thưa trước: Ông Nguyễn Đình Đầu, phó Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình vừa gửi một Thư Mời tham dự một cuộc tọa đàm với chủ đề “Chân Dung Một Vị Mục Tử” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đ/TGM Bình với mục tiêu được chỉ rõ trong thư là “để tưởng nhớ một vị Mục tử khả kính và trao đổi thêm đường hướng mục vụ của Ngài, quy chiếu vào bối cảnh ngày nay”. Cuộc tọa đàm sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28-8-2010 tại trụ sở CLB số 43 đường Nguyễn Thông, Sàigòn. Trong số các thuyết trình viên, ông NĐĐ cho biết có các LM Huỳnh Công Minh và Phan Khắc Từ, HY Phạm Minh Mẫn phát biểu khai mạc và GM Nguyễn Thái hợp có bài đề dẫn.

Nối theo bài viết của LM Chân Tín đăng trên mạng Nữ Vương Công Lý, để rộng đường dư luận, nhân dịp này chúng tôi quyết định tái công bố bài viết sau đây để gửi tới độc giả trong và ngoài nước.

Trân trọng: TPV.

Trong số 36&37 phát hành tháng 11&12/95 vừa qua, tạp chí Thời Điểm Công Giáo do nhà văn Quyên Di chủ trương, phát hành tại nam California, Hoa Kỳ đã đăng tải một bài của ông Nguyễn Đình Đầu (NĐĐ) với nhan đề: “VỀ ĐƯỜNG HƯỚNG MỤC VỤ CỦA ĐỨC TGM NGUYỄN VĂN BÌNH VỪA QUA ĐỜI: Mặc Dầu Bị Khó Khăn Hay Trấn Áp, Giáo Hội Vẫn Rao Giảng Tin Mừng Và Không Chịu Ở Thầm Lặng”.

Ông Nguyễn Đình Đầu - Phó Chủ tịch cái gọi là "Ủy ban đoàn kết công giáo"

Đã lâu lắm rồi tôi không muốn nghĩ tới ông cũng như những khuôn mặt cùng loại còn ở trong nước hoặc đã thoát ra hải ngoại, mặc dầu thỉnh thoảng có anh em nhắc tới. Cách đây mấy năm, tôi đọc thấy tên ông trong một ký sự của Tom Fox trên tờ National Catholic Report (NCR) và trong một vài cuốn sách biên khảo, hồi ký về những vấn đề thời sự trong nước. Trong những dịp như vậy, tôi thường tìm cách né tránh không cho trí tò mò có cơ hội ngừng lại lâu hơn để tìm hiểu thêm về con người có một nhân dáng dễ thương, lịch sự, trang phục chải chuốt, ăn nói nhỏ nhẹ, lúc nào cũng có vẻ như không chú ý tới chuyện gì chung quanh nhưng lại là người đã sắm những vai trò tích cực trong những biến cố quan trọng liên quan tới thân mệnh Giáo Hội và đất nước hiện nay cũng như trong nhiều thập niên qua

I.- NỘI DUNG BÀI BÁO

Đọc qua nội dung bài báo trên đây, những người không theo dõi thời cuộc, nhất là không biết rõ con người, hành vi, tư cách của tác giả, sẽ không thể nào nhận ra được những mục tiêu thầm kín ẩn giấu bên trong và đàng sau những giòng chữ xem ra có vẻ hiền lành, chơn chất ấy. Có thể nói rằng hầu hết những điều ông Đầu viết về Đức Cố TGM Nguyễn Văn Bình đều không sai. Quả thật Ngài là người cha nhân lành và cần mẫn, vị chủ chăn giầu lòng đạo đức, luôn có thái dộ hiền hòa, bao dung, độ lượng……..Có điều lòng đạo đức, thái độ khoan hòa, bao dung, độ lượng ấy đã bị ông và phe nhóm uốn nắn và lạm dụng ra sao thì không thấy tác giả bài báo đề cập, và cũng là điều những độc giả của ông muốn biết.

Sau khi nói về những đức tính đáng quý của cố TGM Bình, tác giả viết tiếp: “Nếu chiến tranh không giải quyết bằng tương nhượng (thỏa hiệp Paris chỉ nhằm việc Mỹ rút quân) tất phải có kẻ thắng người bại. Ngày 30/4/1975, chính quyền Cộng sản thắng và cai trị toàn quốc Việt Nam. Cả hai Đức TGM Huế và Sàigòn đều lên tiếng đón chào chính quyền mới và khuyên giáo dân nên tích cực hợp tác để tái thiết đất nước và xây dựng một xã hội công bằng bác ái. Các ngài hàm ý là trên phạm vi trần thế, người Công giáo vẫn có thể cộng tác với cộng sản -nhất là khi cộng sản cầm quyền- hay bất cứ ai để thực hiện những điều tốt lành mà vẫn lấy động cơ và quy chiếu nơi Thiên Chúa.

