Giáo dân Cồn Dầu tiếp tục sống trong cảnh sợ hãi

Tháng Chín 29, 2010

Những hành xử kiểu côn đồ, từ đe dọa tới ve vãn đang được chính quyền cộng sản áp dụng tại Cồn Dầu làm cho bầu khí xứ đạo đã ngột ngạt lại càng ngột ngạt hơn.

Sau đám tang của cụ bà Hồ Nhu, cảnh bắt bớ, tang tóc, những đe dọa người dân của chính quyền Đà Nẵng đã làm cho người dân Cồn Dầu hầu như buông xuôi phó mặc quyền lợi mình trong tay chính quyền Đà Nẵng.

Trong bối cảnh đó, chính quyền Đà Nẵng, một mặt, cho người tới kiểm định tài sản đất đai của người dân; mặt khác, gửi giấy mời các gia đình tới Ban Giải tỏa Đền bù bắt nhận tiền đền bù mà không cần biết người dân có đồng ý hay không?

Đây là một trong hàng chuỗi những hành động vi phạm pháp luật mà chính quyền Đà Nẵng đang áp dụng tại Cồn Dầu.

Nhiều giáo dân cho biết, bên cạnh các hành động vi phạm pháp luật, chính quyền Đà Nẵng đang tìm cách mua chuộc một số gia đình, tung tin thấy thiệt nhắm gây chia rẽ cộng đồng tín hữu nơi đây.

Bên cạnh đó, chính quyền Đà Nẵng còn yêu cầu các gia đình có người thân đang tị nạn tại Thái Lan, thuyết phục thân nhân trở về để hưởng sự khoan hồng của chính phủ.

Nhiều gia đình, vì không chịu nổi áp lực, đã đồng ý nhận tiền đền bù di dời với một giá đền bù rẻ mạt 350.000đ/m2 đất thổ cư.

Nhiều người trong số họ cho biết, mặc dù đã nhận tiền đền bù, nhưng họ vẫn chưa biết họ sẽ được tái định cư ở đâu, trong khi đó họ được chính quyền Đà Nẵng hướng dẫn gửi tiền vào ngân hàng để chờ ngày tái định cư?

Trong một diễn biến khác, ông Nguyễn Bá Thanh – hung thần Miền Trung, vừa tái đắc cử chức vụ Bí thư thành ủy Đà Nẵng sau một kỳ bầu cử được chính quyền cộng sản gọi là “bỏ phiếu trực tiếp” mà ông Nguyễn Bá Thanh là ứng cử viên duy nhất.

Trong vụ việc Cồn Dầu, Bí thư đảng cộng sản Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh là người hiểu tâm tư, nguyện vọng của bà con Cồn Dầu nhất, bởi ông đã nhiều lần tới gặp giáo dân Cồn Dầu và hầu như lần nào trước những lập luận sắc bén của người dân ông cũng đều cúi mặt ra về.

Tuy nhiên, với những món lợi khổng lồ từ những lại quả có được từ Dự án khu Du lịch Sinh thái Hòa Xuân, ông nhắm mắt làm ngơ, bất chấp lương tri, dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt, cướp bóc tài sản do mồ hôi, xương máu của biết bao nhiêu những con người dành dụm được hàng trăm năm nay.

Người dân Cồn Dầu chỉ mong được ở lại quê nhà, nhưng quê nhà sao xa quá!

Đà Nẵng, 29/9/2010

CTV. Nữ Vương Công Lý

Advertisements

Truyền thông Công giáo và những đóng góp cho Giáo hội tại tỉnh Sơn La

Tháng Tám 22, 2010

Ngày 15/8/2010 vừa qua – Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, Đức Giám mục Phụ tá giáo phận Hưng Hóa, Gioan Maria Vũ Tất, đã tới các cộng đoàn công giáo tại tỉnh Sơn La, cử hành bí tích Thêm sức cho các cháu thiếu nhi thuộc các cộng đòan và các giáo điểm của tỉnh Sơn La.

Cũng trong dịp này, chính quyền tỉnh Sơn La đã chính thức công nhận và cho phép các linh mục giáo phận Hưng Hóa tới làm việc mục vụ tại các cộng đoàn.

Đây quả là một tín hiệu vui cho các Kitô hữu đang làm ăn sinh sống tại tỉnh Sơn La và các tỉnh Tây Bắc – vùng đất vốn được mệnh danh là “Vùng trắng về Tôn giáo”.

Giáo dân Sơn La: theo số liệu không chính thức gồm khoảng hơn 2000 tín hữu người Kinh đến từ các tỉnh miền xuôi lên Sơn La làm ăn sinh sống và 1800 anh chị em tín hữu người H’Mông tự tìm đến với Giáo Hội sau khi nghe các chương trình truyền thanh bằng tiếng H’Mông của Đài Chân Lý Á Châu.

Có thể nói rằng, thành quả mà giáo dân Sơn La đạt được hôm nay, là do ơn Chúa, do sự can trường mạnh mẽ của các tín hữu Chúa Kitô tại nơi đây. Bên cạnh đó, thành công ấy còn có phần đóng góp không nhỏ của truyền thông công giáo. Chính truyền thông công giáo, trong những thời khắc quan trọng và khắc nghiệt nhất, đã nhanh chóng truyền đi khắp thế giới tiếng kêu cứu của những giáo dân Sơn La can trường đang bị bạo quyền bách hại.

