Cồn Dầu Của Tôi Ơi!

Tháng Mười 27, 2010

Sông Cẩm Lệ thủy triều trào nước mắt

Khóc dân oan bị bạo tặc đọa đày

Chúng nhục hình, tra tấn chẳng nương tay

Khi dân chết, chúng bày trò cướp xác

Bọn tam vô, bọn tàn dư thời Karl Marx

Giỏi lọc lừa, dối trá, giỏi gian manh

Dùng bạo lực để khống chế dân lành

Nguyễn Bá Thanh, tên đầu đàn ác qủy

Hắn chính là bí thư của thành ủy

Sống vì tiền nên tán tận lương tri

Dùng công an, chó nghiệp vụ trị vì

Người và chó bước đi theo lệnh đảng

Chúng cúi đầu trước quyền uy nhà Hán

Lại dương oai với dân Việt tay không

Tiếng oán than vang dậy khắp non sông

Cùng bè lũ, chúng bịt tai giả điếc …

Giáo dân Cồn Dầu tình thâm thắm thiết

Người với người chỉ biết sống yêu thương

Tay trong tay cùng xây dựng quê hương

Hơn thế kỷ nấu nương trong tình Chúa

Tiếng chuông ngân hòa âm vào sóng lúa

Gió rì rào vang khúc nhạc đồng quê

Tình quê hương rợp bóng những chiều về

Trăng chiếu tỏa mối tình quê chân chất

Xóm thôn nghèo, cuộc sống dù tất bật

Tiếng cười vui rộn rã đắp triền đê

Tay trong tay ngăn nước mặn tràn về

Mùa lúa chín dựng xây đời no ấm

Cuộc trăm năm người ơi ta suy gẫm

Hạn kỳ nào? Ai biết phút lâm chung

Đất nghĩa trang là đất sống cuối cùng

Ông bà, con, cháu chung phần an nghỉ

Đời bình lặng, muôn người cùng một ý

Sống gởi, thác về với mảnh đất quê hương

Với bờ tre, ruộng lúa, với khu vườn

Với kỷ niệm thân thương nơi nhà Chúa

Hãy nhìn kỹ, đừng nghe lời đảng nói

Nói tự do mà dân bị đuổi nhà

Nói nhân quyền mà đánh dân để khảo tra

Nói độc lập mà phá mả mồ, giành đất


Cồn Dầu tôi, rồi mai nầy sẽ mất

Mất vào tay tư bản đỏ bạo tàn

Nhìn dư đồ mà lệ chảy thành hàng

Thương số phận dân oan, đời vất vưởng.


Minh Hứa


Thư gửi anh chị em giáo dân Cồn Dầu

Tháng Mười 26, 2010

Thưa anh chị em

Đã hơn 2 tháng, kể từ ngày tôi được đến thăm anh chị em tại Cồn Dầu, một xứ đạo lâu đời và nên thơ để cảm nhận được những đợt sóng ngầm đau đơn mà vùng đất này đang đối mặt phía sau sự thơ mộng.

Lần đầu tiên đến xứ đạo miền Trung, nơi anh chị em đang sống, tôi cảm nhận được nhiều hơn, những đau đớn, nhưng uất ức của anh chị em đang phải chịu những ngày qua.

Đọc tiếp »


Chuyện người đàn bà có tên Jeanne Miller

Tháng Mười 23, 2010

Chuyện người đàn bà có tên Jeanne Miller

Chúng ta nghe nhiều về sự bùng nổ các vụ giáo sĩ lạm dụng tình dục ấu nhi tại một số nước Âu-Mỹ. Nhưng có lẽ ít ai biết ngòi nổ phát ra từ đâu và do động lực nào châm lên ngòi nổ ấy.

Chúng tôi xin kể hầu các đấng bậc câu chuyện về một người đàn bà Mỹ có tên là Jeanne Miller. Có thể một số người sẽ cho đây là chuyện nhảm nhí của kẻ phá đạo! Nếu quả là chuyện của kẻ phá đạo, chúng ta cũng nên đọc họ để biết mà đối phó, dè chừng, tránh những vấp phạm nên cớ cho kẻ phá đạo lợi dụng khai thác, làm to chuyện. 

Jeanne Miller[1] được biết tới như là một cựu nữ tu rất gắn bó với công việc nhà thờ. Jeanne chẳng những đi lễ Chúa nhật thường xuyên, mà còn tham gia dạy giáo lý, trong khi chồng bà, Rick Miller, làm thừa tác viên Thánh Thể. Con đầu lòng của bà, Tom Miller vừa lên 12 tuổi là gia nhập Ban Giúp Lễ. Do đó, gia đình Miller là thành viên nồng cốt của Giáo xứ St. Edna tại Arlington Heights, Tổng Giáo phận Chicago, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ.

Từ tin tưởng tới đối đầu

Năm 1981, linh mục Robert Mayer, 40 tuổi, được bổ nhiệm tới giáo xứ Saint Edna, và trực tiếp phụ trách Ban Giúp lễ. Cha Mayer thích chơi với trẻ em và rất gần gũi chúng. Vợ chồng Miller cảm thấy rất hài lòng và yên tâm, nhờ cha coi sóc và dạy dỗ, tin chắc con mình sẽ không hư hỏng. Nhưng sau đó, một bà mẹ trong giáo xứ đến nhỏ to với Jeanne về chuyện cha Mayer có hành động lạm dụng tình dục với con bà. Rồi đến lượt thằng Tom của Jeanne cũng thú nhận nhiều điều “kinh khủng” giữa Cha Mayer với nó khiến bà Jeanne Miller bàng hoàng.

Jeanne Miller kín đáo gặp riêng, trình bày với cha chính xứ Walter Somerville. Cha chánh xứ và vị nữ tu giám đốc chương trình giáo dục về tôn giáo của giáo xứ thừa nhận có nghe nhiều lời đồn đại về một số hành động không lành mạnh của linh mục Mayer và đã có trình báo lên Tòa Tổng Giáo Mục. Nhưng Mayer chối phăng và quyết liệt phản bác những lời tố cáo của Jeanne cũng như của vài người khác, cho đó là xuyên tạc và vu khống.

Jeanne thưa lên Văn phòng Chưởng ấn Tòa Tổng Giám Mục. Ở đây các đấng yêu cầu Miller và các người khác trưng dẫn bằng chứng cụ thể, vì cha Mayer vẫn cứ một mực chối cãi và kêu oan, lại luôn tỏ ra là một “mục tử năng động, tốt lành”. Các em bé nạn nhân là bằng chứng, song bằng chứng ấy không có sức thuyết phục, khiến linh mục Robert Mayer càng được tin cậy. Jeanne Miller bắt đầu bị rơi vào tầm nhắm của những kẻ có lòng đạo đức.