“Tháng 12/1975, Hội Đồng Giám Mục của cả hai giáo tỉnh Sàigòn – Huế họp tại Trung Tâm Công Giáo như thường lệ. Thư chung của HĐGM Miền Nam đưa ra khi bế mạc đã nói lên rõ đường hướng mục vụ của Giáo hội dưới chế độ mới: một giáo hội cởi mở, hợp tác và tiếp tục rao giảng Tin Mừng – một Tin Mừng yêu thương và phục vụ con người. Đức Tổng Bình đóng vai trò chủ yếu trong Hội Đồng và Thư Chung Mục Vụ này. Với phong độ hiền hòa, nhưng với kinh nghiệm chủ chăn của 20 năm vừa xáo trộn vừa trưởng thành, lại có một giáo phận với một hàng ngũ linh mục tài đức, một hệ thống dòng tu vững chắc, một tầng lớp đông đảo giáo dân trưởng thành, Đức Tổng Bình thấy phải thực hiện một Giáo hội cởi mở tiếp tục sứ mạng công khai, không nên khép kín hay chịu ở thầm lặng như tại một số nước cộng sản khác………”

Trong phần kế tiếp, tác giả nói tới phiên họp đầu tiên của HĐGMVN tại Hànội vào năm 1980 mà theo ông “Hầu như  Đức Tổng Bình cũng đóng vai trò chủ yếu  để xác lập một đường hướng mục vụ cởi mở công khai chung cho cả nước”. Nhưng rồi vẫn theo ông NĐĐ, cũng năm đó, những khó khăn cay nghiệt bắt đầu xuất hiện. Ông viết: “Các tôn giáo đều bị coi là đối tượng cải tạo. Tất nhiên, tùy địa phương, có nơi gắt nhiều, có nơi gắt ít. Hình như Huế là nơi gắt nhất. Đức Tổng Điền bị dồn tới chân tường, phải tới công an “làm việc” mấy trăm lần (theo lời Ngài kể), cho tới khi gần qua đời…. Tình hình ở Sàigòn có đỡ hơn, nhất là từ 1986 đến 1990. Đức Tổng Bình vẫn kiên trì theo đường hướng mục vụ Giáo hội cởi mở, mặc dầu phải đối phó với không biết bao nhiêu khó khăn, như các vụ Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, Phong Thánh, linh mục bị cải tạo, chủng viện, phong chức và thuyên chuyển linh mục, cấm người Công giáo không được học một số trường hoặc làm một số nghề…….”

Nguyễn Đình Đầu với Bộ trưởng Công an VNCS Mai Chí Thọ

“Tôi xin thưa với anh Lan là ai cũng có quyền phê phán con người công cộng của kẻ quá cố. Nhưng kẻ quá cố lại là cha mình thì càng không nên đưa ra những thông tin trái với sự thực lịch sử………”

II.- NHỮNG ĐIỀU CẦN NHÌN LẠI

Điểm qua nội dung bài báo, ta thấy xuất hiện một số vấn đề cần được duyệt xét lại trước khi tìm hiểu kỹ hơn về con người tác giả, hầu xác định mục tiêu tiềm ẩn mà ông muốn gửi tới độc giả hải ngoại, nhất là những thành phần có tín ngưỡng Công giáo. (Vì không nằm trong mục tiêu chính của bài nhận định này nên có những vấn đề đã không được bàn đến, mặc dầu nó không đúng với điều mà tác giả quen gọi là “những sự thật lịch sử”, thí dụ như cách hiểu sai lạc, vì vô tình hoặc cố ý, của tác giả khi ông ghi chú ‘thỏa hiệp Paris chỉ nhằm việc Mỹ rút quân’ chẳng hạn).

1./ Khi Lòng Khoan Hậu Của Vị Cha Chung Bị Lợi Dụng: Trước hết, trong bài viết ông Đầu đã không tiếc lời ca ngợi đức tính khoan hòa, độ lượng của Đức TGM Nguyễn Văn Bình. Điều này mọi người Công giáo đều đã biết rõ. Tuy nhiên, khi đọc tới đoạn văn trên đây, những người hiểu rõ nội tình sự vụ đã không giấu được cảm giác xót xa cay đắng khi nhớ lại những hành vi bất chính của một số người, trong đó có ông NĐĐ, đã khai thác lòng khoan hậu của vị Cha chung nhằm thực hiện những mưu đồ của cá nhân phe nhóm mà mục tiêu tối hậu là triệt tiêu đi lực đối kháng quan trọng nhân danh hòa bình, công lý và sự thật trước sự phá phách của sự dữ là chủ nghĩa vô thần CS.

Những trang ghi chép của linh mục Chân Tín ghi lại chi tiết những buổi họp định kỳ tại Tòa TGM Sàigòn với sự hiện diện của Đức Cha Bình, các LM Chân Tín, Mai Xuân Hậu, Nguyễn Huy Lịch và người giáo dân duy nhất là ông NĐĐ hồi cuối năm 89, đầu 90, đã giúp cho người ngoại cuộc hiểu được tại sao ở Sàigòn hồi ấy có lời xào xáo là Đức Tổng Bình đã bị một số người khống chế tư tuởng, thậm chí lèo lái cả những quyết định và hành động của ngài.

