ĐC Giuse Châu Ngọc Tri: Bây giờ giáo quyền nằm trong tay chính quyền, Linh mục Anton Nguyễn Trường Thăng: Cô đơn khi bảo vệ Cồn Dầu

Tháng Mười 29, 2010

Những ngày qua, vụ án trái pháp luật của Tòa án Nhân dân Quận Cẩm Lệ xét xử 6 nạn nhân Cồn Dầu đã vạch rõ cho cả thế giới biết về hệ thống pháp luật tại Việt Nam đang vận hành như thế nào. Qua đó, mọi người thấy rõ hệ thống đang vận hành bằng thứ “luật rừng”.

Đọc tiếp »


Giáo dân Cồn Dầu kêu cứu đến Hội Đồng Giám mục Việt Nam

Tháng Mười 16, 2010

(Hình minh họa: Giáo dân Cầu nguyện cho Công Lý – Hòa bình)

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

“Mầu nhiệm – Hiệp thông – Sứ vụ”

Cồn Dầu – Đà Nẵng, ngày 15 tháng 10 năm 2010

Kính gửi:- Đức Tổng giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn – Chủ tịch HĐGMVN

– Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt – Tổng thư ký HĐGMVN

– Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp – Chủ tịch UB Công lý và Hòa bình

Trọng kính quý Đức cha,

Chúng con là các giáo dân giáo xứ Cồn Dầu thuộc Giáo phận Đà Nẵng và là thân nhân của 6 nạn nhân đang bị giam giữ cách bất công tại công an thành phố Đà Nẵng sau đây:

1- Matthêu Nguyễn Hữu Liêm

2- Giuse Trần Thanh Việt

3- Tadêô Lê Thanh Lâm

4- Simon Nguyễn Hữu Minh

5- Têrêxa Nguyễn Thị Thế

6- Maria Phan Thị Nhẫn

Trong tâm tình con thảo, chúng con đồng kính gửi lên quý Đức cha tâm tình yêu mến và kính trình lên quý Đức cha sự việc sau đây:

Giáo xứ Cồn Dầu chúng con được thành lập cách đây 80 năm với bề dầy hơn 130 năm được hạnh phúc đón nhận Tin mừng. Biết bao thế hệ giáo dân Cồn Dầu đã hy sinh xương máu, dầy công vun đắp cho quê hương, cho xứ đạo mỗi ngày một tươi đẹp. Cuộc sống cứ thế êm đềm trôi trong hạnh phúc, bình an.

Thế nhưng, cuộc sống ấy đã bị đảo lộn hoàn toàn kể từ khi chính quyền Đà Nẵng quyết định bán khu vực này cho Công ty Cổ phần Đầu tư Mặt Trời để làm Dự án khu du lịch, sinh thái. Đây là một công ty Cổ phần, tức là của một số tư nhân có tiền thành lập nên, hoàn toàn không phải là công ty thực hiện các dự án của nhà nước, không thuộc Dự án an ninh quốc phòng. Mức giá đền bù được ấn định hết sức rẻ mạt là 350.000đ/m2 đất thổ cư.

Luật đất đai năm 2003, tại điều 40, về việc “Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế” đã qui định: “Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.”

Nghị định 84/2007/NĐ-CP, ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ, tại điều 35, khoản 1, về “Các khu kinh doanh tập trung khác có cùng chế độ sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 40 và khoản 1 Điều 90 của Luật Đất đai bao gồm:

a) Khu thương mại – dịch vụ tổng hợp với nhiều loại hình mua bán, dịch vụ và có nhiều chủ thể cùng kinh doanh.

b) Khu du lịch có mối liên kết về kết cấu hạ tầng, về loại hình kinh doanh và có nhiều chủ thể cùng kinh doanh (không bao gồm khu du lịch sinh thái)”.

Việc chính quyền Đà Nẵng thu hồi đất tại giáo xứ Cồn Dầu bán cho Công ty CP Đầu tư Mặt Trời để xây dựng khu Du lịch sinh thái đã vi phạm nghiêm trọng về luật đất đai, xâm hại tài sản hợp pháp của người dân.

Là một khu dân cư ổn định lâu đời, có truyền thống đạo đức và nếp sống tốt đẹp, tại đây, mồ mả cha ông chúng con bao đời được an táng ổn định và yên lành. Trước viễn tượng bị mất trắng cơ nghiệp, đất đai, nhà cửa, tài sản bao đời nay cha ông chúng con chắt chiu dành dụm mà có, mồ mả cha ông bị xâm phạm, quyền lợi hợp pháp bị tước đoạt trắng trợn… Những năm qua, toàn thể bà con giáo dân Cồn Dầu chúng con đã nhiều lần đề nghị chính quyền các cấp tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền lợi hợp pháp của người dân.

Tuy nhiên, thay vì tôn trọng luật pháp, chính quyền Đà Nẵng đã dùng mọi biện pháp kể cả trấn áp để miễn sao đạt được mục đích mà họ đã đề ra.

Ngày 4/5/2010, tại đám tang của bà Hồ Nhu, nhũ danh Maria Đặng thị Tân, cảnh sát đã tấn công toàn thể giáo dân đưa tiễn người quá cố tới Nghĩa trang của Giáo xứ bằng nhiều thứ vũ khí khác nhau. 72 giáo dân đã bị công an bắt giữ, những ngày sau, cơ quan công an tiếp tục bị bắt giữ một số người khác kể cả những người không tham gia vào đám tang mà chỉ vì trước đó có tiếng nói đấu tranh cho quyền lợi của người dân…

Trong số những người bị bắt có các thân nhân của chúng con và khép những người này vào tội “gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ” – một tội trạng thường được chính quyền các tỉnh thành trong cả nước áp đặt cho các trường hợp đấu tranh đòi quyền lợi trong các vụ khiếu kiện đất đai.

Chúng con khẳng định: Các thân nhân của chúng con không làm gì vi phạm pháp luật, không chống đối ai. Có những người như anh Simon Nguyễn Hữu Minh, dù anh được chính quyền mời đi đến đám tang bà Hồ Nhu để hỗ trợ cùng với chính quyền trong việc kêu gọi giáo dân, nhưng vẫn bị bắt giữ vào ngày 20/5/2010, tức hơn hai tuần sau đó. Có những trường hợp giáo dân bị đánh đập, người thân bị gọi lên tra tấn hàng ngày. Đau đớn hơn, có những trường hợp chỉ khóc thôi cũng bị chính quyền gọi lên bắt phạt 50.000 đồng.

Chúng con khẳng định, sáu giáo dân là thân nhân chúng con đang bị bắt chỉ vì đã tích cực đấu tranh cho quyền lợi hợp pháp của mình và của giáo dân, để giáo xứ Cồn Dầu được tồn tại.

Kể từ khi bị bắt giam, với những công dân này, chính quyền Đà Nẵng đã vi phạm nghiêm trọng về các thủ tục tố tụng hình sự, không có lệnh bắt, không đảm bảo các yếu tổ để bắt người. Sau khi bắt người đã định xong mới triệu tập một số người khác, tra tấn họ yêu cầu họ khai man để tạo chứng cứ.

Trong suốt quá trình bị tạm giam tại công an Đà Nẵng, rất nhiều lần, cơ quan hành pháp của thành phố Đà Nẵng đã yêu cầu người thân chúng con không được thuê luật sư và đe dọa sẽ tăng án phạp vì đã “cả gan cãi lại Viện Kiểm sát”.

Trọng kính quý Đức Cha,

Chúng con những giáo dân suốt đời chỉ biết tới mảnh đất, ruộng vườn và tiếng chuông cầu kinh mỗi buổi sớm mai nơi một vùng quê yên tĩnh.

Nếu nhà cầm quyền Đà Nẵng chiếm đoạt của chúng con tất cả làng xóm, cơ ngơi này, chúng con không biết sẽ sinh sống, ăn ở và tương lai ra sao, tất cả không có bất cứ điều gì đảm bảo, đời sống con cháu, lối sống đạo đức bao đời nay bị đảo lộn và suy vong.

Nhưng trên hết và cấp bách nhất là các thân nhân của chúng con là cha, mẹ, chồng, vợ chúng con đang oan ức, đau đớn trong nhà tù của nhà cầm quyền Đà Nẵng.

Những sự việc này, Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri đã biết tường tận, chúng con cũng hi vọng nhiều vào khả năng của ngài cứu giúp chúng con. Tuy nhiên đến nay sự việc vẫn không có lối thoát. Nay chúng con vui mừng được biết Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã thành lập Ủy Ban Công Lý – Hòa Bình.

Trong tình cảnh khốn quẫn hiện nay, chúng con chỉ biết cầu xin Thiên Chúa giữ gìn và khẩn nài xin quý Đức cha giúp đỡ chúng con tìm lại công lý cho các thân nhân chúng con đang bị tạm giam cách bất công tại các trại tạm giam của công an thành phố Đà Nẵng, theo đúng qui định của pháp luật hiện hành.

Chúng con, những đứa con nhỏ bé, xin chân thành cảm ơn quý Đức cha.

Kính chúc quý Đức Cha mạnh khỏe, dồi dào ơn Thánh Linh Chúa, để dẫn dắt Giáo Hội Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, với những con người đau khổ và thăng tiến trong sứ mạng làm chứng cho Chúa giữa thế gian này.

KÍNH THƯ

THÂN NHÂN CÁC NẠN NHÂN ĐỒNG KÝ TÊN

Nơi gửi: Như trên

–         Các cơ quan báo chí Công giáo (để biết thông tin và ủng hộ lời cầu nguyện)

–         Các cơ quan, đơn vị liên quan trong Giáo hội ( để biết và giúp đỡ)

BẢN TIẾNG ANH:


THE CATHOLIC CHURCH OF VIETNAM

“Mystery – Communion – Mission”

Con Dau – Dang Nang city, October 15, 2010

To: His Excellency Bishop Peter Nguyen Van Nhon – President of the Vietnamese Episcopal   Conference.

His Excellency  Bishop Cosma Hoang Van Dat – Secretary General of The Vietnamese Episcopal Conference.

His Excellency  Bishop Paul Nguyen Thai Hop – Chairman of Committee for Justice and Peace.

Respected Fathers,

We are the Catholics of Con Dau parish, Diocese of Da Nang and  relatives of the following six victims being put unjustly under Da Nang city’s police custody :

1 – Matthew Nguyen Huu Liem
2 – Joseph Tran Thanh Viet
3 – TadeoLe Thanh Lam
4 – Simon Nguyen Huu Minh
5 – Teresa Nguyen Thi The
6 – Maria Phan Thi Nhan

We would like to send you our best regard and our report on the incident as follows:

Our Con Dau parish has been established for 80 of our 130 year- history of  receiving the Good News. Generations of Con Dau parishioners had sacrificed their  blood and tears for the development of their home parish and their homeland, making it a more pleasant place to live and worship. Life has been going by in peace and harmony.

Our normal life however has turned up side down when the government of Da Nang decided to sell this area off to

The Sun- Investment Corporation for a Eco-Tourism Project. This is a joint stock company which is formed by private owners. It’s neither a company established to carry out projects of the state, nor belonging to any national security project. Compensation was set at dirt cheap rate of 350.000d (an equivalent of 20 dollars) per square meter for residential land.

Article 40 in 2003 Land Law book, pertaining to  “Land recovery for use for economic development purposes” stipulates: “The State shall recover land for purposes of economic development in the case of the construction of industrial parks, high-tech zones, economic zones and major investment projects as stipulated by the Government. “

The Governmental Decree 84/2007/ND-CP, May 25, 2007 in article 35, paragraph 1, said “The focus on other business areas have similar land use regimes prescribed in Clause 1, Article 40 and paragraph 1 of Article 90 of Land Law, including:

a) Commercial – general services with a variety of sales, service, and many owners doing business together.

b) The affiliated travel on infrastructure, on the type of business and many owners doing business together (not including eco-tourism). “

The Da Nang authority’s action of recovering parish  land and selling it to The Sun- Investment Corporation for building the Eco-tourism plan has seriously violated the land law and infringed upon people’s lawful property .

In a residential area with a long-standing stability and a good secular and religious tradition, where our fathers’ remains are resting in peace, it’s appalling to see the homes, the land, the properties generations after generations have worked so hard to earn being audaciously taken away…For years many of our Con Dau parishioners have been asking local government at all levels to comply with the law, to respect the legal rights of all citizens. Da Nang authority, instead of  doing just that, has applied every measure including cracking down on people in order to achieve the goal they had set.