Để hậu thuẫn linh mục Mayer, một số giáo dân vốn “mến mộ đức hạnh cha Robert đáng kính” đã công khai phỉ nhổ nhóm người của Jeanne Miller bằng những lời xỏ xiên mai mỉa cay độc. Nhóm người ủng hộ cha Robert gán cho Jeanne những danh hiệu không mấy mỹ miều như “tên tu xuất đa sự,” “kẻ rối đạo,” “dân chống Cha, phản Chúa,” “mụ đàn bà mất dạy,” “Giuđa Iscariốt Cái.”

Jeanne cảm thấy đau xót và tủi nhục! Còn linh mục Robert Mayer thì tiếp tục làm cho bề trên tin mình là vô tội, tiếp tục lấy lòng khối “đa số giáo dân” để họ xông trận bảo vệ cha, một con người “thánh thiện tốt lành”. Được hậu thuẫn của cả hai phía trên-dưới, linh mục Mayer sử dụng bục giảng để phản công, tấn kích “bọn thiểu số thù địch”. Ông dùng cả lời Kinh Thánh để hạ nhục và loại trừ “đối thủ” của ông. Thế là Jeanne cùng một số giáo dân “ngỗ nghịch cứng đầu” bị coi là những thứ chiên ghẻ lở gớm ghiếc và bị cô lập hoàn toàn với cộng đồng giáo xứ Saint Edna!

Năm 1984, trước thái độ quyết liệt của gia đình một số nạn nhân bị linh mục Robert Mayer lạm dụng tình dục, Tòa Tổng Giám Mục Chicago ngỏ ý điều đình và dàn xếp bồi thường thay vì ra tòa. Thế nhưng linh mục Mayer vẫn một mực kêu oan, phủ nhận mọi lời cáo buộc và đưa “cái tập thể đa số giáo dân ủng hộ” ra tiếp tục làm hậu thuẫn cho ông, quyết liệt đánh trả “quân phá đạo.”

Tòa Tổng Giám Mục sợ nội vụ sẽ rùm beng, gây gương mù gương xấu! Còn Jeanne Miller và một số phụ huynh thì không mong gì hơn là giáo quyền đừng để linh mục Robert Mayer gần gũi trẻ con nữa và muốn ông phải đi chữa bệnh. Nhưng linh mục Mayer vẫn yên vị tại giáo xứ Saint Edna, một thời gian dài sau đó mới chấp nhận ra đi.

Đáng tiếc thay! Robert Mayer đã không lui về ẩn dật trong một tu viện hay là hồi tục cho yên thân mà cứ ung dung “được sai đi” đi làm mục vụ liên tiếp tại 4 giáo xứ khác nhau, mà ở giáo xứ nào Mayer cũng năng nổ khôn khéo, nhưng vẫn… chứng nào tật ấy.

 

Cái sảy nảy cái ung

Đến mùa hè 1991, linh mục Rober Mayer bị Tòa án ra trát bắt giam về tội xâm phạm tình dục đối với một đứa trẻ 13 tuổi, và tháng Mười Hai 1992, ông bị kết tội lạm dụng tình dục đối với một số trẻ con khác. Thế nhưng Jeanne Miller cùng nhóm thiểu số phụ huynh đã phản đối Robert Mayer thì vẫn còn bị “đa số những người đạo dức” trong giáo xứ Saint Edna sỉ vả, xa lánh, cô lập, thậm chí xua đuổi và lên án là “chống cha, phá đạo.”

Tức nước vỡ bờ, Jeanne đứng ra lập hội “Liên Kết Các Nạn Nhân Bị Giáo Sĩ Lạm Dụng Tình Dục” (Victims of Clergy Abuse Linkup – viết tắt là VOCAL) sau đổi tên là LINKUP (Liên kết). Chính tổ chức này cùng với một số nhóm khác đầu năm 2002 đã dấy lên phong trào tố cáo các giáo sĩ tại khắp các giáo xứ Hoa Kỳ lạm dụng tình dục cũng như tố cáo các giáo phận liên hệ có hành vi bao che.

Giáo Hội tại Hoa Kỳ nói riêng và trên toàn cầu nói chung trải qua một cơn khủng hoảng xót xa vì tai tiếng gương mù gương xấu của giáo sĩ, chẳng những gây thiệt hại lớn về mặt tài chánh mà còn làm mất uy tín một số Chủ Chăn cũng như thanh danh của Giáo Hội. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phải nhiều lần công khai xin lỗi. Các Đức Giám Mục Hoa Kỳ hội họp, ra quyết nghị và cũng lên tiếng xin lỗi các gia đình nạn nhân. Nhưng chẳng biết đến bao giờ Giáo Hội tại Hoa Kỳ mới hết khốn đốn với những khoản “bồi thường qua dàn xếp” lên tới hàng trăm triệu mỹ kim!

Theo tin United Press và theo tổng kết của Văn phòng Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ ngày 10-6-2005, sau khi Giáo phận Covington, Kentucky trả 120 triệu mỹ-kim đã nâng con số bồi thường cho các vụ lạm dụng tình dục của các giáo phận Mỹ lên tới $1.06 tỉ mỹ kim! Người ta ước đoán con số này còn tăng thêm tới hàng chục triệu, thậm chí hàng tỉ mỹ kim nữa, do hàng trăm vụ kiện chưa giải quyết!

Điều đau lòng là chuyện giáo sĩ lạm dụng tình dục không dừng lại ở Hoa Kỳ. Nó bùng nổ tại nhiều quốc gia trên thế giới đến nỗi mỗi lần đi tông du là mỗi lần ĐTC Bênêđictô XVI, người kế vị ĐGH Gioan Phaolô II, đã phải lên tiếng thành khẩn xin lỗi các nạn nhân từ Pháp, Đức, Ái Nhĩ Lan, Anh quốc… đồng thời nhìn nhận tội lạm dụng tình dục ấu nhi trong giới linh mục tu sĩ là “tội lỗi từ bên trong”“kẻ nội thù”,“tội ác đáng ghê tởm.”

 

Một bài học đáng suy ngẫm

Người ta trách Jeanne Miller đã phản ứng quá trớn khi lựa chọn một hành động cực đoan mà người khác cho là phản bội, bất trung, bất nghĩa. Nhưng tại sao xảy ra hiện tượng Jeanne Miller phản loạn? Thái độ coi thường và phủ nhận tiếng nói của thiểu số bằng cách dựa vào cái thế đa số đã đẩy Jeanne Miller và những nạn nhân khác vào chân tường. Hậu quả thật khôn lường!