Sau đây là một trong những trường hợp điển hình. Vào khoảng giữa năm 1989, 20 nhân vật thuộc thành phần trí thức Công giáo đã gửi lên Đức Cha Bình một bức thư để trình bày 3 vấn đề. Thứ nhất là xin Ngài có thái độ đối với “ông LM” Phan Khắc Từ vì ông này đã công khai vi phạm luật sống độc thân. Thứ hai xin đặt lại quan hệ gặp gỡ giữa Tòa TGM và Nhà Nước: nên trực tiếp mà không qua trung gian Ủy Ban ĐKCGYN. Và thứ ba là yêu cầu Đức Cha Bình có thái độ tích cực đối với trường hợp Đức Cha Thuận.

Xuyên qua những ghi nhận của cha Chân Tín, người ta được biết, trong khi đem ra bàn thảo những đề nghị được coi là hết sức chính đáng trong bức thư kể trên, hầu giúp Đức TGM có được những quyết định sáng suốt, thì cũng như những lần họp bàn quan trọng khác, cùng với các LM Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, ông NĐĐ đã tìm hết cách để chi phối và uốn nắn những suy nghĩ cũng như quyết định của Đức Cha. Kết quả là hầu hết những đề nghị xây dựng của anh em giáo dân đã không được đếm xỉa tới, kể cả đề nghị xét lại tư cách LM của ông Phan Khắc Từ cũng như đề nghị loại bỏ vai trò trung gian của cái gọi là UBĐKCGYN trong mối giao tiếp giữa giáo quyền và nhà nước CS.

Chi tiết dưới đây cũng là một chứng liệu hiển nhiên cho thấy hành vi công khai và trắng trợn của ông NĐĐ nhằm khống chế mọi suy tư, hành động của người cầm đầu Tổng Giáo Phận Sàigòn sau ngày CS làm chủ miền Nam:  “…..việc lên án các vụ Vinh Sơn, Đắc Lộ, Dòng Đồng Công ….đều có bàn tay thúc đẩy của Nguyễn Đình Đầu. Chính NĐĐ đã soạn thông cáo của Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn lên án vụ Dòng Đồng Công rồi cầm lên thúc bách Đức TGM Nguyễn Văn Bình ký tên vào, nhưng Đức TGM không chịu ký. Nguyễn Đình Đầu đã lấy con dấu của Tòa TGM đóng vào rồi gửi cho các báo Việt Cộng yêu cầu công bố” (1).

Cho nên có thể nói chắc mà không sợ sai lầm rằng phần lớn não trạng của Đức Cha Bình thể hiện trong cách hành sử của Ngài trong mối liên hệ với Nhà Nước CS thường bị dư luận đương thời coi là “nhu nhược”, là “thỏa hiệp” với kẻ ác, đều đã được uốn nắn bởi những giáo dân kiểu NĐĐ bên cạnh những khuôn mặt tiêu biểu trong cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Yêu Nước như Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Thiện Cẩm v.v….

Nguyễn Đình Đầu với Thủ tướng VNCS Phạm Văn Đồng

2./ Từ Ngôn Từ Tới Thực Chất: Trong bài viết, ông NĐĐ cho hay, sau khi CS chiếm được miền Nam, cả hai Đức TGM Huế và Sàigòn đều lên tiếng đón chào chính quyền mới. Trong thư chung công bố sau khóa họp thườøng niên tháng 12/1975, Hội Đồng Giám Mục của cả hai giáo tỉnh Huế, Sàigòn đã nói rõ đường hướng mục vụ của giáo hội dưới chế độ mới: một giáo hội cởi mở, hợp tác và tiếp tục rao giảng Tin Mừng. Phải nói ngay rằng đây là một sự lựa chọn thức thời, khôn ngoan và sáng suốt. (Chính Đức TGM Nguyễn Văn Thuận, người từng bị những thành phần Công giáo cấp tiến như ông NĐĐ xua đuổi, lên án (2) và mở đường cho CS cầm tù 13 năm trước khi bị trục xuất ra hải ngoại, cũng chia sẻ một đường hướng mục vụ trên đây của hai Đức TGM Huế và Sàigòn. Trả lời cuộc phỏng vấn của ông Jacques Berset, Giám Đốc hãng thông tấn Công Giáo APIC của Thụy Sĩ ngày 20/10/93, Đức Cha Thuận nói: “Điều chắc chắn là Giáo hội tại Việt Nam phải tiếp tục làm việc và sống còn dù trong bất cứ cảnh ngộ nào.” Tuy nhiên, tiếp tục làm việc và sống còn không có nghĩa là khom lưng quỵ lụy trước bạo lực, đồng lõa với sự ác, đi ngược lại huấn quyền Tòa Thánh. Quan niệm như vậy nên cũng trong cuộc phỏng vấn trên đây, Đức TGM Nguyễn Văn Thuận đã nhấn mạnh rằng “Đối với tôi, điều quan trọng là ý kiến của Tòa Thánh, và Tòa Thánh dạy phải tuân theo luật Chúa” (3).