On  May 4, 2010, at the funeral of Mrs. Ho Nhu, her maiden name as Maria Dang Thi Tan, police used different forms of weapons to attack parishioners who were on the way to the parish cemetery to pay final respect to the decease. A total of 72 parishioners had been detained by the police. Subsequently police arrested a number of others including those who did not participate in the funeral procession but spoke out to support the rights of the residents.

Among those arrested were our relatives who had been accused of “disorderly misconduct”, obstruction of justice”- offenses the provincial governments in the country usually charge people with in land disputing cases .

We are affirmative that their relatives neither violated the law, nor they were against anyone. People like Simon Nguyen Huu Minh, who did not even step out of his  house the day Mrs. Ho Nhu was buried, was arrested on May 20, 2010 or more than two weeks after (the funeral). There are cases where parishioners were beaten, their relatives were subject to torture every day. All they did was to cry but later were called on by the authorities to receive a fine of an equivalent to 3 dollars.

Since the arrest of these citizens, Da Nang authority have serious violations of the criminal proceedings, where there is no arrest warrant, no proof of probable cause. Instead they  simply arrested their targets, then rounded up several others and put them through torture to extort false testimonies against the intended victims.

During their detention at Da Nang’s police station, the law enforcement agency of Da Nang city had asked our relatives not to seek legal counsel and threatened to up-grade their charge to a more severe level should they “dare to fight back with the Prosecution”

Respected Fathers,

We are only the simple faithful, dedicating all our lives to our land, our farms and our prayers every early morning in this beloved, serene countryside.

Should Da Nang authority appropriate all of our neighborhood, our properties, we do not know how we will survive, where we live, or what our future will be like! There is absolutely no guarantee for our everyday lives and our childrens’ future; even our way of a good life is being turned up side down and on the way to be destroyed.

But above all and most urgently is the agonising situation where our fathers, husbands, wives are suffering at the detention center of Da Nang government.

These things are happenning  with Bishop Joseph Chau Ngoc Tri ‘s knowledge.  We’re  therefore putting our hope so much on his ability to help us. But as of now there still has been no way out for us. We are now very optimistic upon the news of the Committee for Justice and Peace being created by the Vietnamese Episcopal Conference.

In this desparate situation we can only pray to God for his keeping and beg you Fathers for your help in obtaning justice for our loved ones who are  being unjustly detained in the Da Nang Police’s detention centers, in accordance with the  current law.

We, the small children, would appreciate very much your help in this matter.

We wish you Fathers good health and be blessed with the grace of God in your guiding the Vietnamese Church to walk alongside with the (Vietnamese) people, with the miserable and to be progressing forward in your mission to be the Lord’s witnesses in this world.

RESPECTFULLY YOURS,
COSIGNATORIES OF THE VICTIMS’ FAMILIES

Recipients – As mentioned above
– Catholic Media (for information and support with prayers )
– Related Church’s agencies and organizations (to be informed and offer support)

– Giáo dân Cồn Dầu cho biết: Thư này đã được mang đến tận văn phòng Tòa TGM Hà Nội gửi đến Đức Cha Phê rô Nguyễn Văn Nhơn – Chủ tịch HĐGMVN, gửi qua bưu điện đến hai địa chỉ còn lại là Tổng Thư ký HĐGMVN và Đức Cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp – Chủ tịch UB Công Lý – Hòa bình. Sau đó, được gởi đến các địa chỉ của Tòa Thánh Vatican, Hội Đồng GMVN, các Tòa Giám mục, các dòng tu, các tu sĩ… theo đường email.

Nữ Vương Công Lý


Thư của linh mục Chân Tín gửi Đức Thánh Cha Benedicto XVI

Tháng Mười 7, 2010

Saigon 06.10.2010

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Con là linh mục Stephano Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, 61 năm linh mục, 90 tuổi, ở Sài Gòn – Việt Nam.

Vào năm 1989, Đức Hồng Y Roger Etchegaray, đặc sứ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II, đã đến thăm giáo hội Việt Nam. Nhân dịp đó, con có gửi cho ngài một lá thư, cho ngài biết tình hình của giáo hội Việt Nam, đưa ra nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề chọn các giám mục. Con viết: “Giáo hội tại Việt Nam sung sướng được tiếp đón Đức Hồng Y thăm viếng trong bối cảnh hiện tại của đất nước chúng con. Con tin rằng Đức Hồng Y có một sứ vụ đặc biệt, bên cạnh Hội đồng Giám mục Việt Nam và chính phủ nhân danh Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II. Vì thế, con mạn phép đệ trình Đức Hồng Y một số suy nghĩ liên quan đến giáo hội Việt Nam, trong cuộc sống nội bộ giáo hội và quan hệ với nhà nước.

Trước hết, con xin đề cập đến việc chọn lựa các giám mục: chúng con có những giám mục thánh thiện, nhưng chúng con thiếu những vị lãnh đạo kiên quyết và đồng thời chịu đối thoại với giáo dân, có khả năng điều hành đời sống nội bộ giáo hội và các quan hệ với nhà nước.

Dân Chúa ước mong việc chọn giám mục được căn cứ theo tinh thần Vaticano II và theo giá trị lãnh đạo tinh thần hơn là theo vế đạo đức và ngoan ngoãn của đối tượng. Bằng không thì không thể có đổi mới cũng chẳng có lãnh đạo. Trong đời sống của giáo hội, người ta dễ bằng lòng với một thứ đạo đức nhất định, không có chiều sâu. Trong quan hệ với nhà nước, người ta để mặc một số linh mục mệnh danh là “yêu nước” xỏ mũi. Nhóm này hoạt động hết mình cho chế độ cộng sản hơn là cho giáo hội.”

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Những lời con viết cho Đức Hồng Y Roger Etchegaray cách đây 21 năm vẫn còn nguyên vẹn.

Các giám mục Việt Nam hôm nay vẫn là những người sẵn sàng thỏa hiệp với đảng cộng sản. Họ không còn là ngôn sứ của Chúa. Như Đức Thánh Cha đã nói, họ là những con chó câm không biết sủa, hay không dám sủa, vì muốn yên thân, mặc cho chế độ cộng sản đàn áp tôn giáo, đàn áp người dân nghèo. Họ tưởng là thỏa hiệp với đảng cộng sản là đối thoại, cộng tác theo tinh thần Vaticano II. Thực ra họ đã phản bội sứ mạng ngôn sứ của họ, khi họ ra lá thư “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, ai cũng mong rằng giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ sống cho dân tộc, cho con người. Nhưng thật ra, “dân tộc” đây trong thực tế là đảng cộng sản. Làm theo đảng là sống giữa lòng dân tộc. Đối với đảng cộng sản vô thần, duy vật và độc tài, không thể đối thoại, cộng tác được, chỉ có áp đặt.

Một linh mục dòng Phanxico đã viết: “Trong cái xã hội đầy những bất công, gian dối, thối nát, tham nhũng, khi những người yêu nước, yêu tự do dân chủ, lần lượt bị kết án bất công, khi các nhà trí thức bị bịt mồm bịt miệng, chỉ vì vạch trần những âm mưu xâm lược của ngoại bang bằng mọi thủ đoạn hiểm độc nhất, khi mấy người mặc áo sắc phục công an cảnh sát làm ngơ cho bọn côn đồ mang danh quần chúng tự phát tha hồ đánh đập trấn át dân lành không tấc sắt trong tay, khi những người trẻ tìm đến tu thân nơi cửa Phật bị xua đuổi hành hạ, nhất là khi biểu tượng thiêng liêng nhất của Kitô giáo là cây thánh giá bị triệt hạ, bị đập nát, chúng ta phải hợp tác với chính quyền như thế nào?”

Giám mục Việt Nam hôm nay lao vào con đường “Đối thoại và cộng tác” một cách vô vọng. Sau 35 năm cộng sản ở miền Nam, giáo hội đối thoại và cộng tác được gì? Ảo tưởng và thất vọng ê chề!

Họ tiêu diệt ý thức đại diện quốc dân nơi các thành viên quốc hội; tiêu diệt ý thức phục vụ công chúng nơi các nhân viên công quyền; tiêu diệt ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân nơi giới công an cảnh sát; tiêu diệt ý thức bảo vệ tổ quốc nơi hàng ngũ quân đội; tiêu diệt ý thức bảo vệ luật pháp và công lý nơi các luật sư; tiêu diệt ý thức thương xót các bệnh nhân nơi các y bác sĩ; tiêu diệt ý thức làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi giới tu hành: họ biến tôn giáo thành thuốc phiện, họ muốn các nhà tu hành xây dựng đền thờ nguy nga, tổ chức lễ hội rầm rộ, mà hoàn toàn dửng dưng trước cảnh đồng bào bị đàn áp, xã hội bị băng hoại, tổ quốc bị lâm nguy; tiêu diệt ý thức giáo dục nơi các thầy cô giáo – nền giáo dục cộng sản là nền giáo dục mang tính chính trị, không nhằm đào tạo những công dân tự do và trưởng thành cho đất nước, nhưng là nhào nặn ra những người dân khiếp nhược và nô lệ cho đảng.

Kính thưa Đức Thánh Cha, vào ngày 15.08.1989, một nhóm linh mục và giáo dân, trong đó có con, đã viết một bức tâm thư gửi Hội đồng Giám mục Việt Nam về nhiều vấn đề của giáo hội Việt Nam, trong đó có vấn đề liên quan đến xã hội: “Chúng con yêu cầu Hội đồng Giám mục cần phải lên tiếng bênh vực công bằng xã hội, phẩm giá con người, chống lại mọi bất công áp bức, dù phải vì thế mà tiếp tục con đường thập giá, chứ không được bình chân như vại của thế gian. Chúng ta phải đồng hành với dân tộc, sống Tin Mừng giữa lòng dân tộc… chúng ta cũng chỉ đồng hành trên con đường tiến bộ, nhân bản, dân chủ và thịnh vượng, do đó giáo hội không được làm ngơ trước những gì phản lại con đường này của dân tộc. Giáo hội lại không thể cầu cạnh, khúm núm van xin từ phía thế quyền”.

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Con viết lá thư này cho Đức Thánh Cha với sự đồng tâm của nhiều linh mục tu sĩ, giáo dân đứng trước tình trạng các giám mục im lặng trước bất công, chúng con rất bất bình.

Chúng con mong Đức Thánh Cha đẩy mạnh các giám mục Việt Nam dấn thân bảo vệ con người, chống lại những bất công của một chế độ vô thần duy vật, độc tài.

Kính xin Đức Thánh Cha chúc lành cho chúng con. Kính xin Đức Thánh Cha nhận những tâm tình biết ơn của chúng con.

Kính

Linh mục Stephano Chân Tín

38 Kỳ Đồng – P.9 – Q.3

DT. 0128.521.9768

Bản Tiếng Anh:

Saigon October 6, 2010

His Holiness,

I am Rev. Stephenus Chan Tin, CSsR. I am 90 years old and have been living in priesthood for 61 years. Now I am living in Saigon, Vietnam.

In 1989, Cardinal Roger Etchegaray, Envoy of Pope John Paul II, visited the Church in Vietnam. On that occasion, I sent him a letter to report the situation and problems of the Church in Vietnam, particularly electing of Bishops.

I wrote, “The Church in Vietnam is very happy to welcome you. I think that you on behalf of Pope John Paul II have a special mission along with the Episcopal Conference of Vietnam and the Government. Therefore, I venture to submit you some of my opinions of the Church in Vietnam, its internal life and also its relationship with the Government.

First of all, I would like to deal with electing of Bishops. We have a holy Episcopate but we lack resolute Bishops who are willing to have dialogue to the lay people, able to deal with the Church’s internal life and the relationship with the Government.

The people of God wishes electing of Bishops is based on the spirit of the Second Vatican Council and the spiritual leadership rather than the piety and docility of candidates. If not, there will not be either renewal nor leadership. In the life of the Church, people is easy to content with a certain pieties, lacking the depth. In the relationship with the Government, some “patriotic priests” are allowed to lead the Church. This group do the best efforts for the sake of Communist party rather than the Church.”