Bài học Jeanne Miller có lẽ thích ứng với hoàn cảnh hiện thời của Giáo Hội Việt Nam hơn bao giờ hết. Tiếng nói của thiểu số thiện chí càng bị trấn áp vùi dập, các điều tệ hại trong GH càng có cơ nẩy nở hoành hành để một ngày nào đó không sớm thì muộn những cái sảy sẽ nảy ra những cái ung, và rồi ung nhọt sẽ vỡ toang gây thối toàn bộ bầu khí trong lành của Giáo Hội! Không biết lúc bấy giờ các đấng có còn được yên vị trên ngai tòa của mình không?

 

Lê Thiên

 


[1] Câu truyện được trích lược theo một số sách báo in và báo điện tử  Hoa Kỳ, trong đó có quyển “Sex, Priest and Power” của A.W. Richard Sipe. 1995, Brunner/Mazel Publishers, NY. (trang 37) và quyển “A Gospel of Shame” của Frank Bruni and Elinor Burkett. 2002, HarperCollins, NY. (trang 238-251).


Hãy đặt mình vào vị trí của các Giám mục

Tháng Mười 22, 2010

Thời gian vừa qua, trên các trang mạng Công giáo liên tục xuất hiện nhiều bài viết thể hiện quan điểm của nhiều tác giả về tình hình giáo hội Công giáo Việt Nam (GHCGVN). Trong số đó, có một số lượng lớn bài viết bàn về cách hành xử và thái độ của Hội đồng giám mục Việt Nam (HĐGMVN), cũng như cá nhân các giám mục trong HĐGMVN trước các thông tin và sự kiện đang diễn ra trên đất nước chúng ta. Người viết thuộc đủ mọi thành phần: giáo sĩ, giáo dân, kiều bào, trí thức… và cả những học giả ngoài Công giáo.

Theo dõi những bài viết về các giám mục, tôi thấy có vị được tán dương hết lời, có vị bị phê phán quá sức, cũng có những vị ít khi hoặc hầu như không được đê cập tới trên các trang mạng này. Mọi điều khen hay chê, tán dương hay phê bình, ủng hộ hay chống đối thì trong thời gian qua chúng ta cũng đã nhận thấy. Tôi không nhắc lại những điều đó nữa, chỉ xin được nêu lên một vài suy nghĩ của riêng mình về các vị chủ chăn trong HĐGM của chúng ta:

Trước hết, khi tuyển chọn ứng viên giám mục, tôi nghĩ các vị hữu trách phải cầu nguyện và đắn đo suy nghĩ rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc phải bàn hỏi kỹ lưỡng với tất cả những người có liên quan. Điều đặc biệt là ứng viên đó phải hội tụ đầy đủ các yếu tố như luật định, cách riêng là phải trổi vượt về đời sống đạo đức. Quá trình tìm kiếm và tuyển chọn kỹ càng như thế giúp ta nhận ra rằng: khi một linh mục được tuyển chọn vào hàng giám mục, thì linh mục đó phải là người có đời sống đạo đức, thánh thiện, có khả năng lãnh đạo dân Chúa, và nhất là phải biết cư xử sao cho vừa hợp với lẽ đời vừa không trái với luật Tự Nhiên. Là những Ki-tô hữu, chúng ta tin chắc rằng Mẹ Hội Thánh không bao giờ đưa những người bất xứng lên chức giám mục để phục vụ lợi ích thiêng liêng cho con cái mình.

Kế đến, bản thân mỗi vị giám mục phải lo lắng rất nhiều việc. Áp lực đối với các giám mục rất lớn. Các ngài vừa phải “khôn như rắn” mà vừa phải “hiền lành như bồ câu”. Tôi nghĩ, sống trong một xã hội mà lắm lúc tôn giáo vẫn bị xem như một “hiện tượng đời sống” thì các giám mục rất khó lòng để có thể hoàn trọn mọi việc một cách tuyệt đối được. Theo dõi các bài viết trên mạng, tôi thấy nhiều tác giả phê phán các giám mục hết sức nặng nề. Nhưng phê phán đó – tôi hiểu là đều khởi đi từ sự nhiệt tâm và tấm lòng yêu mến Giáo hội. Nhưng vô tình nó lại làm cho Giáo hội bị phân tán, từ đó xuất hiện bệnh bè phái. Đây là điều vô cùng tệ hại! Bởi Satan sẽ rất lấy làm thích thú khi nhìn thấy Giáo hội được xây trên đá tảng Phê-rô đang từng ngày lụi bại và rời xa nhau, bởi chất kết dính là tình Hiệp thông cứ mất dần, mất dần.

Trong những bài viết của mình, nhiều tác giả cho rằng khi xảy ra sự việc như thế thì các giám mục phải làm như thế này, phải làm như thế kia. Điều đó chẳng khác nào chúng ta buộc các giám mục phải theo ý của mình, chẳng khác nào chúng ta “định hướng mục vụ” cho các giám mục. Nhiều khi có những vấn đề không thể đánh giá nó là tốt hay xấu ngay được, cần phải có thời gian để suy xét và phân định rõ ràng. Bởi lẽ “…một điều được được coi là đúng không phải chỉ vì điều ấy hợp với lí luận, hợp với kinh nghiệm, hợp với khách quan, hợp với xã hội, mà chủ yếu vì điều ấy hợp với ý Chúa, hợp với kế hoạch của Chúa…” (x. Để hạnh phúc hơn. Mười đề tài luân lý Ki-tô giáo – Đặng Xuân Thành, tr 132). Tôi nghĩ chúng ta nên bình tâm lại mà cầu nguyện và biện phân một cách thấu đáo hơn mọi vấn đề liên quan đến các giám mục của mình. Chúng ta phải tố giác cái xấu, cái ác, nhưng chúng ta không kết án anh em, không phán xét đồng loại. Vì việc phán xét và kết án, là việc của riêng một mình Thiên Chúa.