Là những bậc chủ chăn có trách nhiệm về sư tồn vong của giáo hội quê nhà, dù Đức Cha Bình, Đức Cha Điền, Đức Cha Thuận hay vị Giám Mục nào khác đều không thể nuôi tiên kiến, tư kiến hoặc thành kiến đối với bất cứ ai, với bất cứ khối lực cầm quyền nào, kể cả CS, nhất là trong bước đầu của một cuộc thử nghiệm. Nhưng, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn khi giai đoạn thử nghiệm đã qua và kẻ thắng đã công khai bộc lộ chân diện là một thứ bạo quyền, biểu tượng của cái ác, và là căn nguyên của nô lệ, tù đầy, hận thù, chết chóc, khiến cho mục tiêu “hợp tác để tái thiết đất nước và xây dựng một xã hội công bằng bác ái” cũng như “đường hướng cởi mở, hợp tác” ngõ hầu có thể “tiếp tục rao giảng Tin Mừng” trở thành không tưởng! Chính từ đấy đã đặt ra những sự lựa chọn nhức nhối cho Đức TGM Nguyễn Kim Điền, cho LM Chân Tín, LM Nguyễn Văn Lý và những anh em trí thức Công giáo như  Nguyễn Ngọc Lan, Đoàn Thanh Liêm, Ngô Văn Ân, Vũ Sinh Hiên, Hồ Công Hưng, Nguyễn Quốc Thái v.v……

Khi đặt bút viết: “Đức Tổng Điền bị dồn tới chân tường, phải tới công an “làm việc” mấy trăm lần (theo lời Ngài kể), cho tới khi gần qua đời…” không hiểu ông NĐĐ có đủ lương thiện tối thiểu để tự hỏi về cái căn nguyên đưa tới sự thể đau xót ấy không? Có điều khi đọc mấy chữ để trong ngoặc đơn (theo lời Ngài kể) trong mạch văn trên đây của ông Đầu, người đọc không thể không nảy sinh ý nghĩ là dường như ông Đầu không mấy tin rằng sự kiện Đức TGM Nguyễn Kim Điền bị bạo quyền CS khủng bố là có thật, hoặc ít nữa thì ông cũng có dụng ý tạo sự hoài nghi đối với độc giả của ông về sự kiện này. Hơn ai hết, hẳn ông NĐĐ chưa quên được nội dung bức Thư Chung của Đức TGM Điền gửi các LM, TS, giáo dân thuộc Tổng giáo phận Huế ngày 17/10/1984 sau khi Ngài bị công an Nhà nước thẩm cung trong 3 tháng trời liên tiếp chỉ vì Ngài không chấp nhận cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước.

Trong Thư Chung, Đức TGM Huế đã thuật lại nguyên văn những lời hạch hỏi của công an cũng như những câu trả lời của Ngài. Khi người thẩm vấn khẳng quyết “UBĐKCGYN được luật pháp Nhà nước cho phép và bảo trợ…..nếu chống là chống lại pháp luật và chính sách của Nhà nước”, Đức TGM đã khảng khái trả lời: “Tôi xác định khi luật pháp thế trần nghịch với luật Thiên Chúa, thì cũng như các Thánh Tông Đồ xưa và các Thánh Tử Đạo của mọi thế hệ: Tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta.” Trong phần cuối Thư Chung, Đức Cố TGM Huế viết:

“Tuy là chủ chăn, nhưng tôi không còn có thể đi thăm viếng từng cộng đoàn, từng họ đạo để nói lời khích lệ nữa. Tuy nhiên, anh chị em biết là Giám Mục của anh chị em đang thấy trước mặt mình mỗi ngày từng ngôi nhà thờ, và canh cánh bên lòng từng họ đạo, từng Cộng Đoàn: Tôi hằng cầu nguyện và hiến tế với anh chị em. Xin nhắc anh chị em Hãy sống xứng đáng với Ơn Gọi của mình. Hãy hăm hở duy trì sự hiệp nhất của Thánh Thần. Còn về tương lai, Anh chị em hãy phấn chấn lên trong Chúa, trong mãnh lực quyền phép của Ngài” (4).

Một câu hỏi được đặt ra: lý do nào khiến cho Đức TGM Nguyễn Kim Điền từ tư thế sẵn sàng hợp tác với nhà cầm quyền mới lúc ban đầu, đã bị đẩy vào chân tường (như lời thuật lại của ông NĐĐ), bị công an Nhà nước bắt “làm việc” triền miên trong nhiều tháng trời để rồi mấy năm sau đó đã phải chấp nhận cái chết với nhiều nghi vấn (Nhật ký 1989-1990 của Nguyễn Ngọc Lan đã ghi lại những lời bàn tán xôn xao của dư luận đương thời chung quanh cái chết của Đức TGM Nguyễn Kim Điền. Và trong tuyên ngôn 10 điểm công bố ngày 24/11/1994 (5), LM Nguyễn Văn Lý đã mệnh danh cái chết này là một cuộc Tử-Vì-Đạo.) Câu trả lời tìm thấy qua nội dung Thư Chung của Đức TGM Huế vừa được đề cập trên đây. Câu trả lời cũng được tìm thấy qua những tiếng nói bất khuất của GS Nguyễn Ngọc Lan, LM Chân Tín, LM Nguyễn Văn Lý cùng những người trí thức Công giáo đã công khai viết thư cho Hội Đồng Giám Mục và Đức TGM Nguyễn Văn Bình (6).