His Holiness,

The letter that I sent Cardinal Roger Etchegaray 21 years ago is still realistic.

Bishops in Vietnam today are still those who are willing to compromise with the Communist party. They are no longer the prophets of God. They are “mute dogs,” do not bark, as you said, they do not dare to bark because they want to protect themselves, in despite of the religious and social oppression. They think that the compromission with the Communist party is the dialogue and co-operation in the light of the Second Vatican Council. In fact, they betray their prophetic mission. In 1980, when they issued the pastoral letter named “Living out the Gospel in the midst of the Nation,” everyone expected that the Catholic Church in Vietnam would live for the sake of the Nation and the people. However, the Nation is identified to the Communist party in this letter. To conform to the party is to live in the midst of the Nation. For the Communist party which is atheistic, material and dictatorial, there will not be able to have dialogue and co-operation. There is imposition only.

A Franciscan priest in Vietnam wrote, “In the society which is full with injustice, deceit and corruption patriots, freedom and democracy lovers are one by one sentenced unjustly, the intellectual are silenced just because they uncover invaded plots of foreign country which is performed in the wickest way, the police ignore to allow the bad alleged “spontaneous people” to beat badly the innocent in defenceless, the youth who come to joint the Buddhist pagoda are beaten and expelled, especially the most holy symbol of Christianity, the cross, is broken down by explosion, how can we co-operate with the Government?

After 35 years, the Communist party exterminate the awareness of representative of Congressperson, eterminate the awareness of public service of the public officers, eterminate the awareness of protection and respect for the people of the police, exterminate the awareness of protection the country of the military, exterminate the awareness of conforming to the law and justice of the lawyers, exterminate the awareness of compassion for the patient of the doctor and nurse, exterminate the awareness of witness to the truth and reason of the clergy. They change the religion into opium. They want the clergy to build big churches, to hold luxury festivals but to ignore those who are oppressed, degenerated society, the country in peril. They exterminate the awareness of teaching of the teachers. The Communist education is politicized to mold the coward and slaves to the party rather than to educate free and mature citizents for the country.

His Holiness,

In August 15, 1989 a group of priest and lay people, among them is I, wrote a heart letter to the Episcopal Conference of Vietnam to deal with many problems of the Church in Vietnam, among them is social ones. It read, “We ask the Episcopal to speak up to protect social justice, human dignity, to oppose injustice and oppression, in despite of the price of cross and the loss of false peace of the world. We have to accompany the nation, living out the Gospel in the midst of the nation… We also need accompany humanism, progression, democracy and prosperity. So the Church can not ignore what works against these insights. The Church can not request favours and be obsequious to the secular authorities.”

His Holiness,

I wrote this letter with consent of many priests, religious and lay people. We are discontented with the silence of Bishops.

We beg you to impulse Bishops in Vietnam to commit in protection of people, against injustice of atheistic, material and dictatorial government.

We beg you to bless us.

In gratitude,

Rev. Ste. Chan Tin, CSsR

No. 38 Ky Dong St., Ward 9, Dist. 3, Vietnam.

Cell phone: 0128 521 9768


Thư của HĐGMVN gửi Cộng đồng Dân Chúa dịp ngàn năm Thăng Long

Tháng Chín 11, 2010


Chức Thánh trong hàng giáo dân

Tháng Bảy 15, 2010

Trong Năm Thánh đặc biệt dành riêng để cầu nguyện cho Linh Mục, chúng ta đã được học, được xem nhiều bài viết về Chức Năng ”Tư-Tế, Ngôn-Sứ, Quân-Vương” của Hàng Giáo Phẩm. Vì thế, trong bài này, tôi chỉ trích dẫn Kinh Thánh, Giáo Lý Công Giáo nói về giáo dân vì họ là đại đa số trong Hội Thánh. Nói đến Hội Thánh là nói đến Đức Tin vì Đức Tin là linh hồn của Hội Thánh.

Kinh ”CREDO: TÔI TIN” mà Giáo Hội Công Giáo Việt Nam dịch là ”Kinh Tin Kính’‘ có ý nghĩa thật súc tích bởi vì ”tin” mà chẳng ”kính” là con số ”không” như lời dạy của Chúa Giê-su và của Phao-lô… Gia-cô-bê cũng khẳng định: ”Đức tin không có hành động là đức tin chết.” Tin mà không có lòng ”kính mến” là chẳng tin gì cả! Trong mười hai điều tin, có bốn ”đặc tính bất khả phân ly” sau đây buộc người Công Giáo phải tuyên xưng về Giáo Hội, đó là: ”duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.*” Bốn đặc tính này chứng minh điều sau đây:

Người viết bài này cũng có chức thánh vì nó cũng là Giáo Hội, là Ki-tô hữu, là Ki-tô khác, tức là giáo dân cũng được mặc lấy Chúa Ki-tô để cùng sinh, sống, chịu khổ nạn, chịu tử nạn, chịu chôn với tội lỗi của mình, được phục sinh, chiến thắng tội lỗi mà hiển trị với Ngài như tiếng nhạc mở đầu chương trình phát thanh Đài Vatican: ”Christus vincit! Christus regnat! Christus, Christus imperat!- Ki-tô chiến thắng! Ki-tô ngự trị! Ki-tô, Ki-tô quản trị!”

Theo lời đề nghị của nhiều người, tôi xin mạo muội nêu lên nguồn gốc và ý nghĩa của các chữ ”tư-tế, ngôn-sứ, quân-vương” như sau:

Chữ Hán-Việt ”tư-tế, ngôn-sứ, quân-vương”, được dùng trong Giáo Hội, có nghĩa là ”thánh hiến mình, được sai đi rao giảng Lời, làm vua.” Hai chữ ”quân, vương” có cùng một ý nghĩa, tức là ”điệp ý”. Còn tại sao gọi là ”tư-tế”? Chữ ”tư” có nghĩa là ”riêng”, trái nghĩa với ”công”. Chúng ta còn nhớ bài ca nhập Lễ có câu: ”Con sẽ bước lên Bàn Thánh, tế lễ mình, làm của lễ hy sinh.” Chữ ”tế lễ mình” dịch sang tiếng Pháp, Anh là ”se sacrifier, sacrifice oneself”, gốc Latinh là ”se sacrificare”.  Tiếp đầu ngữ ”sacri” là cách biến âm của chữ ”sacer” có nghĩa là ”thánh”.

Chữ ”tư-tế” còn dịch từ chữ Latinh ”sacerdos, sacerdotis”, có nghĩa là ”linh mục, của linh mục”. Chữ này có hai thành phần: ”sacer” và ”dos, dotis” do động từ Latinh là ” dare, do, das, dedi, datum: cho, tặng, làm*”, sang tiếng Pháp thành ”dot: hồi môn” là ”của riêng” mà người đàn bà mang theo để về nhà chồng. Khi bà ta qua đời hay đi tu thì của này được đưa vào tu viện. Chữ ”sacrement” hay còn gọi là ”acte sacramental” là ”phép thánh hóa”, là nghi thức thánh hiến người, bánh-rượu Lễ là đối tượng của phép này. Vì thế, khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy (Rửa Tội), tôi đã được ”cho” Dầu Thánh, được dâng ”riêng cho” Thiên Chúa để mặc lấy Đấng Thánh được Chúa Cha xức Dầu và sai đi, để tôi trở thành con của Thiên Chúa, con của Giáo Hội và cũng là Giáo Hội, tức là ”Hiền Thê” của Giê-su, là bạn đời của Ngài, không phải là ”trăm năm”, mà đến ngày sau vĩnh hằng! Là Hiền Thê của Ki-tô nên tôi có của ”Hồi Môn”, có Chức Thánh Tư-Tế trong hàng giáo dân*, có chức Ngôn Sứ cho người ngoài Đạo, cho người trong Đạo nói chung.

Tôi xin trích dẫn Lời Chúa trong Kinh Thánh và Sách Giáo Lý để chứng minh điều mà tôi vẫn luôn xác tín như vừa rồi, để nhiều giáo dân đừng cho rằng đó là điều không tưởng (utopie), để họ khỏi lên án giáo dân ”quèn” như tôi là ”kẻ ăn mày đòi xôi gấc”, dám lộng ngôn, phạm thượng, và để họ cũng được Chân Lý giải thoát khỏi mặc cảm tự ti rằng họ không có Chức Thánh! Nếu không có Chức Thánh thì là chức gì? Không lẽ là ”chức ma, chức quỷ”?  Rõ ràng là không vì Phê-rô đã khẳng định như sau: ”Ngõ hầu, nhờ đó, anh chị em được thông phần bản tính Thiên Chúa…” (2 Phê-rô 1,4) Sách Giáo Lý, số 823 ghi: ”Như vậy, Giáo Hội là ”Dân Thánh của Chúa”, nên các thành viên của Giáo Hội được gọi là ”các thánh”. ”Dân Thiên Chúa thực hiện ”chức quân vương” của mình bằng cách sống phù hợp với ơn gọi này là phục vụ với Chúa Ki-tô.” (số 786) ”Phép Rửa Tội là ơn đẹp nhất, huy hoàng nhất trong các Thiên Ân (…) Chúng ta gọi phép này là ơn ban ân sủng, sự xức dầu, sự soi sáng, y phục không hư nát, sự tắm bằng việc tái sinh, ấn tín, và tất cả những gì quý báu nhất. (số 1216. Tôi dịch có hơi khác bản tiếng Việt của Tu-Sĩ Xa-lê-diên.)

Vâng, dù không được ”đưa vào hàng” như GM, LM, PT, nhưng, khi được rửa tội, dù ở trong hàng giáo dân, tôi cũng đón nhận Thánh Linh để trở thành quý tử của Chúa, từ một em bé nô lệ nguyên tội (péché originel), được nâng lên (relevé) hàng Ân-Tử, được xếp (ordonné: classifié) vào Hoàng Tộc Giê-su (Quân Vương), được mở cửa vào sự sống trong Chúa Thánh Thần, vào các Bí Tích khác vì Phép Thánh Thanh Tẩy là nền tảng của đời sống Ki-tô hữu, vì tất cả các Bí Tích khác đều quy về (ordonnés à) Phép Thánh Thanh Tẩy. Rõ ràng Phê-rô đã viết như sau: ”Còn anh-chị-em, dòng giống được tuyển chọn, hàng tư-tế quân-vương, một nước thánh thiện, một dân tộc được sở hữu: possédé.” (I Phê-rô 2,9). Còn thánh Léon Cả (serm.4,1) nói : ”Dấu Thập Giá làm cho những người được tái sinh trở thành quân vương, việc xức Dầu của Thánh Linh thánh hiến họ thành linh-mục (prêtres) để, ngoại trừ việc phục vụ đặc biệt là thừa tác vụ của chúng tôi, tất cả các Ki-tô hữu có tinh thần và sử dụng lý trí của mình, nhận ra mình là dòng giống quân vương này và là người dự phần vào chức năng tư- tế…Và còn gì mang tính tư tế cho bằng hiến dâng cho Thiên Chúa lòng trong sạch và dâng lên bàn thờ lòng mình hy lễ không tỳ vết của lòng đạo đức?” (số 786)

Trong phần nói về ba chức thánh của giáo dân, số 897- 945, Sách Giáo Lý có ghi nhiều điểm nổi bật của họ, đặc biệt ở số 899 như sau : ”Các tín hữu giáo dân nằm ở hàng đầu hết trong sự sống của Giáo Hội; nhờ họ, Giáo Hội là nguyên lý sống động của Giáo Hội. Họ là Giáo Hội.” Số 904 ghi: ”Chúa Ki-tô hoàn thành chức năng ngôn sứ của mình không chỉ qua hàng giáo phẩm (hiérarchie) (…), mà còn qua giáo dân…” Cụ thể hơn nữa là các phần Giáo Lý sau đây:

Về Tư-Tế

Khi gia nhập Dân Thiên Chúa nhờ đức tin và Phép Rửa Tội, chúng ta dự phần vào ơn gọi độc nhất của Dân Tộc này: ơn gọi tư-tế: Chúa Ki-tô, thượng tế được chọn giữa loài người, biến Dân Tộc mới này thành vương quốc, những linh-mục cho Thiên Chúa, Cha Ngài. ĐÚNG THẾ, những người đã được rửa tội nhờ việc tái sinh và việc xức dầu của Thánh-Linh, được thánh hiến để làm nơi cư ngụ linh thiêng và hàng tư-tế thánh thiện.