Hơn nữa, chúng ta hãy thử đặt mình vào vị trí của các giám mục thử xem. Vấn đề không hề đơn giản như chúng ta nghĩ. Các ngài phải tiên liệu sao cho vấn đề được giải quyết một cách toàn diện, chứ không chỉ giải quyết cho riêng một cá nhân hay cộng đoàn nào. Mỗi vị trí, mỗi vai trò có những khó khăn riêng mà chỉ khi nào chúng ta ở vào vị trí đó, vai trò đó thì chúng ta mới hiểu một cách tường tận được. Nhiều lúc chúng ta đòi hỏi các giám mục phải lên tiếng về việc này, phải tranh đấu về việc kia cho mình – chỉ vì những việc đó nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi và bản thân chúng ta. Sao chúng ta không hiểu cho các giám mục, đặt mình vào vị trí của các ngài, thử đối diện với vấn đề mà các ngài đang lo nghĩ? Tôi thấy có một số bài viết dùng chính Lời Chúa để lên án và chất vấn các giám mục, thậm chí kêu gọi các ngài từ chức. Thật đau lòng khi phải chứng kiến một Giáo hội mà sự chia rẽ lại nghiêm trọng đến dường ấy. Tôi nghĩ đó là một sự xúc phạm rất nặng nề đối với các giám mục. Lời Chúa không phải phương tiện để loại trừ lẫn nhau, Lời Chúa cũng không phải là công cụ để mạ lị nhau – không bao giờ là như thế! Mặt khác, chúng ta hiểu rằng Tòa Thánh không bao giờ muốn bổ nhiệm một giám mục nào về nhiệm sở mới, để rồi ngay sau đó vị giám mục ấy xin được từ chức. Cứ như việc thuyên chuyển và bổ nhiệm của Tòa Thánh là trò đùa! Vậy thì còn gì là nề nếp và kỷ luật trong Giáo hội nữa!

Tôi chợt nghĩ, điều quan trọng nhất là do chúng ta thiếu đi những mối tương quan liên vị. Chúng ta chỉ nghe, xem chứ ít khi gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhau. Vì vậy lắm lúc cái nhìn của chúng ta bị chệch hướng đi phần nào. Truyền thông ngày càng tiến bộ, thông tin vì thế cũng phổ biến hơn, nhưng sự gặp gỡ và trò chuyện với nhau thì lại ít đi ; vì thế dễ gây ra sự hiểu lầm hoặc ngộ nhận. Tôi không có ý nói truyền thông đơm đặt, nhưng truyền thông phải phục vụ cho lợi ích của con người một cách toàn diện. Nghĩa là “Khi quan tâm tới những nhu cầu và lợi ích của nhóm này, việc truyền thông không được làm cho nhóm ấy chống đối các nhóm khác” (x. Để hạnh phúc hơn. Mười đề tài luân lý Ki-tô giáo – Đặng Xuân Thành, tr 139). Xét cho cùng, dù cho các phương tiện truyền thông có hiện đại đến đâu thì chúng cũng không thể thay thế được những mối quan hệ trực tiếp giữa người với người.

Phát biểu, nhận định về các giám mục của mình là điều mọi người đều có thể làm. Nhưng phát biểu và nhận định thế nào cho phù hợp với đức tin và luân lý, cũng như phải giữ sự kính trọng đúng mực đối với các ngài. Nếu những phát biểu hoặc nhận định trở thành những lời quy kết và xúc phạm thì chúng ta đừng nên phát biểu hay nhận định làm gì. Chúng ta chỉ nghĩ đơn giản là phải nói thẳng, nói thật, nói cho mạnh mẽ vào thì chúng ta mới xây dưng, mới đóng góp cho Giáo hội. Nhưng vô tình chúng ta lại đang gây chia rẽ trong Giáo hội, đang loại trừ chính anh em đồng đạo của mình.

Giáo hội không bao giờ phong thánh cho người sống. Bởi còn sống, còn lữ hành là còn phạm tội. Các giám mục của chúng ta cũng thế; Các ngài cũng có những yếu đuối và lầm lỗi rất “người” như chúng ta. Vậy tại sao khi cùng mang lấy một thân phận tội lỗi, yếu đuối – chúng ta không chia sẻ và cầu nguyện cho các ngài, mà lại lớn tiếng phê phán và lên án các ngài? Tôi không bênh vực hay biện bạch cho sự lầm lạc của các giám mục. Nhưng nếu có những vị chủ chăn như thế, thì các vị ấy sẽ phải chịu sự phán xét nghiêm khắc của Thiên Chúa và của lương tâm người mục tử. Bổn phận của chúng ta là vẫn phải luôn kính trọng (trong chừng mực), và luôn cầu nguyện cho các ngài, xin Chúa giúp cho các ngài luôn trung tín với sứ vụ mà Chúa đã giao phó.

Tôi viết ra những dòng này khi ý thức đầy đủ rằng bản thân sẽ phải gặp ít nhiều điều tiếng. Có thể tôi sẽ bị cho là viết theo “đơn đặt hàng” hay sự chỉ đạo của một nhân vật nào đó… Nhưng tôi xin đón nhận tất cả trong lòng mến và sự cảm thông. Chỉ mong sao đóng góp nhỏ nhoi của mình được tất cả những ai có thiện chí đón nhận như một chút keo dính, góp phần hàn gắn lại nỗi đau chia rẽ và quyện chặt lại tình hiệp thông trong Giáo hội Việt Nam của chúng ta.

Viết xong lúc 18h42  ngày 22 tháng 10 năm 2010.

Giu-se Trịnh Việt Tân


Linh đạo Thừa Sai

Tháng Mười 22, 2010

1. Vẫn có những nền linh đạo chung và riêng

Trước khi đi đến một câu định nghĩa về nền linh đạo thừa sai, tưởng nên hiểu chung thế nào là linh đạo. Linh đạo là con đường thiêng liêng, thường được hiểu là cách thế giúp sống đạo đức. Nói đến linh đạo là nhằm đưa ra những đường hướng giúp người ta nên người đạo đức, chuyên cần chăm lo các việc thiêng liêng, như tham dự thánh lễ, đọc kinh nguyện ngắm, lần hạt, chầu Mình thánh Chúa, đi đường thánh giá v.v… Nói chung là các việc đạo đức vẫn quen làm tứ trước tới nay. Đó là nền linh đạo hay tu đức chung trong các chủng viện và các hội dòng nam nữ, cũng như ngoài họ đạo. Nền tu đức này rất thịnh hành và mang tính đại chúng.