Và nếu nhìn sâu vào sự việc người ta còn tìm thấy câu trả lời hùng hồn xuyên qua những yêu sách của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sau mỗi kỳ họp, trong đó nhiều vấn đề đã được nêu ra, từ khía cạnh nhân sự (như chủ trương can thiệp quá sâu của nhà nước nhằm gây khó khăn trở ngại cho Giáo hội trong việc tuyển chọn ứng viên vào các chủng viện, việc phong chức Linh mục, việc cấm LM cựu Tuyên úy thi hành công tác mục vụ sau khi được phóng thích, nhất là thái độ tráo trở, bất nhất đối với những quyết định của Tòa Thánh trong việc chỉ định các Đức Giám Mục điền khuyết vào các Giáo phận còn trống ngôi mà điển hình là trường hợp Đức Cha Huỳnh Văn Nghi đã bị cấm đoán không cho thi hành chức vụ Giám Quản của Ngài tại Tổng Giáo Phận Sàigòn….) tới khía cạnh văn hóa, giáo dục, xã hội, truyền thông (như thái độ độc đoán của nhà cầm quyền CS trong việc cấm hoặc giới hạn khắt khe các hoạt động có tính cách xã hội hoặc giáo dục của các nữ tu, gây khó khăn cho HĐGM trong việc quảng bá những tin tức của GH vì kể từ sau tháng 4-1975 đến nay, GHVN chưa hề có một tờ báo nào, mặc dù đã chính thức lên tiếng đòi hỏi nhiều lần – Chi tiết này chắc ông NĐĐ cũng như những thành phần trong cái gọi là UBĐKCGYN không muốn nhớ, vì nó minh nhiên cho thấy thái độ dứt khoát của các Đức Giám Mục Việt Nam là luôn luôn phủ nhận sự hiện hữu của tờ Công Giáo & Dân Tộc!)

Đặc biệt trong những văn thư gửi nhà cầm quyền CS, các Đức GM còn thẳng thắn lên tiếng yêu cầu hoàn trả cho GH những cơ sở tôn giáo từng bị nhà nước chiếm hữu, trong đó có Giáo Hoàng Chủng Viện và cả Tòa Giám Mục. Tất cả những yêu sách trên đây đã được HĐGMVN lập đi lập lại sau mỗi kỳ họp thường niên. Trong văn thư gửi Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng, chủ tịch HĐGMVN đề ngày 3-2-96  để trả lời những yêu sách mới nhất của HĐGM ngày 29-9-95 sau khóa họp năm rồi, quyền Trưởng Ban Tôn Giáo đã thông báo một số quyết định của nhà nước như tiếp tục ngăn cấm Đức Cha Nghi không cho Ngài về Sàigòn thi hành chức vụ Giám Quản,và riêng yêu cầu cho ấn hành một tạp chí thì nhà cầm quyền CS chỉ cho phép HĐGM xuất bản một tập san không phải hàng tuần hay hàng tháng mà là ba tháng một kỳ.

Người ta ghi nhận, có hai yêu sách quan trọng của HĐGM đã bị nhà nước lờ đi đó là việc đòi hoàn trả các cơ sở của Giáo Hội đang bị cưỡng chiếm và cho các LM cựu Tuyên Úy tái thi hành sứ mạng mục vụ sau thời gian giam giữ. Không hiểu ông NĐĐ và đồng bọn của ông trong cái gọi là UBĐKCGYN nghĩ sao vể điều mà trong bài báo ông hết lời ca tụng đó là thái độ hợp tác, cởi mở của GH (!) để đổi lấy cung cách đối xử có tính kỳ thị và chèn ép như trên của nhà nước CS?.

3./ Mục Tiêu Tiềm Ẩn Đàng Sau Bài Báo: Viết bài báo trên đây, nhất là lại chọn đăng trên một tạp chí Công Giáo xuất bản tại Nam California, nơi tập trung một số lượng đồng bào đông đảo nhất tại hải ngoại, mục tiêu của tác giả đã quá rõ rệt. Trước hết, bằng những lời lẽ hiền lành, sặc mùi nhân đức, ông muốn tạo cho dư luận cái ấn tượng nơi ông là một tín hữu Công Giáo chân chính, để từ đấy khiến người đọc dễ dàng tin theo những lập luận của ông trong bài báo. Điểm nhắm tới của những lập luận này không gì khác hơn là biện minh cho chủ trương rằng Giáo hội CG cần tiếp tục hợp tác với Nhà Nước CS như thuở sinh thời Đức TGM Nguyễn Văn Bình đã từng chủ trương như thế (?)

Dĩ nhiên, ông Đầu đã dấu nhẹm vai trò của ông cũng như của những thành viên trong cái gọi là UBĐKCGYN, một tổ chức do CSVN dựng lên và từng bị Vatican phủ nhận, trong mưu toan uốn nắn và chi phối tư tưởng, hành động của người lãnh đạo tinh thần Tổng Giáo Phận Sàigòn trong ngót hai chục năm trời qua. Thật ra, luận điệu của tác giả đã không đánh lừa được ai. Đối với những tín hữu trong nước, không ai còn lạ gì con người thật của ông Đầu, do đó nếu những khuôn mặt trong cái gọi là UBĐKCGYN thường bị coi là những “đồ dổm” những “sản phẩm của Nhà Nước” thì ông Đầu cũng được xếp vào một loại.