Về Ngôn-Sứ

Dân Thánh của Thiên Chúa cũng dự phần vào chức năng Ngôn-Sứ của Chúa Ki-tô. Nhất là họ ngôn-sứ nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin vốn là tri năng của toàn Dân Ngài, giáo dân cũng như hàng giáo phẩm khi Dân này kiên trì gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các thánh một lần là dứt khoát và khi họ đào sâu thêm sự hiểu biết về đức tin và trở thành chứng nhân cho Chúa Ki-tô nơi trần thế này.

Về Quân-Vương

Sau cùng, Dân Thiên Chúa dự phần vào chức năng quân-vương của Chúa Ki-tô. Chúa Ki-tô sử dụng vương quyền của Ngài bằng cách lôi kéo mọi người đến với Ngài nhờ sự chết và phục sinh của Ngài. Chúa Ki-tô, Vua và Chúa vũ trụ, đã trở thành đầy tớ của mọi người, Ngài đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và để hiến mạng sống của Ngài làm giá chuộc cho nhiều người. (Mt 20,28). Đối với các Ki-tô hữu, ”ngự trị là phục vụ Ngài”, đặc biệt trong người nghèo và người đau khổ, trong những người này, Giáo Hội nhận ra hình ảnh của Đấng Sáng Lập ra mình.

Kinh Thánh và Sách Giáo Lý dạy như trên. Vậy thì có gì khác biệt giữa Hàng Giáo Phẩm và giáo dân không? Số 872 ghi: ”Do được tái sinh trong Chúa Ki-tô, giữa tất cả tín hữu của Chúa Ki-tô, có sự bình đẳng thật sự về phẩm giá và hoạt động, chiếu theo sự bình đẳng này, mọi người đều cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Chúa Ki-tô tùy theo điều kiện và chức năng của mỗi người.”

Có sự khác biệt* không có nghĩa là ”hơn, thua” vì Thánh Gioan Kim Khẩu dạy rằng ”nói hơn thua” giữa Hàng Giáo Phẩm và hàng giáo dân là có tội!

Ngày nay, giáo dân không nói ”Tôi đi xem Lễ”, mà có quyền tuyên xưng ”Tôi đi dâng Lễ”. Đời tôi cũng là một Thánh Lễ kéo dài từ Thập Giá ở Can-vê, trước Bàn Thờ, trong gia đình và ngoài xã hội dù tôi là đứa bất xứng, đầy tội lỗi.

Với những tâm tình vừa nêu, con xin các Ngài Mục Tử noi gương Chúa Cứu Thế, ôm chiên vào lòng dù đó là chiên lạc hay là chiên ghẻ lở.

Phan văn Phước

Đức Quốc, Düsseldorf, 19.9.09

Ghi chú:

*Anh em Tin Lành bỏ chữ ”tông truyền” trong Kinh Tin Kính.

*Chữ ”do, did” trong tiếng Anh mượn chữ ”do, dedi” của tiếng Latinh. Ví dụ: ”Could you do me a favo(u)r, please?” Chữ ”date, Datum: ngày, tháng, năm” là quà Ông Trời cho. Chữ ”édition” là xuất bản, tức là cho ra ngoài. (e, ex: ngoài)

*Có nhiều sự khác biệt. Xin nêu vài điểm như sau: Giáo dân đọc Lời Truyền để tin, sống và truyền Đạo; Linh Mục đọc Lời Truyền để dâng Thánh Lễ thì bánh-rượu trở thành Thịt-Máu của Chúa Giê-su. Giáo dân chỉ có thể làm phép rửa tội khi cần kíp.


Xin lỗi và… rút kinh nghiệm

Tháng Bảy 11, 2010

Chuyện ông Chủ tịch tỉnh, Phó bí thư tỉnh uỷ Hà Giang liên quan đến việc mua dâm và…. hiếp dâm hiện đang có mặt ở trang nhất của hàng chục tờ báo, không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Chuyện cũng không phải chỉ mới được hé lộ mà đã diễn ra cách đây dăm năm, kể từ khi đồng chí đương kim Chủ tịch tỉnh có hình khoả thân trong máy điện thoại di động của một gái mại dâm.

Nguyễn Trường Tô, phó bí thư tỉnh ủy, bí thư ban cán sự đảng, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang

Nguyễn Trường Tô, phó bí thư tỉnh ủy, bí thư ban cán sự đảng, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang - Một khách hàng ruột của gái mại dâm và là thủ phạm hiếp dâm, mua dâm trẻ vị thành niên trong suốt mấy năm nay mới bị lộ

Theo đó, ngày 22/11/2006, Công an thị xã Hà Giang bắt quả tang Nguyễn Thị Dung đang bán dâm cho khách tại khách sạn Thuỷ Tiên ở phường Minh Khai, thị xã Hà Giang. Kiểm tra máy điện thoại thu giữ của Dung, Công an thị xã Hà Giang phát hiện có nhiều cuộc gọi, tin nhắn từ số máy của ông Nguyễn Trường Tô, đặc biệt trong máy còn lưu một số hình ảnh của ông Tô đang khỏa thân nằm trên giường.

Dung khai nhận sau khi hai người quan hệ xong, ông Tô đã nằm ngủ trong tình trạng không mặc quần áo và Dung đã dùng điện thoại chụp những bức ảnh này. Kết quả giám định từ Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm- Bộ Công an kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép thể hiện trên 13 ảnh gửi giám định, 13 ảnh cần giám định so với 2 tấm ảnh mẫu của ông Tô có những đặc điểm giống nhau. Sau đó chính ông Tô cũng thừa nhận đây là ảnh của mình.

Danh sách đen các cán bộ ưu tú của "đảng ta" mua dâm và hiếp dâm trẻ vị thành niên

Chưa hết, từ vụ án Hiệu trưởng mua dâm Sầm Đức Xương, cơ quan điều tra đã có trong tay “danh sách đen” những vị quan chức Hà Giang đã mua dâm các cháu vị thành niên do hai bị cáo tuổi học trò là Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy khai tại tòa. Các bị cáo này cũng thuộc luôn số điện thoại của ông Nguyễn Trường Tô, thậm chí còn mô tả chi tiết phòng làm việc của đương kim chủ tịch tỉnh. Hai bị cáo này đã khai rằng: nhiều lần đến phòng làm việc của bác Tô trong UBND tỉnh. Rằng, vào đó phải đi qua bảo vệ như thế nào, phòng bác trên tầng hai đi về phía cuối…

Nhân chứng vật chứng như thế là khá rõ. Từ những người dân ít học đến những chuyên gia về luật cũng thấy khó chối cãi. Với một người dân thường, nhân cách ấy cũng khó chấp nhận, huống chi đó là một “đầy tớ”, một “phụ mẫu” của dân, một ông “tỉnh trưởng” đương kim, phó bí thư tỉnh uỷ thì khó có thể chấp nhận về mặt tư cách. Để trấn an dư luận, Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Minh Nhất trả lời trước báo chí rằng: Tỉnh uỷ cũng đã: “nghiêm khắc rút kinh nghiệm”. Không chỉ có thế, trong danh sách giới thiệu nhân sự cho kỳ đại hội tới, vẫn có tên đồng chí Nguyễn Trường Tô.

Sập cầu Cần Thơ 60 người chết, hàng trăm người bị thương, Bộ trường GTVT Hồ Nghĩa Dũng: "Xin lỗi" nhưng kiên quyết không từ chức

Sập cầu Cần Thơ 60 người chết, hàng trăm người bị thương, Bộ trường GTVT Hồ Nghĩa Dũng: "Xin lỗi" nhưng kiên quyết không từ chức

Làm thiệt hại tài sản của nhà nước: rút kinh nghiệm.

Tham ô tham nhũng: rút kinh nghiệm

Mua quan bán chức: rút kinh nghiệm.

Bằng rởm, gian lận thi cử: rút kinh nghiệm

Tai nạn đường sắt cướp đi sinh mạng hàng chục người và cả trăm người bị thương tật suốt đời, Bộ trưởng Giao thông: xin lỗi… và rút kinh nghiệm

Đem chuyện này nói với một anh bạn, anh cho biết: Đó là truyền thống của “đảng ta”. Trước đây, với khẩu hiệu: “Trí- phú- địa- hào đào tận gốc trốc tận rễ” để tiến hành cải cách ruộng đất rồi trót giết nhầm mất khoảng vài trăm ngàn người, hầu hết là những người ưu tú và có công, “Đảng ta” cũng đã xin lỗi đó thôi!

Sau cuộc "Cải cách ruộng đất" với hàng trăm ngàn người bị bắn, bị chết và bị cướp sạch tài sản, "bác hồ" cũng đã xin lỗi và chảy cả nước mắt. Thế là xong

Sau cuộc "Cải cách ruộng đất" với hàng trăm ngàn người bị bắn, bị chết và bị cướp sạch tài sản, những "giọt nước mắt" này có đủ không?

Vậy thì về phương diện này, ông bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang cũng đang làm theo “đường lối của đảng”, cũng đang “học tập và làm theo tấm gương…” đó thôi. Hoan hô đảng ta, hoan hô đồng chí Bí thư tỉnh uỷ Hà Giang.

Lạy trời, từ nay người dân đừng được nghe những lời “xin lỗi” hay “rút kinh nghiệm nữa” vì mỗi lần như thế là thêm một lần đạo đức bị suy đồi, thậm chí là sự ra đi của nhiều mạng sống mà dân đen là người phải chịu trách nhiệm.

  • Phan Thế Hải

Nguồn: Blog Phan Thế Hải


Trong thiên đường XHCN: Cuộc đọ sức tại đại hội 7.000 người

Tháng Bảy 11, 2010

Sau khi xảy ra sự kiện hàng loạt người chết đói, lãnh đạo các tỉnh lỵ lấy ổn định lòng dân lâm chính, không nghe theo sự chỉ huy mù quáng của Trung ương. Một vấn đề nổi bật là không huy động được lương thực, đến trung tuần tháng 11/1961, các địa phương mới hoàn thành 20% chỉ tiêu. Cung ứng lương thực ở ba thành phố lớn Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân cấp báo toàn diện.

Lãnh đạo Trung ương lòng như lửa đốt, quyết định triệu tập Hội nghị công tác trung ương mở rộng, với sự tham gia của những người phụ trách chủ yếu các tỉnh uỷ, thành uỷ, khu uỷ, huyện uỷ, các nhà máy, hầm mỏ quan trọng, và một số cán bộ lãnh đạo quân đội. Do có hơn 7.000 người dự, nên gọi là Đại hội 7.000 người. Chủ đề của Hội nghị là “chống chủ nghĩa phân tán”.

Đại hội khởi đầu ngày 11/1/1962, không có lễ khai mạc trọng thể, theo ý kiến của Mao, ngày đầu các đại biểu tự đọc tài liệu từ ngày 12 đến 14/1 thảo luận ở tổ. Các tổ phản ứng dữ, tập trung vào một điểm là không tán thành dự thảo báo cáo nêu vấn đề “chống chủ nghĩa phân tán”, đổ mọi trách nhiệm về sai lầm thất bại trong mấy năm qua lên đầu cán bộ cấp tỉnh trở xuống. Mao thấy không ổn: liền thay đổi sách lược, cho tổ chức lại Uỷ ban khởi thảo báo cáo gồm 21 người, trong đó có Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Trần Vân, Đặng Tiểu Bình, Bành Chân…

Ngày 18/1, Bành Chân nói:

– Uy tín của Mao Chủ tịch nếu không cao như ngọn Chumulungma thì cũng cao tựa Thái Sơn, bớt đi vài tấn đất vẫn cao như thế. Cũng chẳng phải Mao Chủ tịch không có khuyết điểm gì, nếu một phần trăm, một phần nghìn sai lầm của Mao cũng không kiểm điểm, thì sẽ để lại ảnh hường xấu trong Đảng ta.

Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đều nhận trách nhiệm về mình, làm nhẹ sai lầm, tội lỗi của Mao. Thành quả quan trọng nhất của Uỷ ban khởi thảo dự thảo báo cáo sau 4 ngày làm việc là đoạn sau đây:

“Nếu nhiều đồng chí chúng ta lĩnh hội tốt hơn Tư tưởng Mao Trạch Đông, biết vận dụng phương pháp thực sự cầu thỉ, điều tra nghiên cứu mà đồng chí Mao Trạch Đông vẫn đề xướng, nghiêm túc chấp hành những ý kiến chỉ đạo đồng chí đưa ra trong mỗi giờ phút then chốt, thì có thể tránh được, hoặc giảm nhẹ đi rất nhiều những sai lầm trong công tác mấy năm qua, hoặc có thể uốn nắn nhanh hơn sau khi những sai lầm đó nảy sinh”.

Phát biểu trong phiên họp toàn thể đầu tiên 27/1, Lưu Thiếu Kỳ nói thật: Tình hình rất khó khăn, lương thực, quần áo và đồ dùng đều thiếu, ba năm 1959-1961 sản lượng lương thực giảm khá nhiều, sản xuất công nghiệp năm 1961 giảm 40%. Nguyên nhân là “ba phần thiên tai, bảy phần nhân hoạ”.

(Nói “ba phần thiên tai” cũng oan cho ông Trời, bởi ba năm đó ở Trung Quốc nhìn chung, mưa hoà, gió thuận). Buộc Mao chịu trách nhiệm tới 70% là điều Mao không chịu nổi. Phát biểu trên của Lưu khiến Mao thù ghét, ghi thêm món nợ với ông, nhưng lại được đông đảo những người dự hội nghị nhiệt liệt hoan nghênh. Họ thấy Trung ương đã nói thật, không đeo mặt nạ dạy người nữa. Hàng ngày, Lưu đến thảo luận ở các tổ, phát biểu một số ý kiến quan trọng, như đã đến lúc phải phục hồi danh dự cho Bành Đức Hoài. Ông còn dặn Bí thư tỉnh uỷ Hồ Nam cần trả lại tự do cho Lưu Quế Dương (cô gái bị kết án 5 năm tù vì tội mang biểu ngữ “đả đảo Mao Trạch Đông” đến Trung Nam Hải). Chỉ có Lâm Bưu hiểu được nỗi cô độc, bị động và lo ngại của Mao ở hội nghị này, hiểu được giới hạn lớn nhất Mao có thể nhượng bộ, và phòng tuyến cuối cùng Mao phải giữ vững.

Vào lúc Mao cần được ủng hộ nhất, Lâm Bưu bước lên diễn đàn, mang đến cho Mao vòng hào quang mới. Lâm Bưu tiếp tục khẳng định đường lối chung, Đại tiến vọt và công xã nhân dân là đúng đắn, sáng tạo, những khó khăn vấp phải là do không làm theo chỉ thị của Mao. Lâm Bưu nhấn mạnh lịch sử mấy chục năm qua là khi nào tư tưởng của Mao không được tôn trọng, là khi ấy sinh chuyện; do đó, trong thời kỳ khó khăn càng phải đoàn kết đi theo Mao, chỉ có như vậy, Đảng mới có thể đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác… Lâm Bưu đã ủng hộ mạnh mẽ vị trí thống trị đang lung lay dữ của Mao.

Lâm nói xong, Mao đứng dậy vỗ tay, Lưu Thiếu Kỳ và các uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị chần chừ một lát rồi đứng lên theo, họ không có dũng khí để cho quan hệ với Mao đổ vỡ. Tuy vỗ tay hoan hô, nhưng đại đa số những người dự hội nghị rất phản cảm trước phát biểu của Lâm Bưu. Ngay hôm đó trên hội trường xuất hiện biểu ngữ “Đả đảo Mao Trạch Đông”. Mao không cho điều tra vụ việc, và nghiêm cấm để lọt thông tin này ra ngoài.

Được phát biểu của Lâm Bưu dọn đường, ngày 30/1, Mao đã có bài nói dài, nhấn mạnh tập trung thống nhất, khôi phục và tăng cường chế độ tập trung dân chủ, chống chủ nghĩa phân tán. Mao nói: Đại tiến vọt do toàn Đảng ra tay làm, nảy sinh một số vấn đề phải do toàn Đảng chịu trách nhiệm, chứ không đùn đẩy cho người khác. Có thể phục hồi đảng tịch và công tác cho những người bị quy sai là cơ hội hữu khuynh, song đối với những kẻ trùm cơ hội hữu khuynh, chẳng những không phục hồi, mà còn phải lập tổ chuyên án tiếp tục thẩm tra vấn đề “câu lạc bộ quân sự” và tư thông với nước ngoài.

Sau đó, bài nói trên của Mao qua 7 lần sửa chữa, lược bỏ những câu thoái thác trách nhiệm quá rõ, rồi mới phát cho cán bộ từ cấp huyện và trung đoàn trở lên.

Trong phát biểu, Đặng Tiểu Bình đã khéo léo lẩn tránh việc đánh giá ba ngọn cờ hồng và trách nhiệm về mấy chục triệu người chết đói. Tự đáy lòng, ông mong trong tình hình giữ được thể diện, Mao chủ động rút khỏi vũ đài lịch sử, để Lưu Thiếu Kỳ lãnh đạo toàn đảng toàn dân vượt qua thời kỳ không bình thường này. Lên tiếng tại buổi họp cuối cùng, Chu Ân Lai bám sát định hướng do Mao vạch ra, và nhận hết trách nhiệm về mình.

Qua Đại hội 7.000 người, Mao thấy đại đa số cốt cán không còn ủng hộ ông ta nữa. Sau Đại hội, vấn đề trung tâm Mao ngày đêm suy nghĩ là dùng hình thức và phương pháp nào để đánh bại các lực lượng chống đối mình. Còn điều Lưu, Chu , Trần, Đặng trăn trở là làm thế nào khôi phục sản xuất, vượt qua khó khăn, để nhân dân ăn no, đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Mao tính toán: hãy để các người khôi phục sản xuất, đợi khi khó khăn trước mắt qua đi, không để các người kịp thanh toán ba ngọn cờ hồng, ta sẽ ra tay trước, phát minh lý luận mới, tổ chức lực lượng mới, phê phán các người hữu khuynh, đi con đường tư bản chủ nghĩa, khiến các người rơi vào thế bị động, trở tay không kịp.

Cuộc đấu tranh mới đã bắt đầu dưới cái vỏ bề ngoài “nhất trí”. Theo nhật ký của Đặng Dĩnh Siêu, tại Đại hội trên, nhiều người yêu cầu Mao rút lui. Ngày 10-2, Mao họp Thường vụ Bộ Chính trị để làm rõ điều này. Chu Đức, Trần Vân, Đặng Tiểu Bình hoan nghênh Mao thôi chức Chủ tịch Đảng. Chu Ân Lai kiên trì: “Chủ tịch tạm lui về tuyển 2, Chủ tịch vẫn là Chủ tịch”. Với vị trí và ảnh hường của Chu Ân Lai trong đảng, lá phiếu của ông mang tính quyết định, Lưu Thiếu Kỳ không nói nổi một câu ép Mao rút lui.

Trong những năm tháng nhân dân cả nước đói kém, để tỏ ra cùng nhân dân chung hoạn nạn, Mao tuyên bố không ăn thịt lợn, thịt gà từ 1/1/1961. Việc này kéo dài được 7 tháng.

Nhưng trên thực tế, trong những ngày nhân dân cả nước đói rét, Mao sống rất sa đoạ. Nguyên soái Bành Đức Hoài trong ngăn Mao tuyển phi tần, đã bị giam lỏng, chẳng ai còn dám bàn tán về đời tư của Mao. Phòng Bắc Kinh trong Nhà Quốc hội được đổi thành “Phòng họp 11-8”, bên trong trang hoàng còn lộng lẫy hơn cả điện Kremly, thật ra đây là hành cung để Mao chuyên bí mật vui thú với các nữ nhân viên phục vụ. Thư Ngẫu Trai trong Trung Nam Hải được sửa sang lại, trở thành sàn nhảy riêng, mỗi tuần tổ chức hai lần vũ hội, các nhân viên nữ trong Trung Nam Hải và nữ diễn viên Đoàn văn công quân đội được tuyển lựa làm bạn nhảy của Mao, họ đồng thời là đối tượng để Mao chọn gái qua đêm. Mao làm như vậy để tiêu khiển, cũng để Lưu Thiếu Kỳ tưởng rằng Mao đã chìm đắm trong nữ sắc, không quan tâm công việc triều chính nữa.

Do Mao gợi ý, nhiều nơi đua nhau xây dựng hành cung cho ông ta. Khu biệt thự tựa lưng vào phần mộ họ Mao ở Thiều Sơn (Hồ Nam ) diện tích xây dựng 3.638 m2, có hầm ngầm dài hàng trăm mét có thể chống động đất, chống bom nguyên tử, phòng độc, một đại đội thường xuyên bảo vệ. Khu nhà được xây dựng từ nửa cuối năm 196l đến cuối năm 1962, vào lúc tỉnh Hồ Nam có 2,48 triệu người chết đói, phí tổn xây dựng 120 triệu NDT, đủ để nuối sống 2,48 triệu người trong một năm. Khách sạn Tây Giao xây riêng cho Mao ở Thượng Hải cả khuôn viên xung quanh rộng hơn 60 héc ta, trên 100 nhân viên túc trực ngày đêm. Cả hai “hành cung” trên, trong suốt mười mấy năm, Mao chỉ đến ở mỗi nơi có vài ngày. Việc phung phí tiền bạc như trên khiến sự tích Mao mấy tháng không ăn thịt, mặc chiếc áo ngủ vá víu… trở nên mờ nhạt.

Suốt đời Mao chú trọng quyền lực, coi thường của cải. Việc Mao ra lệnh hoặc ngầm cho phép các nơi trong những năm tháng khó khăn nhất vung tiền như rác xây dựng các công trình xa hoa phục vụ ông ta mang ý nghĩa chính trị nhiều hơn ý nghĩa hưởng thụ, chiếm hữu. Mao biết rõ chẳng dùng được mấy ngày, cung không thể để lại cho con cháu. Mao muốn dùng phương thức đó để củng cố vị trí của mình, cho toàn đảng biết rằng tuy lui về tuyến 2, nhưng ông ta vẫn nắm chắc quyền lực, vẫn là vị thần số một, toàn đảng tôn thờ.

  • Tân Tử Lăng- (Trích Mao trạch Đông- Ngàn năm công tội)

Nguồn: Blog Phan Thế Hải


Trong thiên đường XHCN: Nhân dân run rẩy trong cuộc khủng bố đỏ

Tháng Bảy 11, 2010

Ở Trung Quốc, từ khi có trường học kiểu mới, liền có phong trào học sinh. Từ thời đại Bắc Dương đến Tưởng Giới Thạch, phong trào học sinh xuất hiện trên vũ đài lịch sử với tư thế yêu nước, tiến bộ, cách mạng, trở thành lực lượng tiên phong thúc đẩy xã hội tiến bộ. Chưa một nhà thống trị nào có thể lợi dụng học sinh làm điều xấu. Chỉ có Mao Trạch Đông làm nổi việc này.

Mao đã lợi dụng học sinh làm rối loạn cả xã hội, lật đổ cơ quan đảng và chính quyền các cấp, mượn bàn tay học sinh để giày vò các bạn chiến đấu hôm qua, đối thủ chính trị hôm nay.

Từ 18/8 đến 26/11/1966, Mao 8 lần tiếp tổng cộng 13 triệu Hồng vệ binh từ các nơi trong cả nước đến Bắc Kinh “xâu chuỗi”, sự cuồng nhiệt sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông sôi lên sùng sục, Mao là “mắt bão” làm cho cơn bão đỏ tạo phản tràn khắp Trung Hoa. Hồng vệ binh được tâng bốc lên tận trời xanh, khiến họ nảy sinh ảo tưởng vô cùng tận. Vào lúc con em dân thường bất bình vì các vị trí công tác tốt đều lọt vào tay con em cán bộ, Mao kêu gọi đánh đổ “phái cường quyền đi con đường tư bản”, tức là đánh đổ bố mẹ những học sinh được ưu đãi kìa, các học sinh xuất thân dân thường liền đứng lên tạo phản.