Ngoài ra, còn có nhiều nền linh đạo của các vị thánh nổi tiếng khác, như thánh Phan-xi-cô đờ Xan (Francois de Salle) với tác phẩm Dẫn vào đời sống sốt sắng (Introducton à la vie dévote), Thánh Gio-an Thánh Giá với Đường lên núi Cát Minh (Montée vers le carmel), thánh Tê-rê-xa Cả với Con đường hoàn thiện (Chemin de la perfection), Lâu đài nội nội tâm (Château intérieur), thánh Tê-rê-xa Hài đồng với Con đường thơ ấu thiêng liêng v.v…

Đã có nền linh đạo Biển Đức, Đa Minh, Phan-xi-cô. Cát Minh, Y nhã, đã có các trường phái tu đức với những tên tuổi như Ăng-ri Xu-dô (Henri Suso), Éc-hác (Eckhart), trường phái tu đức Pháp với thánh Phi-líp Nê-ri (Philippe Néri), thánh Vinh sơn (Vincent de Paul), cha Công Danh (Condrin), cha Gio-an Gia-cô-bê O-li-ê (Jean-Jacques Oiier).

Chúng ta có thể nhìn vào các Hội Thừa sai lớn như Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP), Me-rích-nôn (Maryknoll). Các hội dòng đó có một nền tu đức thích hợp cho các thành viên của mình. Đức Giê-su là Vị Đại Thừa Sai của Chúa Cha. Người đã được sai xuống trần gian để sống kiếp người như chúng ta. Cuộc đời công khai truyền đạo của Người là mẫu mực cho chúng ta nhìn vào đó để xây dựng một nền tu đức thừa sai.

2. Được sai đi

Một trong những nét đặc trưng của nền linh đạo thừa là được sai đi. Chúa Cha đã sai Chúa Con. Chúa Con là Đức Giê-su Ki-tô lại sai các môn đệ. Trước khi được sai thì người thừa sai phải có những điều kiện thích hợp. Những điều kiện đó là tư thế sẵn sàng và khả năng thich ứng với công việc được sai. Sự sẵn sàng đòi đương sự phải tình nguyện dấn thân, và tính thích ứng buộc người ấy phải được rèn luyện và tự rèn luyện cho hợp với công việc. Do đó, khởi đầu nền tu đức thừa sai là tư thế sẵn sàng và khả năng thích ứng để được sai đi trong tinh thần “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế của Đức Ki-tô.” (Pl 2,1). Theo tinh thần này, người được sai noi gương Đức Ki-tô, tự bóc lột mình, làm cho mình hoá ra không. Như thế có nghĩa là sống khiêm nhường và từ bỏ, nhất là trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, người đi tu thường được ở một bậc cao hơn phần đông dân chúng về điều kiện ăn ở.

3. Đến ở với

Cũng như Đức Ki-tô, người thừa sai được sai đi và đến ở với: sai đi những nơi xa lạ và ở với những người không quen biết, khác với mình về nhiều phương diện. Nỗ lực đầu tiên của người được sai đi là lo làm sao hoà hợp được với người xa lạ và thích nghi được với cuộc sống mới. Điều này đòi buộc người thừa sai phải hy sinh và từ bỏ nhiều lắm. Điểm tu đức ở đây là chung sống hoà đồng. Điều này không dễ, nhất là khi mình đã quen với một nếp sống cố định, có những điều kiện sinh hoạt thoải mái. Đức Giê-su đã ở với các môn đệ và người ta. Người đã phải chịu đựng tính tình trái ngược của các môn đệ, sự cứng lòng tin của người Do thái và thói hiềm khích của phái Pha-ri-sêu và các thượng tế. Điểm đặc biệt ở đây là hoà mình và chịu đựng. Nhân đức phải tập ở đây là chấp nhận những sự phiền hà và trái ý.

3. Nói cho biết

Thừa sai là người được cử di, đến ở với và nói cho biết. Nói cái gì ? Nói những diều về Chúa, về đạo. Biết ai ? Biết Chúa. Đó là mục đích của công việc truyền giáo được diễn ra bằng nhiều cách và trong nhiều giai đoạn khác nhau, tuỳ nơi, tuỳ thời và cũng tuỳ người nữa. Nhưng trước khi nói, phải làm quen đã. Quen ai thì dễ nói chuyện với người ấy hơn. Vì thế trong khi ở với, nhà thừa sai phải tìm cách làm quen. Làm quen thì phải có dịp gặp gỡ, đi tới đi lui, chyện trò, trao đổi. Điều này khiến nhà thừa sai phải đi ra ngoài con người của mình mà đến với người khác, tìm dịp, tìm cách bắc cầu liên lạc. Có cách nói nghe được, có cách nói khó nghe. Vậy phải tìm cách nào nói cho nghe được và lại làm cho thích nghe nữa. Như vậy, phải học cách nói và tìm dịp hay tạo ra những cơ hội để nói. Nhưng trước khi nói bằng lời thì hãy nói bằng đời sống. Một đời sống tốt lành, đầy vị tha nhân ái, chính là cửa ngõ mở đường cho đối thoại và khơi gợi cho người ta muốn nói chuyện với mình.

Kết luận

Linh đạo thừa sai là con đường đạo đức thiêng liêng lấy Đức Giê-su làm gương mẫu, dựa vào đời sống của Người trong các sách Tin Mừng. Người đã được sai xuống trần gian ở với loài người và nói cho họ biết về Nước Thiên Chúa. Người đã sống cuộc đời rất hoạt động nay đây mai đó để rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa lành bệnh hoạn tật nguyền cho người ta. Ban ngày Người làm việc không ngừng: giảng dạy, chữa lành, nhưng ban đêm về khuya hay ban ngày trước khi mặt trời mọc, Người hay tìm nơi thanh vắng để giao tiếp với Chúa Cha.

Đó là một nền linh đạo đi đến và ở với, đồng thời cũng là một nền linh đạo chiêm niệm: tìm nơi thanh vắng, dành thời giờ để tiếp xúc với Chúa Cha. Bởi thế, nền linh đạo thừa sai cũng là hoạt động và chiêm niệm. Về hoạt động thì làm việc sinh sống ở giữa người ta, lo giúp vịệc dân sinh để qua đó làm quen rồi dần dần đưa người ta đến với Chúa; còn về chiêm niệm thì nghiền ngẫm các sách Tin Mừng để noi gương Đức Giê-su giảng đạo cho người ta thế nào và nghiên cứu các thư của thánh Phao-lô, đọc hạnh các thánh và các nhà truyền giáo như thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, cha Vinh sơn Lép (Vincent Lebbe), lịch sử Hội Thừa Sai Paris, sách Dân làng Hồ và công việc của các nhà thừa sai Pháp-Việt ở miền Thượng. Ngoài ra là làm các việc phụng vụ hay đạo đức thông thường như mọi tín hữu quen làm. Xin tạm hiểu linh đạo thừa sai là như thế.

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.