Với dụng ý bắn một mũi tên hạ hai con chim, bằng những lời chú thích xem ra không mấy quan trọng ở phần cuối bài viết, ông NĐĐ đã khéo léo hạ uy tín của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Lan, người đã kiên cường dùng ngòi bút để bảo vệ thanh danh Giáo Hội qua chiến dịch của Nhà Nước CS nhằm bôi nhọ Tòa Thánh cũng như Giáo Hội VN trong vụ Phong Thánh (6) và chủ trương chống báng việc Vatican chỉ định Đức GM Huỳnh Văn Nghi trong vai trò Giám Quản Tông Tòa TGP Sàgòn, và cũng là người đã công khai vạch trần mặt trái của chế độ độc tài, phi nhân tàn bạo CS qua ba cuốn Nhật Ký xuất bản tại Pháp cách đây mấy năm (7).

Sau khi khôn khéo đưa đẩy bằng những lời lẽ mật ngọt “Tôi xin thưa anh Lan là ai cũng có quyền phê phán con người công cộng của kẻ quá cố”, ông NĐĐ viết tiếp ”Nhưng khi kẻ quá cố là cha mình thì không nên đưa ra những thông tin trái với sự thực lịch sử…”

Khi đặt bút viết hai tiếng “cha mình”, không hiểu ông Đầu có nhớ tới những hành vi tồi tệ của ông cùng những thành viên trong UBĐKCGYN đối với Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre và Đức TGM Nguyễn Văn Thuận sau ngày CS cưỡng chiếm được miền Nam hay không? (2) Phải chăng vì Đức Khâm Sứ Tòa Thánh là ông Tây mũi lõ, không cùng màu da, màu tóc nên ông không muốn nhận là “cha” như chủ trương của đảng CS hồi mới cướp được chính quyền đã thuyết phục một thiểu số giáo gian hồi ấy hồ hởi thực hành khẩu hiệu“dưới bóng Chúa, Cụ Ta đuổi Cố Tây”? Nhưng còn Đức TGM Nguyễn Văn Thuận thì sao? Không lẽ Ngài cũng không xứng được người tín hữu có tên Nguyễn Đình Đầu gọi là “cha”?

Thật ra việc ông Đầu có dụng tâm triệt hạ uy tín của GS Nguyễn Ngọc Lan không làm cho ai ngạc nhiên. Ngoài ông, còn có  nhiều khuôn mặt được gọi là “trí thức” thường bị “dị ứng” trước những lời nói thẳng, nói thực của người cựu LM này. (Trong những năm gần đây đã hình thành cả một chiến dịch qui mô nhằm bôi nhọ, không phải chỉ một mình GS Lan mà còn bao gồm cả LM Chân Tín và Đức Cha Huỳnh Văn Nghi, dặc biệt là Đức TGM Nguyễn Văn Thuận và Đức Cố TGM Nguyễn Kim Điền!)

Điều đáng nói và cũng là điều cần nói ở đây là khi viết bài đề cao điều mà tác giả gọi là đường hướng mục vụ cởi mở của Đức TGM Nguyễn Văn Bình, ông NĐĐ không ngừng lại ở cái diện nhằm biện minh cho một chặng đường đã đi qua với những trò múa rối, thọc gậy bánh xe từng gây nên nhiều tai tiếng cho GHCG quê nhà do ông và phe nhóm chủ động, mà nó còn quy chiếu vào cái điểm, trong đó chủ yếu người viết muốn nhắm tới là để mở đường nối tiếp những mưu toan bất chính khác cho giai đoạn trước mặt, với mục tiêu vẫn không gì khác hơn là ru ngủ hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ và tín hữu Công Giáo trong cái ảo tưởng có thể hợp tác, cởi mở và chung sống với một chế độ phi nhân, tráo trở, tàn độc từng bị Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ, người đã lớn lên và được giáo dục từ tấm bé trong lòng Xã Hội Chủ Nghĩa, thẳng tay lên án là lọc lừa, gian trá đã tới tầm quốc sách! (8).