Để thoát khỏi thế bị động, học sinh con em cán bộ cũng tham gia tạo phản với tư thế còn “tả” hơn, họ không lôi bố mẹ mình, mà lôi cấp trên, đồng cấp hoặc cấp dưới của bố mẹ ra đấu. Bất kể là con em cán bộ hay dân thường, tất cả đều phát điên. Mao ủng hộ và ra lệnh bảo vệ những hoạt động tạo phản này. Quân đội và công an đều được lệnh cấm nổ súng vào Hồng vệ binh, kể cả bắn doạ, bị chúng đánh cũng không được đánh trả. Hồng vệ binh kéo nhau đi lục soát, đập phá, bắt bớ phê đấu cán bộ lâu năm, các giáo sư và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Họ không có sức đánh trả, nên chúng chẳng gặp nguy hiểm gì, mà lại được nhiều không kể xiết. Đó là cơ sở tư tưởng sâu xa của phong trào Hồng vệ binh.

Khởi đầu bằng việc đập phá tượng Thích ca mâu ni trên Phật Hương Các ở Di Hoà Viên, Hồng vệ binh đã phá hoại 4.922 trong số 6.843 di tích cổ ở Bắc Kinh. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có 10 triệu nhà bị lục soát, trong đó Bắc Kinh 11,4 vạn, Thượng Hải 10 vạn. Nhà riêng nguyên Bộ trưởng Giao thông Chương Bá Quân bị Hồng vệ binh chiếm làm trụ sở, hàng vạn cuốn sách ông lưu trữ bị chúng đốt suốt ngày đêm để sưởi ấm. Hơn 200 sinh viên Đại học Sư phạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Từ. Lăng mộ của nhiều nhân vật lịch sử hoặc danh nhân như lăng Viêm đế, mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng. Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyên Chương, Ngô Thừa Ân, Từ Bi Hồng… bị đập phá.

Mao còn tạo ra cuộc khủng bố đỏ, cho Hồng vệ binh nông dân thả sức giết hại “kẻ xấu” (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, nhà tư bản, xã hội đen) để áp chế sự phản kháng của nhân dân. Chỉ riêng hạ tuần tháng 8/1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi.

Nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời trung cổ. Ôn lại chuyện trên, cựu Hồng vệ binh Trần Hướng Dương sau này viết:

“Vì sao những đứa trẻ mười mấy tuổi đầu lại dã man giết người không chớp mắt như vậy? Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù. Thù địa chủ, thù nhà tư bản, thù Quốc Dân Đảng: Trả thù bằng thủ đoạn tàn nhẫn là thiên kinh địa nghĩa, vấn đề duy nhất là không biết chĩa vào đâu. Kè thù bên cạnh đã bị các bậc tiền bối quét sạch rồi, còn lại Tưởng Giới Thạch và đế quốc lại ở quá xa, không với tới được. Đại cách mạng văn hoá vừa nổ ra, mới đột nhiên biết quanh mình còn ẩn náu nhiều kẻ thù, chúng tôi vui mừng đến phát cuồng, bao nhiêu sức lực dồn nén đều bung ra. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin, mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa Những việc làm xấu xa của Hồng vệ binh thật đáng nguyền rủa, nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách lớn tiếng hỏi lại: ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?

Bắc Kình “nêu gương”, những vụ tàn sát lan ra cả nước. Huyện Đạo ở Hồ Nam là một trong những điển hình. Khắp nơi là những bố cáo giết người của “toà án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới”, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người, (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu).

Trong hai tháng 7 và 8 năm 1967, Quan Hữu Chí, Trưởng ban vũ trang khu Thanh Đường đã chỉ uy dân quân dùng cuốc xẻng, súng bắn chim, gậy gộc giết hại 207 người, kể cả trẻ em. Do công lao trên, y được bầu là “phần tử tích cực học tập và vận dụng tư tường Mao” cấp tỉnh năm 1967. Viên Phủ Lễ, Khu trưởng Lâm Phô tổ chức 120 dân quân nòng cốt trong ba ngày giết 569 người.

Trần Đăng Nghĩa, Chủ tịch Hội Bần nông Đại đội sản xuất Hạ Tưởng là thủ phạm chính trong một vụ giết người, cưỡng dâm tập thể. Thấy vợ mới cưới của con em địa chủ Trần Cao Tiêu xinh đẹp, y sinh lòng ghen ghét và sớm có ý đồ bất lương, thì nay thời cơ đến. Tối 26-8-1967. Nghĩa cho gọi Tiêu đến trụ sở đại đội và trói nghiến lại. Y cầm giáo đâm một nhát vào dùi anh Tiêu, rồi khoát tay ra hiệu. 7,8 dân quân xông vào dùng gậy đập anh Tiêu chết tươi. Để chứng tỏ mình “kiên quyết cách mạng”, y dùng mã tấu cắt đầu anh Tiêu, cùng hai con em địa chủ, phú nông khác cũng vừa bị đánh chết. Chị Tiêu (xuất thân bần nông) sợ quá trốn về nhà mẹ đẻ ở làng khác, Nghĩa cho dân quân bắt chị trở lại, y tuyên bố các nơi khác vợ địa chủ đều phải “phục vụ tập thể bần nông”.

Sau khi cơm no, rượu say, Chủ tịch Hội Bần nông và dân quân, tất cả 12 tên, luân phiên cưỡng hiếp chị Tiêu khi ấy đang mang thai 3 tháng. Xong xuôi. Nghĩa không quên thực hiện “chính sách của ĐCSTQ”: cho dân quân khiêng nạn nhân đã ngất xỉu đến nhà bần nông Trần Nguyệt Cao, buộc chị làm vợ người nông dân già độc thân này.

Cô giáo Chu Quần ở Đại đội sản xuất Hoành Lĩnh xuất thân bần nông, kết hôn với Tưởng Hán Chính xuất thân địa chủ, họ đã có với nhau ba mặt con. Tưởng Hán Chính bị bắt ngay hôm đầu. Đêm 26/08/1967, Bí thư chi bộ Đường Hưng Hạo cùng Tiểu đoàn trưởng dân quân Tưởng Văn Minh xông vào nhà bắt chị Chu đưa ra sân kho. Tại đây chị thấy dân quân mang súng, mã tấu đang quây tròn quanh 14 người đều là con cháu địa chủ, phú nông, họ đều bị trói giật cánh khuỷu bằng dây thép. Đường hạ lệnh dẫn họ lên núi Mộc Phong, nơi có nhiều hang sâu hàng chục mét. Dọc đường, có người nhắc Bí thư chi bộ vợ chồng Tưởng Hán Chính-Chu Quần còn ba trẻ nhổ, y cho người quay lại bắt cả ba đứa mang theo. Tới nơi, y bắt mọi người đứng im không được nhúc nhích, rồi tuyên bố: “Chúng tao là Toà án tối cao của bần nông, hôm nay tuyên án xử tử hình tụi bay!” Bí thư chi bộ bắt đầu đọc tên, lần lượt giết từng người một.

Lối hành hình của chúng mang “đặc sắc bản địa”: bắt nạn nhân quỳ bên miệng hang, dùng xà beng quật vào sau não cho gục xuống, rồi đạp xuống hang… Người thứ 3 là Tưởng Hán Chính, anh sợ hãi không lê nổi đôi chân, bị dân quân lôi đến cửa hang. Mấy đứa trẻ sợ quá, vừa khóc, vừa la hét. Người thứ 4 là thầy thuốc Đông y Tưởng Văn Phàm, ông ung dung xin ngụm nước để đi vào cõi chết. Dân quân quát: “Làm gì có nước cho mày uống?”. Ông nói: “Trước khi chết tôi xin ngụm nước có gì quá đáng đâu, ngày xưa khi chặt đầu còn cho 3 chiếc bánh bao nóng!” Vừa nói xong đã bị đạp xuống hang sâu.

Người thứ 8 là Chu Quần. Ba đứa trẻ nhìn mẹ bị hại, khóc lóc thảm thiết. Không biết ngất đi trong bao lâu, Chu Quần bỗng thấy tiếng gọi mẹ văng vẳng bên tai. Tỉnh lại, chị thấy đứa con gái 8 tuổi nằm bên, thì ra mấy cháu cũng bị ném xuống hang theo mẹ. Nhờ đống xác người bị giết trước, hai mẹ con chị sống sót. Chị bảo con cởi trói cho mình. Hôm sau, những kẻ giết người phát hiện dưới hang còn người sống sót, liền ném đá xuống. Hai mẹ con từ tầng trên rơi xuống tầng dưới nơi có những góc chết. Chị phát hiện chồng và hai đứa con trai nằm ở đó. Cả nhà may mắn thoát chết, một cuộc đoàn tụ hiếm hoi và thảm thương trên đống xác người dưới hang sâu tối tăm, lạnh lẽo. Anh Tưởng đã hoảng loạn, sợi dây thép trói chặt quá không làm sao cởi ra nổi, anh đi đi lại lại trên đống xác người, miệng lảm nhảm như mê sảng. Chẳng biết mấy ngày đêm qua đi, cả ba đứa trẻ lịm dần tất thở. Anh Tưởng khát, chị Chu lấy áo thấm vào vũng nước trộn máu, vắt ra cho chồng uống, Song anh không nuốt nổi, gục đầu xuống lìa đời. Sau nhờ hai học sinh đến cứu, chị thoát chết, và vụ giết người rùng rợn này mới có ngày được phơi trần.

Theo tư liệu điều tra của tỉnh Hồ Nam, trong 66 ngày từ 13/8 đến 17/10/1967, huyện Đạo có 4.519 người thiệt mạng, gồm 4.193 người bị giết, 326 người bị buộc phải tự sát.

Trong cơ cấu chính trị đương thời, số “tiện dân” nghe nói chiếm 5% này hoàn toàn không phải có thể có hoặc không, mà nhất thiết phải có. Đó là chiến lược quan trọng để ổn định 95% kia. Ý nghĩa của hòn đá đệm chân này là: có thể làm cho càng nhiều người về tinh thần say sưa với vị trí “người thống trị” mà mà quên mất cảm giác bị trị, cảm thấy mình may mắn thuộc 95% và lo sợ bị rơi vào 5% kia, từ đó được cân bằng tâm lý trong sợ hãi. Nó khiến đông đảo công chúng dịu đi nỗi đau thiếu thốn vật chất và sự nghẹt thở về tinh thần. Đó là lý do vì sao sau cải cách ruộng đất, Mao Trạch Đông vẫn nhấn mạnh “lấy đấu tranh giai cấp làm then chốt”, kích động sự đối lập giai cấp ở nông thôn.

  • Tân Tử Lăng (Mao trạch Đông- Ngàn năm công tội)

  • Nguồn: Blog Phan Thế Hải


Trong thiên đường XHCN: Địa ngục trần gian

Tháng Bảy 11, 2010

Phần dưới đây là nội dung chương 18 trong cuốn “Mao trạch Đông- Ngàn năm công tội” của Tân tử Lăng. Sách được TTXVN dịch và giới thiệu. Xin được đăng lại để bạn đọc tham khảo.

P.T.H.

Trong 4 năm sau khi Mao tuyên bố thực hiện một số lý tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng (tháng 9/1959) Trung Quốc đã xảy ra thảm kịch làm 37,55 triệu người chết đói (số liệu chính thức được giải mật theo quyết định của Bộ chính trị ĐCSTQ tháng 9/2005), nhiều hơn cả số người chết trong Chiến tranh thế giới II.

Đây là cuộc thử nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng thời gian dài nhất, quy mô lớn nhất, thiệt hại thảm khốc nhất trong lịch sử loài người. Thiên đường cộng sản chủ nghĩa do chính Mao thiết kế và lãnh đạo xây dựng đã biến thành địa ngục trần gian.

Đại tiến vọt thực tế gồm hai lần. Lần thứ nhất diễn ra trước Hội nghị Lư Sơn 1959, cuối măm 1958 đã phát hiện có vấn đề nghiêm trọng. Sau Hội nghị Lư Sơn để chứng minh ba ngọn cờ hồng đúng đắn, Mao phát động phong trào chống hữu khuynh trong toàn đảng rồi dấy lên cao trào Đại tiến vọt 2 trong cả nước lần “tiến vọt” này kéo dài hơn một năm từ nửa cuối 1959 tới cuối năm 1960, gây tôi ác lớn nhất.