Mục tử phục vụ

Tháng Mười 21, 2010

Mục tử là những ai được Thiên Chúa chọn, xức dầu và “phong chức để phục vụ ĐỨC CHÚA” (Xh 32 , 29). Chúa Giêsu đã nói lên cung cách phục vụ của của mục tử là “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Lc 22, 2).  Như thánh Phaolô đã xác quyết vai trò phục vụ của Ngài là “Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em: đó là tôi phải rao giảng lời của Người cho trọn vẹn” (Co 1, 25), thì mục tử phục vụ Hội Thánh phải rao giảng lời Chúa cho thật trọn vẹn.  Trọn vẹn trong lời nói, trong nhân cách, và trong từng việc làm.   Nếu “Ai phục vụ Đức Ki-tô như thế, thì đẹp lòng Thiên Chúa và được người ta quý trọng” (Rm 14, 18).  Chúa Giêsu cũng đòi hỏi một lòng trung tín tuyệt đối nơi các mục tử, vì thế Ngài đã phán: Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Yn 12, 26).   Vậy, với tinh thần phục vụ đúng nghĩa thì HÃY THEO THẦY, chứ không theo nhà cầm quyền, không thể có chuyện chạy chọt chức quyền, và bán đứng anh em mình.  THEO THẦY thì không thể dững dưng trước đau khổ của người khác, không thể im tiếng trước đàn áp, bất công, và nghèo đói.

Lược lại lịch sử GHCGVN, rất nhiều mục tử như Giám mục Cuénot Thể (1844-1861), Giám mục Dumoulin Cao (1808-1838), Giám mục Sanjurio An (1818-1857), Giám mục Sampedro Xuyên (1821-1858)… đã vượt đại dương đến Việt Nam sống trong thiếu thốn,  chấp nhận tù đày và cả cái chết để phục vụ.  Vì sự phục vụ không mệt mỏi đó mà các ngài đã được yêu mến và được tôn phong lên bậc hiển thánh.

Ngày xưa, các mục tử từ Pháp, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha đã bỏ hết mọi sự để đến phục vụ đoàn chiên Việt Nam thì tại sao hôm nay các mục tử người Việt Nam chính gốc lại không thể phục vụ đồng bào mình?

Mục tử người nước ngoài bỏ hết tiện nghi vật chất, chấp nhận phục vụ trong hoàn cảnh thiếu thốn để gieo hạt giống Tin Mừng cho Việt Nam thì tại sao mục tử  người Việt Nam chính gốc lại sống quá tiện nghi và quá bận tâm đến vật chất?

Có những Giám mục như Giám mục Cassaigne Sanh (1895-1973), Giám mục Seitz Kim (1906-1984)…tuy không phải là máu đỏ da vàng, nhưng các ngài đã rất yêu thương mọi người dân Việt, kể cả những anh em các sắc tộc thiểu số, những người bệnh hoạn, những người phong cùi thiếu may mắn…thì tại sao các Giám mục người Việt lại không thể đồng cam cộng khổ với đồng bào mình đang nghèo khó, bệnh hoạn, cô thế…?

Các Giám mục Tây phương đã hòa mình phục vụ trong yêu thương, thì ngược lại, tại sao các giám mục người Việt sao chỉ cai quản bằng uy quyền và mệnh lệnh?

Hạt giống đức tin đầu tiên được gieo vào Việt Nam năm 1533, từ đó đoàn chiên Việt Nam do các mục tử thừa sai cai quản và phục vụ.  Suốt mấy thế kỷ, trải qua bao nhiêu cuộc bách hại, đã không một mục tử nào nao núng trước khó khăn đến từ mọi phía, bất chấp những đe dọa, hành hạ, tù đày, và ngay cả sự chết.  Hàng giáo phẩm Việt Nam chỉ mới được thành lập đúng 50 năm (ngày 24/11/1960 qua sắc chỉ Venerabilum Nostrorum) nhưng tại sao có quá nhiều vấn đề và các mục tử người Việt Nam hôm nay lại khiếp sợ, hợp tác, và quỵ lụy trước bạo quyền?

Đã có nhiều giám mục người ngoại quốc bị bắt và bị giết vì đoàn chiên, nhưng có bao nhiêu giám mục người Việt Nam đã bị bắt, sẽ chấp nhận bị bắt và bị giết vì đoàn chiên?


Nực cười thay khi đoàn chiên luôn được giảng dạy là phải noi gương các Thành Tử Đạo Việt Nam, nhưng những người giảng dạy thì quá nhát đảm!

Có mục tử phê phán văn hóa sự chết, đề cao văn hóa sự sống, nhưng lại im tiếng trước nạn phá thai khủng khiếp đang giết chết hơn một triệu thai nhi mỗi năm trên khắp quê hương của mình.  Đau đớn thay từ ngai toà của vị mục tử đến bệnh viện Từ Dũ, nơi biết bao thai nhi bị giết mỗi ngày, chỉ vỏn vẹn khoảng một cây số thôi!  Thế mà mục tử vẫn có thể ngoãnh mặt làm ngơ thì thật là đáng “phục”.  Như thế là rao giảng Chân Lý Tin Mừng* ư?

Thật là khôi hài khi có mục tử chuyên trách mục vụ di dân, nhưng chẳng bao giờ đến tận các nơi có rất nhiều con chiên Việt Nam đang bán sức lao động và phải bán thân, mà chỉ thấy mục tử đến thăm giáo hội quốc doanh Trung Quốc, và thăm người Việt bên Âu Mỹ như đi chợ.  Kinh Thánh phê phán những mục tử chỉ biết vật chất là “Hạng người đó chẳng phục vụ Đức Ki-tô, Chúa chúng ta, mà phục vụ chính cái bụng của mình. Họ dùng những lời ngọt ngào nịnh bợ mà quyến rũ những tâm hồn đơn sơ.” (Rm 16, 18)

Chỉ cần bước ra kỏi tòa giám mục, các mục tử sẽ thấy nhan nhãn những điều cần phải phục vụ.  Đó là những người nghèo đói cần được an ủi và nâng đở, là những người yếu thế bị uy hiếp cần được bênh vực, là những thai nhi sắp bị giết, là các bạo hành của xã hội…

“Nếu hôm nay ngài làm đầy tớ cho dân này, nếu ngài phục vụ và để ý tới dân, dùng lời lẽ ôn tồn mà nói với dân, thì dân sẽ làm tôi ngài mãi mãi” (1V 12, 7).