III.- CON NGƯỜI THẬT CỦA NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU

Theo tài liệu của ông Lữ Giang, tức thẩm phán Nguyễn Cần trong tác phẩm biên khảo nhan đề Những Bí Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam thì: “Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Hànội, là con trai của một viên lao công gác trường. Thuở nhỏ, NĐĐ học Tiểu Chủng Viện Hoàng Nguyên, Kẻ Sở, Hà Nam, giáo phận Hànội. NĐĐ mới học tới Đệ Lục (Cinquième) thì xuất, rồi sau đó vào học trường Bách Nghệ Hànội, chưa có Tú Tài. Thời đó, Phong Trào Thanh Niên Lao Động Công Giáo (JOC) đang phát triển mạnh ở Việt Nam, Nguyễn Mạnh Hà làm Hội Trưởng Phong Trào toàn quốc còn Nguyễn Đình Đầu làm Hội Trưởng Phong Trào ở Hànội. Ngày 22-8-45, Việt Minh cướp chính quyền. Ngày 23-8-45, Hồ Chí Minh công bố thành phần chính phủ tại Hànội. Trong chính phủ này, người ta thấy Nguyễn Mạnh Hà giữ chức Bộ Trưởng Kinh Tế. Nguyễn Đình Đầu được Nguyễn Mạnh Hà giới thiệu làm Tổng Giám Đốc Tổng Nha Lao Động toàn quốc, dưới quyền Bộ Trưởng Lao Động Lê Văn Hiến. Trong chính phủ liên hiệp thành lập ngày 2-3-1946, Nguyễn Mạnh Hà vắng mặt, Lê Văn Hiến được giao  chức vụ Bộ Trưởng Tài Chánh, Nguyễn Văn Tạo, một đảng viên cao cấp giữ chức Bộ Trưởng Lao Động và NĐĐ tiếp tục làm Tổng Giám Đốc Tổng Nha Lao Động.

Năm 1951, nhân một chuyến đi Pháp, NĐĐ được Nguyễn Mạnh Hà bảo lãnh cho ở lại Pháp học xã hội học tại một trường tư, không cần bằng Tú Tài….”

Vẫn theo tài liệu của Lữ Giang thì sau khi về nước năm 1956, NĐĐ cùng với một số trí thức Công giáo cấp tiến xuất bản tuần báo Sống Đạo, một tạp chí có khuynh hướng chống chính phủ và thiên về đường lối xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Đình Đầu vẫn thường xuyên liên lạc với nhóm cán bộ trí vận của Việt cộng đang hoạt động ở Pháp hay đã về nằm vùng tại miền Nam và nấp sau tờ Sống Đạo để hoạt động. Tờ Sống Đạo cũng như tờ Công Giáo & Dân Tộc hiện nay có khuynh hướng dùng Thánh Kinh để bênh vực chủ nghĩa Cộng sản.

Lữ Giang viết tiếp: “Nguyễn Đình Đầu là một tên chuyên đâm bị thóc chọc bị gạo để gây mâu thuẫn trong hàng ngũ Công giáo và tuyên truyền ngụy hòa. Khi Công giáo biểu tình lên án những vụ bạo loạn tại miền Trung do CS giật giây, NĐĐ soạn sẵn một văn thư chống lại khối Công giáo và chạy đi thuyết phục một số Linh Mục và giáo dân ký tên vào. Trong cuốn 30 tháng tư do nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1985, ký giả Võ Trần Nhã của Việt Cộng cho biết NĐĐ là người yểm trợ đắc lực cho việc đưa miền Nam vào tay CS. Nguyễn Đình Đầu có chân trong nhóm Trí Việt, gồm một số đặc công CS nằm vùng, hoạt động dưới danh nghĩa “đòi thi hành Hiệp định Paris”. Ngày 29-4-75, NĐĐ đi với Nguyễn văn Diệp (cựu Bộ Trưởng Kinh Tế) và Hà Bá Cang (còn có tên là Đinh Bá Thi và Hoàng Quốc Việt) vào trại Davit trong phi trường Tân Sơn Nhất gặp phái đoàn Việt cộng để báo cáo tình hình và nhận chỉ thị về việc vận động Dương Văn Minh đầu hàng…..

“Sau này Hà Bá Cang tức Đinh Bá Thi được cử làm Đại Sứ Việt cộng tại Liên Hiệp Quốc, nhưng một thời gian sau đã bị thanh toán bằng một tai nạn xe cộ trong một chuyến về thăm VN. Sau ngày CS chiếm miền Nam, bên ngoài NĐĐ không giữ chức vụ gì quan trọng, nhưng bên trong NĐĐ đã đứng ra tổ chức và giựt giây các chiến dịch chống phá Giáo hội Công giáo. Từ vụ hô hào trục xuất Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre, đòi bãi chức Đức TGM Nguyễn Văn Thuận, đến việc lên án các vụ Vinh Sơn, Đắc Lộ, Dòng Đồng Công..đều có bàn tay thúc đẩy của NĐĐ….” (9)

IV.- VÀI LỜI TẠM KẾT:

Như đã có dịp đề cập trong đoạn mở đầu, vào khoảng cuối thập niên 80, người viết bài này có dịp đọc một ký sự của Tom Fox trên tờ NCR, trong đó tác giả đề cập một cuộc hội kiến với ông Đầu nhân dịp tháp tùng một phái đoàn CG Hoa Kỳ qua thăm VN. Tom Fox thuật lại rằng: một buổi tối trong khi nói chuyện với NĐĐ tại tư gia của ông này, khi đề cập một vấn đề riêng mà vì ngại có người nghe, tác giả đã thận trọng hạ thấp giọng xuống thì ông Đầu lớn tiếng nói: Bây giờ không còn như lúc trước (Chú thích của người viết: ý hẳn ông muốn ám chỉ thời gian trước tháng 4-75), anh có thể nói lớn mà không phải e ngại gì hết!