Ngày 3/9/1958, Mao tuyên bố: “Sản lượng lương thực năm nay có thể tăng xấp xỉ gấp hai lần năm ngoái, từ 185 triệu tấn lên khoảng 370 triệu tấn nếu năm 1959 lại tăng gấp hai lần năm nay, lên 750 triệu tấn”. Tin lên ra cả thế giới đều biết. Sau vụ thu hoạch, đột nhiên các tỉnh báo cáo không nộp đủ lương thực như dự định. Mao sốt ruột, bởi đây là việc thật bẽ mặt. Ông ta đích thân viết thông tri gửi toàn quốc, nhận định “vấn đề phổ biến trong cả nước là các công xã, đội trưởng sản xuất che giấu sản lượng, chia nhau lương thực, tình hình nghiêm trọng, phải giải quyết ngay”, hơn nữa, “phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết mới giải quyết được”. Song “kiên quyết” như thế nào Mao không nói rõ, để cho cấp dưới đầy đủ không gian tha hồ tưởng tượng, phát huy. “Chống che giấu sản lượng và chia nhau lương thực” bằng thủ đoạn “giáo dục kiên quyết moi cả khẩu phần lương thực của nông dân là nguyên nhân chủ yếu gây chết đói trên qui mô lớn.

Tỉnh Hà Nam vụ thu 1958 có tới 50% mùa màng bị hư hỏng ngoái đồng (do lao động khỏe bị huy động đi làm gang thép). Năm 1959 sản lượng lương thực giảm, chỉ có 9,75 triệu tấn, nhưng các nơi hư báo lên tới 22,5 triệu tấn. Bí thư tỉnh uỷ Ngô Chi Phó lấy đó làm cơ số giao chỉ tiêu cưỡng bức thu mua lương thực, cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ bị coi là “Bành Đức Hoàn con”. Chuyên khu Tín Dương thực sản chỉ có 2 triệu tấn, Bí thư Khu uỷ Lộ Hiến Văn vống lên 4,15 triệu tấn, tỉnh giao chi tiết thu mua 48 vạn tấn đã là quá cao, Khu uỷ xung phong nhận 52 vạn tấn. Khẩu phần lương thực, hạt giống và thức ăn gia súc của nông dân bị cướp đi rất nhiều, bình quân đầu người chỉ còn hơn 50 kg, đủ ăn trong 4 tháng, một số huyện thậm chí không đủ 3 tháng. Chưa đến cuối năm 1959 bếp ăn tập thể của nhiều công xã không còn đỏ lửa và hết lương thực.

Để quán triệt tinh thần “kiên quyết giáo dục” của Mao Trạch Đông, Khu uỷ đã tổ chức cuộc họp 6.000 người ở huyện Hoàng Xuyên, lôi hơn 60 người ra đấu tố, lại lôi thêm 4 người từ nhà tù ra xét xử công khai. Những nông dân đến dự đều gầy gò, vàng vọt, khoảng 40% mắc bệnh phù thũng, một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà.

Ngày 8/11/1959, cán bộ Đội sản xuất Lê Thụ, Công xã Hoài Điếm, huyện Quang Sơn, nghi ngờ xã viên Từ Phó Chính có lương thực mà không giao nộp đã cho dân quân treo Từ lên xà nhà, đánh đập dã man, 6 ngày sau tử vong. 6 người trong gia đình Từ sau đó đều chết đói. Xã viên Yên Gia Tâm do không nộp đủ lương thực, bị đánh đập tàn bạo, 5 ngày sau qua đời. Vợ Yên là Hoàng Tú Anh rang lúa mạch cho con ăn, bị trói lại đưa ra đấu, bị dội nước lạnh giữa ngày đông giá rét và giày vò cho đến chết. Còn lại 5 người con, chỉ có đứa lớn 14 tuổi bỏ chạy đến nhà họ hàng thoát thân, còn lại 4 đứa nhỏ đều chết đói. Biết bao nông dân bị tan cửa nát nhà vì cuộc “giáo dục kiên quyết” này!

Mùa xuân 1960, nạn đói tràn lan, có làng 80 ngày người dân không được một hạt lương thực vào bụng. Nhiều người chết đói hoặc bỏ đi nơi khác kiếm ăn. Vậy mà Bí thư Khu uỷ Lộ Hiến Văn vẫn lên giọng: “Không phải thiếu lương thực, mà lương thực rất nhiều, 90% là vấn đề tư tưởng”. Ông ta chỉ thị cho cán bộ cơ sở và dân quân phong toả mọi nẻo đường, không cho dân chúng bỏ đi nơi khác, chỉ thị cho các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học ở các thị trấn không được đón tiếp người từ vùng nông thôn lên. Bưu cục Tín Dương đã giữ lại trên một vạn lá thư của cán bộ và quần chúng xin cứu đói.

Theo báo cáo của Khu uỷ gửi Trung ương sau này, chỉ riêng đông xuân 1959-1960, Tín Dương có hơn 1 triệu người chết đói, dân số giảm mạnh, đồng ruộng hoang vu, nhiều nhà chết không còn một ai. Đội sản xuất Ngô Viên Tử thuộc Công xã Thập Lý huyện Quang Sơn có 120 nhân khẩu, thì chỉ trong tháng 10 và tháng 11 năm 1959 đã có 72 người chết đói. Danh sách 72 người này năm 2004 đã được khắc trên tấm bia để nhấc nhở đời sau.

Sự kiện Tín Dương bị phơi trần, để bảo vệ mình, Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ Hà Nam Ngô Chi Phố hạ lệnh bắt Lộ Hiến Văn cùng 16 Bí thư Huyện uỷ và Huyện trưởng thuộc Khu Tín Dương, cách chức 982 cán bộ cấp dưới, bắt và đưa ra xét xử 275 người, kết án tử hình Dương Thủ Tích, Bí thư Huyện uỷ Cố Sử và Mã Long Sơn, Bí thư Huyện uỷ Quang Sơn.

Sự kiện trên làm chấn động Bắc Kinh. Bí thư Ban Kiểm tra kỷ luật trung ương Đổng Tất Vũ cử hai vụ trưởng về điều tra tại chỗ. Càng điều tra, càng phát hiện nhiều vấn đề nghiêm trọng. Tháng 5-1960, Đổng Tất Vũ chuyển báo cáo điều tra lên Thường vụ Bộ Chính trị, Mao xem xong, định hướng đây là sự kiện phản cách mạng, do địa chủ, phú nông lọt lưới chui vào đội ngũ cách mạng, phá hoại quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Thế là Mao rũ sách trách nhiệm thủ phạm đầu sỏ làm cho mấy chục triệu người chết đói, và một lần nữa trở thành cứu tinh của nhân dân.

Số người chết đói ở Trung Quốc trong thời gian 1959- 1962 là 5,11% dân số cả nước. Sáu tỉnh nặng nhất là An Huy 18,37%, Tứ Xuyên 13,07%, Quý Châu 10,23%, Hồ Nam 6,81%, Cam Túc 6,45%, Hà Nam 6,12%. Sáu tỉnh bị nhẹ nhất là Hà Bắc (gồm cả Bắc Kinh, Thiên Tân) 11% Giang Tây 1,06%, Thiểm Tây 1,02%, Cát Lâm 0,94%, Chiết Giang 0,55%, Sơn Tây 0,37%. Sự chênh lệch này liên quan rất lớn tới tố chất của các Bí thư thứ nhất Tỉnh uỷ: nơi nào càng bám sát “đường lối cách mạng” của Mao, thì tỉ lệ người chết đói càng nhiều.

Nạn ăn thịt người đã diễn ra ở Tứ Xuyên và nhiều nơi khác: khi chôn người chết chỉ vùi nông, tối đến bới lên xẻo lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng. Tàn nhẫn hơn là nạn ăn thịt trẻ con, điển hình là chuyện xảy ra ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, Khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.

Theo lời Trịnh Đại Quân, nguyên cán bộ Ban công tác nông thôn huyện Sùng Khánh. Đội sản xuất trên có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong một năm từ tháng 12-1959 đến tháng II-1960, đã có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi ở nơi này. 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người. Chuyện đau lòng đó diễn ra trong bối cảnh lương thực hết sạch, mọi người từng nhiều ngày phải ăn giun dế, côn trùng, lá cây, vỏ cây, cỏ dại, và cả đất thó. Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện vụ ăn thịt trẻ con. Hồi đó, tuy nhà ăn tập thể thực tế đã ngừng hoạt động vì không còn lương thực nữa, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.

Đêm ấy, đến lượt Vương cùng hai người khác đi tuần. Các mái nhà phủ trắng tuyệt đầu mùa sáng hẳn lên khi vầng trăng nhô ra khỏi đám mây. Nhóm tuần tra phát hiện một dải khói mỏng toả ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Họ chia nhau bao vây vu hồi, rồi đồng loạt bấm đèn pin nhảy vào nhà, nổ một phát súng cảnh cáo: tất cả ngồi im! Đèn dầu được châm lên, nhà Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng lúc này chỉ thấy có 5. Thành viên thứ 6 là bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết hại, xẻ ra lấy thịt, đang luộc trong nồi.

Trong lúc tổ tuần tra tìm cây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến. Khi cả 5 người lớn bé bị trói thành một xâu đưa về trụ sở Đại đội sản xuất, trời đã sáng bạch. Cán bộ lãnh đạo địa phương sau khi nghiên cứu cân nhắc, đã quyết định ỉm vụ này đi, vì sợ bị kỷ luật. Sau một ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa lại được tha. Dân làng bàn tán, cho rằng chính phủ ngầm cho phép ăn thịt trẻ con. Thế là nạn ăn thịt trẻ con lan tràn, do “trọng nam khinh nữ”, họ chỉ ăn bé gái, giữ lại bé trai.

Không những ăn thịt, mà còn nghiền vụn xương đầu và tay chân ăn cho bằng hết. Kẻ nhẫn tâm thì làm thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì “gạt nước mắt đánh đổi với hàng xóm”: trao con mình cho người khác ăn, mang con người khác về làm thịt. Một số xã viên “nhìn xa trông rộng”, đã đi bắt cóc trẻ con ở vùng lân cận về ăn, hoặc gài bẫy trẻ con như bẫy thú, kể cả việc sử dụng một loại thuốc nổ xưa kia dùng để bẫy sói: trẻ nhỏ nhặt được chiếc “kẹo” mùi vị thơm ngon, cho vào miệng nhai liền phát nổ, đầu mặt tan tành, khi gia đình hay tin tìm đến, thì chỉ còn lại vũng máu.

Trong ba năm đói kém ấy, tình hình xã hội rối ren nghiêm trọng. Tháng 12/1960, Chuyên khu Vô Hồ tỉnh An Huy xảy ra 180 vụ cướp lương thực. Nhiều vụ khác xảy ra ở Cam Túc, Quảng Đông, Quí Châu, Tứ Xuyên. Nhiều vụ bạo động qui mô lớn, các hoạt động phiến loạn vũ trang nổ ra ở Vân Nam, Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, An Huy, Hồ Bắc, các chính đảng hoạt động bí mật mọc lên như nấm, mãi đến năm 1970 mới dẹp xong.

Số người chết đói trong Đại tiến vọt không bởi thiên tai, mà do “nhân hoạ”, “Mao hoạ”, quyết sách sai lầm. Cuối tháng 6/1959, dự trữ lương thực trong cả nước 17 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu thành thị trong một năm. Nhưng trong tình hình lương thực giảm 30 triệu tấn, Mao lại quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để đổi lấy vàng và USD, bằng 24% dự trữ lương thực.

Nếu Quốc hội Trung Quốc thật sự có quyền làm chủ, không chấp nhận chỉ tiêu tăng sản lượng gang thép lên gấp hai lần, không thông qua thể chế công xã hoá, hoặc có quyền lực kiên quyết ngăn chặn cuộc Đại tiến vọt hại nước hại dân, thì có thể tránh hoặc giảm nhẹ tai hoạ này. Đáng tiếc là Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khoá 2 họp tại Bắc Kinh từ 30/3 đến 8/4/1960, 2.000 đại biểu đều phụng mệnh “ba không”: không nói đến nhiệm vụ trưng mua lương thực quá nặng; không nói nông thôn thiếu lương thực; không nói nhiều người chết đói, mà chỉ được phép nói về “tình hình tốt đẹp” ở địa phương mình, giơ tay thông qua kế hoạch kinh tế Đại tiến vọt hơn nữa.