Tiếc thay một số ngài đã không làm hoặc không thể làm điều đó.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa thiết lập chức tư tế và xức dầu cho các ngài là để phục vụ Thiên Chúa và dân Chúa. Bởi vì ĐỨC CHÚA đã chọn chính các con để túc trực trước nhan Người, để phục vụ người, để làm thừa tác viên của người”(2Ks 29, 11), “để nhờ việc xức dầu, họ trở nên tư tế vĩnh viễn” (Xh 40, 15).  “Đó là phần dành cho các tư tế đã được thánh hiến, thuộc dòng dõi Xa-đốc, những người đảm trách việc phục vụ Ta”. (Ez 48, 11)

Vì vậy, “Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban” (1P 4, 11), chứ đừng nói thay cho bạo quyền và đừng tiếp tay với sự dữ.  Nếu có ai không nói lời Thiên Chúa và đi xa hơn với những sáo ngữ của thói đời, thì đó là “kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lãnh nhận hậu quả công việc chúng đã làm.” (Ep 6, 15)

Thật không biết phải nói làm sao khi thay vì Chúc tụng Chúa đi, tôi tớ phục vụ Người, muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn” (Đn 3, 85) thì một số mục tử của chúng ta lại ca ngợi Đảng, và còn hơn thế nữa mang cả tượng Hồ Chí Minh đặt lên bàn thờ.  Chúng ta hãy xem bức hình sau đây: HĐGMVN làm cảnh cho chế độ, thì sẽ thấy các mục tử nhu nhược và khiếp vía đến cở nào, khi các cán bộ trong Ban tôn giáo chính phủ đến chúc mừng Đại hội của HĐGMVN ngày 4 thánh 10 năm 2010.


Rõ ràng như Kinh Thánh đã nói:

“Ai chẳng biết rằng các ngươi đã trục xuất các tư tế của ĐỨC CHÚA, con cháu ông A-ha-ron, và các thầy Lê-vi nữa, để rồi tự tiện đặt những tư tế theo thói các dân ngoại? Vì bất cứ ai mang một con bê với bảy con dê đến xin tấn phong là được làm tư tế liền, để phục vụ cái không phải là thần thánh gì cả!” (2Ks  13,. 9)

Đối với những mục tử như thế, tiên tri Ezêkiel đã khuyến cáo rằng:

“Vì chúng đã giúp dân phục vụ các ngẫu tượng và đã làm cớ cho nhà Ít-ra-en phạm tội, nên Ta sẽ giơ tay trừng phạt chúng – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Chúng sẽ phải gánh lấy tội mình.” (Ez 44, 12)

Thánh Phaolô đã chẳng khuyên nhủ như thế nầy sao:

Anh em đừng dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa. Trái lại, anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.”

Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục: hoặc làm nô lệ tội lỗi, thì sẽ phải chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa, thì sẽ được nên công chính”. (Rm 16, 13 &16)

Mục tử mà không phục vụ Thiên Chúa và dân Người chắc chắn không tránh khỏi án phạt của Thiên Chúa qua lời loan báo của tiên tri Zacaria:

“ Ta sẽ bừng bừng nổi giận đánh phạt các mục tử,và sẽ hạch tội các con dê.  Khi ĐỨC CHÚA các đạo binh viếng thăm đàn chiên của Người là nhà Giu-đa, thì bấy giờ, Người sẽ làm cho chúng nên như con ngựa chiến oai phong của Người.” (Za 10, 3)

Các Thánh tông đồ đã nêu gương phục vụ của các ngài khi các ngài mạnh dạn tuyên bố: “Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm gì gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi.” (2C 6, 3).

Ước chi ngày nay tất cả các mục tử biết noi gương các Thánh tông đồ.  Được như thế có lẽ GHCGVN đã được bình an trong thời gian qua và dư luận đã không có thể phê phán các ngài.

Nếu đúng là mực tử, là thầy tư tế, chúng con thành khẩn van xin các mục tử Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta”. (2C 11, 7)

Đã có những tấm gương sáng ngời của mục tử Nguyễn Văn Thuận, mục tử Nguyễn Kim Điền, mục tử Lê Đắc Trọng, mục tử Nguyễn Quang Tuyến…sao không thể có thêm những tấm gương mục tử khác? Xin gởi đến những mục tử chân chính lời vua David nói với thái tử Salomon: “Hãy cương quyết và mạnh dạn bắt tay vào việc! Đừng sợ hãi, đừng khiếp đảm! Vì ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa, Thiên Chúa của cha, sẽ ở cùng con; Người sẽ không để mặc hoặc bỏ rơi con, nhưng sẽ giúp con hoàn tất toàn bộ công trình phục vụ Nhà ĐỨC CHÚA.” (1Ks 28, 20).

Tôma Thiện Minh

*Lời của Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn


HĐGMVN có theo đúng tinh thần Công Đồng Vatican II không?

Tháng Mười 20, 2010

Từ ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, các giám mục đã thường nại đến Công Đồng Vatican II để biện minh cho sự đồng loã với đảng cộng sản. Bắt đầu từ Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, sau 30/04/1975, đã gởi tâm thư kêu gọi giáo dân phải “hoà mình vào nhịp sống mới trong tinh thần hoà giải”, trong đó, ngài viết: “Một trang sử mới đã mở ra cho dân tộc Việt Nam. Đây là một niềm vui chung của cả dân tộc Việt Nam”. Và từ đó đến nay, ngoại trừ một số giám mục can cường bảo vệ Giáo Hội, bảo vệ con người, bảo vệ công lý và hoà bình (như Đức Cha Nguyễn Kim Điền, Đức Cha Nguyễn Văn Thuận và các Đức Cha Ngô Quang Kiệt, Cao Đình Thuyên, Hoàng Đức Oanh), đại đa số các giám mục khác đã im hơi lặng tiếng trước những bất công, trước những đau khổ triền miên của con người Việt Nam hôm nay. Và như thế là đồng loã với đảng cộng sản.

Công Đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, ngay trong lời mở đầu, đã khẳng định rõ ràng: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (MV 1).

Nhìn lại 35 năm dưới chế độ cộng sản, ta thấy các giám mục, nhất là Hội Đồng Giám Mục, chưa xem “ưu sầu và lo lắng của con người” Việt Nam hôm nay là của mình. Tự cho mình là những giám mục của công đồng Vatican II, hơn hẳn các giám mục miền Bắc bị kìm kẹp dưới chế độ cộng sản từ 1954 đến 1975, nhưng thực sự các giám mục miền Nam cũng chẳng thấm nhuần tư tưởng, lời dạy và trí ý của Công Đồng Vatican II. Có vẻ những gì “thực sự là của con người” đã không hề gieo được chút âm hưởng nào vào lòng các ngài.