Đọc xong bài báo với những lời lẽ tô lục chuốt hồng cho chế độ, người viết bài này không khỏi buồn rầu với những ý nghĩ mỉa mai khi liên tưởng tới cảnh ngộ đau thương của quê hương và Giáo Hội từ sau ngày miền Nam đổi chủ, trong khi vẫn không thiếu những mẫu người hèn hạ vì miếng ăn hoặc vì chút hư danh đã cam phận làm tôi đòi cho kẻ ác!

Đóng lại những giòng này, người viết không thể không nghĩ tới những lời tâm huyết của Đức Cố TGM Nguyễn Kim Điền trong Thư Chung gửi các LM, TS và Giáo dân TGP Huế sau hơn một trăm ngày Ngài bị gọi đi “làm việc” với công an CS, để rồi mấy năm sau đó Ngài đã qua đời với nhiều nghi vấn. Sự liên tưởng cũng bắt trí nhớ người viết nghĩ về nội dung bức tâm thư của 20 anh em trí thức Công Giáo gửi Đức TGM Nguyễn Văn Bình năm 1989 và nhất là những giòng chữ rướm máu của LM Nguyễn Văn Lý trong bản Tuyên Ngôn 10 điểm công bố ngày 24-11-1994.

Những giòng chữ dưới đây như đang nhảy múa trong tiềm thức người viết bài này: “Tôi không dám gọi LM nào, Đức GM nào là “quốc doanh”, vì tôi nghĩ các Ngài có thể cũng hết lòng trăn trở kể cả trong nước mắt để làm cho GH mở mang, dễ hoạt động. Nhưng tôi thành thực nghĩ rằng những gì các Ngài thu được trước mắt sẽ còn di lụy lâu dài trong lịch sửøù làm méo mó hình ảnh một GH hiên ngang xây dựng Nước Trời, tự do rao giảng tiếng nói lương tâm, mạnh dạn phê phán mọi bất công, sai lầm bất cứ từ đâu đến. Thay vào đó chỉ tạo nên hình ảnh một GH yếu nhược, quỵ luỵ, ngày càng rõ nét chạy theo một vài quyền lợi vật chất trước mắt, chỉ biết “cộng tác” (collaborer) mà thiếu hẳn tinh thần “đề kháng” (résistant) (mô thức Collaborer en résistant do Đức GH Gioan Phaolô II Đề xướng), làm nản lòng đại bộ phận Dân Chúa và các người thiện chí trước đây vốn khâm phục Giáo Hội Việt Nam!” (5).

Tiếc rằng khi viết những giòng trên đây, LM Nguyễn Văn Lý đã không nói tới vai trò của những “con rối” trong quá khứ đã và hiện nay vẫn còn đang múa may để chèo kéo, uốn nắn và gây ảnh hưởng tệ hại tới những suy nghĩ và cách hành sử của các giới có thẩm quyền trong GHCGVN.

Một câu hỏi chót được đặt ra: những ai, những khuôn mặt được mệnh danh là “trí thức” nào đã góp phần làm nên cái não trạng được LM Lý mô tả trên đây? Thiết nghĩ ông NĐĐ phải là một trong những người có thẩm quyền hơn hết để trả lời cho câu hỏi này.

Nam California đầu Mùa Chay 1996

Trần Phong Vũ

(Đăng lần đầu trên Thời Điểm Công Giáo số 41&42 phát hành tháng 1 năm 1997 – Sau đó được đưa vào phần phụ lục tác phẩm biên khảo Một Thoáng Nhìn Về GHVN Qua Biểu Tương Đức Gioan Phaolô II, do Tin Vui ấn hành ở nam California, Hoa Kỳ mùa hè năm 1997).

_________________________

1-2 LỮ GIANG, Những Bí Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại VN – Hoa Kỳ 1994, tr. 221.

3 TRẦN PHONG VŨ, Đọc Lại Nhật Ký Nguyễn Ngọc Lan, Nguyệt San Hiệp Nhất, Hoa Kỳ, số tháng 3/1994. Toàn bộ bài đọc sách này đã được đưa vào phần phụ lục tác phẩm biên khảo Một Thoáng Nhìn Về GHVN Qua Biểu Tượng Đức Gioan Phaolô II.

4 TGM NGUYỄN KIM ĐIỀN, Thư Chung Gửi Các LM, TS và Giáo Dân TGP Huế, Đường Sống tháng 4/1985 (Trong phần phụ lục tác phẩm MTNV/GHVN… )

5 LM NGUYỄN VĂN LÝ, Tuyên Ngôn 10 Điểm Về Thực Trạng TGP Huế, Religious Affairs in Vietnam after August, 1994. (Trong phần phụ lục như trên)

6 NGUYỆT SAN ĐƯỜNG SỐNG, Những Bài Viết Liên Quan Tới Phong Thánh, số phát hành tháng 6/1988.

7 NGUYỄN NGỌC LAN, Nhật Ký 1989-1990, Nhật Ký 1990-1991, Nhật Ký 1988, Tin Nhà Paris 1991 & 1993.

8 HÀ SĨ PHU NGUYỄN XUÂN TỤ, Đôi Điều Suy Nghĩ Của Một Công Dân, Tin Nhà Paris, Mùa Thu 1993.

9 LỮ GIANG, Sách đã dẫn – tr. 218, 219, 220.