  • Tân Tử Lăng

Nguồn: Blog Phan Thế Hải


Trong Thiên đường XHCN: Hoàng đế đỏ Mao Trạch Đông

Tháng Bảy 11, 2010
Trên thực tế, Mao có một cuộc sống rất đế vương. Dinh thự của Mao nằm ngay trung tâm của khu Trung Nam Hải, trong khu vực hoàng thành cũ. Chỗ ở của Mao có lẽ là nơi an ninh nhất trên thế giới nầy. Có tới ba lớp hàng rào anh ninh chung quanh Mao. Trước hết và trong cùng là các nhân viên an ninh đội lốt phục dịch, tiếp tân, rồi đến anh ninh trong khu dinh thự, và ngòai cùng là lực lượng anh ninh thuộc Cục Bảo Vệ Trung Ương dưới quyền Uông Ðông Hưng. Việc di chuyển của Mao được giữ kín ngoại trừ vài lãnh tụ cao cấp của đảng. Hệ thống cung cấp thức ăn cho Mao cũng rất phức tạp, vừa dựa theo cách tổ chức của Liên Xô vừa dựa theo cách tổ chức trong các triều đình vua chúa ngày xưa. Một nông trại được xây dựng đặt biệt chỉ để nuôi súc vật và trồng rau cải cho Mao và các lãnh tụ cao cấp sử dụng. Ðầu bếp chính của Mao, theo nhu cầu, gởi một danh sách đến Ban Tiếp Tế thuộc Cục Bảo Vệ Anh Ninh để nơi nầy gởi qua nông trại. Khi thức ăn được gởi đến Ban Tiếp Tế, chúng lại được chuyển qua hai phòng thí nghiệm. Phòng thứ nhất đo lường mức độ dinh dưỡng và mức độ tươi của nông phẩm, phòng thứ hai thử nghiệm để đề phòng chất độc trong thức ăn. Khi thông qua hai phòng thí nghiệm nầy, thức ăn còn phải chuyển đến phòng nếm mùi vị thức ăn để cho các nhân viên trong phòng nầy ăn trước để thử có chất độc hay không trước khi dâng lên Mao. Hệ thống ăn uống hết sức xa hoa, phong kiến và tốn kém nầy được áp dụng không những chỉ cho Mao mà cả cho các lãnh tụ cao cấp của đảng, quả thật đã phung phí không biết bao nhiêu sức người sức của. Văn phòng chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nước của Mao nhiều khi suốt năm không hề mở cửa vì như đã nói, Mao trị nước, chăn dân từ trong phòng ngủ.

Buổi chiều trước ngày lễ Lao Ðộng, Mao cho cận vệ gọi tôi. Tôi tưởng rằng Mao đang có bịnh hoạn gì, nhưng khi tới nơi thì cận vệ của Mao báo cho biết “Mao Chủ Tịch uống mấy viên thuốc ngủ mà vẫn không ngủ được nên cho gọi Bác Sĩ vào nói chuyện”. Câu đầu tiên Mao thường dùng để hỏi người đối diện là “Có tin gì không ?” Thoạt đầu thì tôi hơi ngạc nhiên vì có tin gì mới thì Mao biết hết rồi còn phải hỏi gì nữa. Nhưng Mao giải thích ,”chẳng hạn như Bác Sĩ gặp ai trong mấy ngày qua ? Các ông đã nói về chuyện gì?”. Tôi báo cáo với Mao là tôi có gặp Phó Liên Chương. Mao nhân tiện kể tôi nghe về chuyện Phó Liên Chương theo ông ta trong cuộc vạn lý trường chinh mặc dù năm người thân của ông đã bị đảng cộng sản giết hại. Câu chuyện kéo dài mãi tới khi cơm tối được dọn lên. Lần nữa tôi lại thấy có món rau xào dầu. Thời gian sau tôi có phê bình cách ăn uống quá nhiều chất dầu của ông ta nhưng Mao chẳng bao giờ chịu nghe. Mao mời tôi món dưa xào ớt cay, rồi hỏi ý kiến về món ăn. Tôi trả lời “Nóng và cay”. Mao cười ” Ai cũng nên đôi khi nếm mùi cay đắng trong cuộc đời”.

Mao có một cuộc sống khép kín. Ít khi gặp Giang Thanh và không có bạn bè. Khẩu hiệu “Tinh Thần Diên An” biểu hiện cho tình đồng chí giữa những người sống sót sau cuộc vạn lý trường chinh thật là một điều huyền bí vì ngay cả Lưu Thiếu Kỳ va Chu Ân Lai cũng ít khi gặp mặt Mao. Phần lớn công việc được trao đổi qua giấy tờ hoặc qua các phiên họp của Bộ Chính Trị được Mao triệu tập bất thường trong dinh Trường Thọ. Những người gần gũi Mao nhất là những cận vệ của Mao. Họ phần lớn thuộc giai cấp nông dân trẻ tuổi và ít học. Mao thường tán gẩu với đám cận vệ về chuyện gái trai, cố vấn họ về cách tán tỉnh, và ngay cả còn giúp họ viết thư tình cho bồ bịch. Mao biết là ngoài chuyện tình cảm lăng nhăng, đám cận vệ ngu dốt không thể nào hiểu những chuyện khác như triết học hay lịch sử Trung Quốc. Vì vậy ông ta thường xoay qua tôi như đối tượng để bàn về những vấn đề nầy.

Sau ngày gặp Mao hôm đó là đến ngày lễ lao động 1 tháng 5. Như thông lệ, ngày 1 tháng 5 được xem là một trong những ngày lễ lớn nhất. Hôm đó tôi được tháp tùng Mao đi tham dự lễ. Tôi, lần nữa, gặp bà Tống Khánh Linh. Ðảng cộng sản trong thời gian nầy vẫn còn duy trì một số khuôn mặt “dân chủ” không cộng sản và bà góa phụ của Bác Sĩ Tôn Dật Tiên là một trong số đó. Bà Tống đã 60 nhưng trông vẫn còn đẹp và trông rất quí phái. Buổi tối, sau khi tham dự lễ, là tiệc chiêu đãi quan khách nhân ngày lễ Lao Ðộng. Tôi nhớ là tới 7 giờ rưỡi Mao vẫn chưa ra xe. Mọi người đều nóng lòng. Tôi theo chân Uông Ðông Hưng và La Thoại Khanh vào gặp Mao thì thấy ông ta đang ngồi cho Hoàng Tu Tử hớt tóc. Hòang Tu Tử tên thật là Hoàng Huệ, khoảng 60 tuổi. Ông ta là thợ hớt tóc duy nhất cho Mao từ nhưng năm 1930. Sau nầy có lần Mao kể cho tôi nghe một mẫu chuyện lý thú về ông thợ hớt tóc Hoàng Tu Tử nầy. Số là trong năm 1942, đảng Cộng Sản tung ra một chiến dịch gọi là truy nã bọn nội thù. Ông thợ hớt tóc Hoàng Tu Tử không biết tại sao lại rơi vào danh sách những đối tượng cần truy tố. Những người bị truy tố bị buột phải thú nhận tội lỗi và Hoàng Tu Tử thú nhận là đã tìm cách cắt cổ Mao bằng lưỡi dao cạo. Mao nói với tôi “khi nghe Hoàng Huệ khai tôi đã nghi ngờ, nếu ông ta muốn giết tôi thì lâu nay khối gì cơ hội”. Sau đó an ninh đưa ông thợ cạo râu Hoàng Huệ đến gặp Mao thì vỡ lẽ ra rằng ông ta bị hành hạ và bắt buộc phải khai như vậy. Nhờ sự can thiệp của Mao mà ông thợ hớt tóc được thả và trở thành một trong những số ít người gần gũi và trung thành nhất với Mao. Khi chúng tôi vào thì Hoàng Tu Tử mới xong phần cắt tóc. La Thoại Hương giục ông ta nhưng Uông Ðông Hưng vội can ngăn “Ðừng hối, rủi ông ta lỡ tay thì thật là tai hại”. Công việc cạo râu cho Mao là cả một chuyện khó khăn vì Mao cứ cặm cụi cúi đầu đọc sách coi như không có chuyện gì. Hoàng Tu Tử phải quì xuống đất và ngữa mặt lên để cạo hàm râu dưới của Mao. Cuối cùng thì cũng xong và chúng tôi lại tháp tùng Mao tham dự buổi chiêu đải.

Trong buổi chiêu đãi đêm đó, tôi cũng gặp Hồ Chí Minh bên cạnh các quan khách quốc tế khác. Hồ lúc đó đã 65 tuổi, ăn mặc như một ông nông dân chân mang dép râu. Hồ nói tiếng Trung Hoa thông thạo vì đã dành nhiều năm ở Trung Quốc. Cận vệ của Hồ Chí Minh kể tôi nghe là họ Hồ thích mọi thứ ở Trung Quốc, từ món ăn, quần áo cho đến phương tiện di chuyển. Sau phần tiếp tân là đến phần dạ vũ. Sau cách mạng 1949, việc nhảy đầm đã bị ngăn cấm vì đảng cộng sản cho rằng nó là sản phẩm của giai cấp trưởng giả, do đó, tôi rất ngạc nhiên khi thấy Mao đích thân đứng ra tổ chức nhảy đầm. Sàn nhảy là một căn phòng rộng thênh thang được gọi là Liên Xuân Ðài. Mao tổ chức dạ vũ ở đó hàng tuần. Ðêm đó là lần đầu tiên tôi tham dự.

Ngay khi vừa bước vào phòng Mao đã tức khắc bị bao vây ngay bởi một bầy gái đẹp, trẻ măng, hấp dẫn do Cục Bảo Vê tuyển lựa từ các đoàn Văn Công. Các cô lần lượt đến mơn trớn rủ rê Mao Chủ Tịch ra sàn nhảy trong lúc ban nhạc chơi toàn là nhạc tây phương với những điệu Fox, Walt và Tango. Mao không từ chối cô nào cả. Mao nhảy rất chậm chạp, gần như đi bộ. Cứ sau khi nhảy xong với một cô, Mao lại kéo cô ta ngồi lại gần và tâm tình đôi ba phút cho đến khi một cô khác tới mời Mao. Và cứ thế Mao nhảy với từng cô, từ cô nầy đến cô khác. Tôi để ý chỉ thấy có Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ðức nhưng không thấy Giang Thanh. Bởi vì tôi thuộc thành phần thiểu số đàn ông trong đám nhảy, nên tôi cũng được các cô mời nhảy đôi ba bản. Ngoài âm nhạc tây phương, thỉnh thoảng ban nhạc lại chơi xen kẻ vài bài nhạc Trung Hoa. Những đoàn văn công thường do Cục Bảo Vệ an ninh tuyển lựa và tổ chức để phục vụ Mao và những lãnh đạo cao cấp. Ða số các đòan viên là thiếu nữ trẻ đẹp, có tài ca múa và thấm nhuần tư tưởng chính trị. Mao mê gái và mê nhảy đầm đến nỗi sau nầy, vào năm 1961, ông ta hạ lệnh di chuyển cả phòng ngủ của ông ta tới sát vách phòng nhảy để “nghỉ xả hơi” khi nhảy mệt. Tôi thường thấy Mao dắt tay các vũ công vào phòng ngủ của ông ta và rồi vói tay gài then cửa.

Trong hàng lãnh đạo cao cấp chỉ có Thống Chế Bành Ðức Hoài, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương là có gan phê bình đời sống trụy lạc sa đọa của Mao. Thống Chế Bành phê bình Mao hai lần, lần thứ nhất vào năm 1953 và lần thứ hai trước cuộc họp của Bộ Chính Trị. Bành Ðức Hoài là người thẳng thắng, bộc trực và chân thật. Ông ta tố cáo Mao đã có lối sống như một ông Hoàmg bên cạnh ba ngàn cung nữ. Thống Chế họ Bành cũng phê bình cả Bộ Trưởng La Thoại Khanh và Uông Ðông Hưng. Những đoàn văn công vì vậy mà phải giải tán nhưng Mao vẫn tiếp tục được cung cấp đầy đủ gái đẹp từ các đoàn văn công từ các tỉnh và từ các quân binh chủng.

(Theo: “The private life of Chairman Mao” của Lý Chí Thỏa)
Nguồn: Blog Phan Thế Hải