Trước hết, trong nhiều năm trời, rất nhiều dân oan ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước, Mỹ Tho, Bến Tre, Long An, Bà Rịa, Vũng Tàu…nằm la liệt trên những con đường thành phố Sài Gòn đòi công lý. Nhưng Hội Đồng Giám Mục không có một lời nói, một cử chỉ thương yêu giúp đỡ họ. Những người nghèo bị bóc lột, không còn nhà để ở, không còn đất để canh tác, không có công ăn việc làm, đi đòi công lý thì bị đẩy từ toà này sang toà khác, từ năm này qua năm khác. Nhưng các giám mục lại bàng quan trước những đau khổ của họ, ung dung đi nước ngoài như đi chợ, im lặng trước bất công, dửng dưng tự tách mình ra ngoài cộng đồng dân tộc. Ưu sầu và lo lắng của con người Việt Nam hôm nay hình như không gieo được một chút âm hưởng nào vào lòng các giám mục Việt Nam!?

Đến khi con cái của Giáo Hội bị bắt bớ đánh đập vì đòi công lý và hoà bình, như các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, Đồng Chiêm, Cồn Dầu… Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng vẫn im lặng. Đặc biệt là vụ Đồng Chiêm, như mọi người đều biết, ngoài chuyện đánh đập giáo dân, còn chuyện động trời là cộng sản đập phá Thánh Giá giữa đêm khuya với hàng trăm dân quân cùng chó nghiệp vụ và đủ loại vũ khí, thậm chí dùng cả chất nổ cho nổ tung cây Thánh Giá, biểu tượng thiêng liêng của người Kitô hữu. Khác với các vụ khác, lần này có một số giám mục lên tiếng, nhưng Hội Đồng Giám Mục vẫn im lặng.

Không những thế, tại Rôma ngày 23/06/2009, Đức Cha Bùi Văn Đọc, Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý – Đức tin, đã lợi dụng một bài giảng lễ để, một cách long trọng, thanh minh cho sự im lặng thoả hiệp đáng sợ của hàng giám mục trước sự tàn ác của cộng sản Việt Nam. Đức Cha Đọc giảng trước sự hiện diện của tất cả các giám mục Việt Nam đến Rôma gặp Đức Giáo Hoàng Beneđictô 16, với sự tham dự đông đảo của linh mục, tu sĩ, giáo dân Việt Nam đang làm việc hoặc học tập ở Rôma, trong một thánh lễ long trọng ở đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Vì thế có thể coi như đó là tiếng nói đại diện Hội Đồng Giám Mục, và bài giảng đó đúng là bài bào chữa cho sự im lặng của hàng giám mục Việt Nam. Trong bài giảng, Đức Cha Đọc đã chỉ dựa vào sự e dè của Giêrêmia để biện minh cho sự im lặng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Đức Cha Đọc cố ý quên đi việc Thiên Chúa sai Giêrêmia nói lời của Ngài và sự đảm bảo của Thiên Chúa “Có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”. Thiên Chúa giao cho Giêrêmia một sứ mạng khủng khiếp phải chu toàn: “đứng đầu các dân, các nước để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng”. Làm ngôn sứ là phải trả giá. Nhưng hình như các giám mục Việt Nam không dám trả giá như thế, mà chỉ biết loanh quanh biện minh.

Tiếp đó, ngày 13/01/2010, lại có bài “Lên tiếng hay không lên tiếng” trên trang điện tử của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Có thể coi đây thực chất là một bản tuyên bố nói lên lập trường của Hội Đồng Giám Mục. Trong bản tuyên bố này, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có ý nói: chúng tôi chỉ đưa ra nguyên tắc chung, còn tại địa phương, địa phương nào lo địa phương đó. Nói cách khác, Hội Đồng Giám Mục sẽ ăn ngon ngủ yên, mặc cho con cái mình nơi này nơi kia bị bắt bớ tù đày vì đòi công lý, mặc cho đất đai của cha ông như các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bị cắt dâng cho ngoại bang, mặc cho việc khai thác bô xit độc hại liên luỵ đến môi trường sống đã và đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng…

Điều mà Dân Chúa đang mong đợi là câu trả lời thực tế cho các vấn đề nóng bỏng như: Giáo Hội phải đồng hành với dân tộc thế nào trong chế độ cộng sản? Giáo Hội phải sống giữa lòng dân tộc như thế nào để bảo vệ con người, bảo vệ công lý, bảo vệ hoà bình theo tinh thần Công Đồng Vatican II? Đó mới là những vấn đề nhức nhối hiện nay.
Linh mục Chân Tín

Như vậy, Hội Đồng Giám Mục có theo đúng tinh thần của Công Đồng Vatican II không? Có đồng hành với dân tộc hay chỉ đồng hành với đảng cộng sản? Có sống giữa lòng dân tộc hay chỉ sống giữa lòng đảng cộng sản?

Hiện nay, Hội Đồng Giám Mục đang tiến hành tổ chức Đại Hội Dân Chúa. Đại Hội sẽ diễn ra vào tháng 11/2010 sắp tới tại Sài Gòn.

Đại Hội có đem vấn đề thi hành Công Đồng Vatican II ra thảo luận không? Dân Chúa tại Việt Nam sống giữa lòng dân tộc như thế nào? Làm thế nào để đồng hành thật sự với dân tộc? Làm thế nào để sống lời khẳng định của Công Đồng Vatican II: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”?

Tài liệu làm việc của Đại Hội đã được gửi đi các nơi, nhưng trong đó chỉ thấy lý thuyết và lý thuyết muôn thuở. Nào là nền tảng thần học, nào là hội nhập văn hoá… Những vấn đề muôn thuở này, chỉ cần trình bày trong một số tài liệu để gửi về các giáo xứ học hỏi là đủ. Điều mà Dân Chúa đang mong đợi là câu trả lời thực tế cho các vấn đề nóng bỏng như: Giáo Hội phải đồng hành với dân tộc thế nào trong chế độ cộng sản? Giáo Hội phải sống giữa lòng dân tộc như thế nào để bảo vệ con người, bảo vệ công lý, bảo vệ hoà bình theo tinh thần Công Đồng Vatican II? Đó mới là những vấn đề nhức nhối hiện nay.

Nếu không có trao đổi tự do về những vấn đề đó, thì Đại Hội Dân Chúa sắp tới sẽ chỉ là một lễ hội tưng bừng tốn kém mà chẳng ích lợi gì cho ai. Thậm chí chỉ có lợi cho đảng cộng sản mà thôi. Và thử hỏi, đó có phải là tinh thần Vatican II hay không?

Linh mục Chân Tín, DCCT

Điện thoại: 0128.521.9768