Muốn hiểu rõ những đóng góp ấy, có lẽ cần phải lần giở lại những trang sử hào hùng mà cộng đoàn công giáo Sơn La đã trải qua, nhất là trong những năm gần đây.

Các cộng đoàn công giáo Sơn La ban đầu được hình thành từ những nhóm nhỏ các giáo dân tự tìm đến với nhau vào các dịp lễ lớn của Giáo Hội. Địa điểm sinh hoạt là tại các tư gia. Sau một thời gian âm thầm hoạt động, khoảng thời gian những năm 2002 – 2003, các nhóm giáo dân bắt đầu công khai sinh hoạt mỗi ngày một thường xuyên hơn.

Sự xuất hiện công khai, rầm rộ của các cộng đoàn Công giáo Sơn La đã khiến chính quyền Sơn La – một chính quyền luôn tự hào về thành tích “vùng đất trắng tôn giáo” lấy làm khó chịu và họ đã tìm mọi cách kể cả bần tiện nhất để ngăn chặn sự phát triển của Giáo hội tại nơi đây. Kể từ đây, cuộc thương khó của các giáo dân tại Sơn La bắt đầu. Nhiều người bị công an gọi hỏi, tra khảo. Nhiều gia đình bị làm khó nhất là về vấn đề kinh tế. Các buổi sinh hoạt cộng đoàn liên tục phải di dời. Các cháu nhỏ khi tới trường bị thầy cô, bạn bè khích bác với những lời lẽ miệt thị và mỗi cuối năm học thường bị đánh hạ hạnh kiểm.

Cao trào của các đợt bách hại là Noel 2008, với “lệnh giới nghiêm” của Chủ tịch UBND phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La.

Có thể nói rằng, ngay từ thời điểm năm 2004, khi chính quyền Sơn La tìm mọi cách ngăn cản các tín hữu tham gia cầu nguyện nhóm tại các gia đình, thì truyền thông công giáo đã có những đóng góp tích cực nhằm giảm thiểu những bách hại có thể xảy ra với các tín hữu.

Chính truyền thông công giáo, với những bài viết sắc bén, những hình ảnh ấn tượng, những thông tin nóng bỏng, kịp thời đã nhanh chóng truyền ra khắp thế giới những đau khổ mà anh chị em tín hữu công giáo Sơn La phải chịu, giúp mọi người hiểu rõ hơn tình cảnh của các giáo dân tại các tỉnh Tây Bắc, đặc biệt là tại tỉnh Sơn La; nhờ đó mà, phái đoàn của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, trong chuyến viếng thăm và làm việc tại tỉnh Sơn La (tháng 5/2009) đã có được những dữ liệu, những cơ sở cần thiết, khẳng định chính quyền Sơn La đã vi phạm quyền tự do tôn giáo một cách có hệ thống.

Ai cũng biết, sau cuộc viếng thăm này của Phái đoàn Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, chính quyền Sơn La bắt đầu quá trình cởi trói cho các Cộng đoàn Kitô giáo nơi đây, để rồi tới hôm nay, các cộng đoàn đã chính thức được chính quyền Sơn La công nhận và cho được tự do sinh hoạt.

Có thể nói rằng, nhìn lại những bước tiến ngoạn mục của các cộng đoàn Công giáo Sơn La, ngoài ơn Chúa và sự tác động của Chúa Thánh Linh, thì sự can trường, kiên nhẫn, hy sinh của các tín hữu đã là nền tảng không đổi, tạo nên những thành công tốt đẹp như hôm nay.

Chính thái độ can đảm, không chịu khuất phục trước bạo quyền và niềm tin vào Chúa đã giúp các tín hữu vững vàng trước những thời khắc khó khăn tạo nên những bước ngoặt quyết định, quan trọng cho tiến trình hình thành và phát triển của các cộng đoàn công giáo Sơn La.

Đối với chính quyền Sơn La, một chính quyền luôn tự hào về  một “vùng đất trắng tôn giáo”, thì việc chủ trương đối thoại quả là điều tức cười. Trong thực tế, những thành quả hôm nay mà giáo dân Sơn La đạt được, không có bất cứ dấu ấn nào của việc “đối thoại do các đấng bậc chủ trương” mà thực tế là do tác động của truyền thông công giáo, cộng với sự can đảm, dám đứng lên đương đầu của các tín hữu công giáo nơi đây. Chính họ – các giáo dân công giáo Sơn La, chứ không ai khác, đã tạo nên chỗ đứng cho mình ngay trong lòng một chế độ tự cho mình là chuyên chính nhưng luôn chèn ép và cố tình triệt hạ các tôn giáo.

22/8/2010

Gioan Nguyễn Thạch Hà


Hội nhà báo hay "Hội báo cáo"?

Tháng Tám 13, 2010

Dư âm “bịt mồm” của Đại hội Nhà văn kết thúc hôm 6-8 (2010) chưa kịp tan thì  nay lại đến  Đại hội lần IX của Hội Nhà báo diễn ra tại Hà Nội trong 3 ngày 10, 11 và 12.

Mấy chữ “Đại hội bịt mồm” là của Nhà thơ Trần Mạnh Hảo, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông Hảo đã bêu rếu như thế để phản ứng lại việc  ông bị tắt âm thanh  vô cớ trong lúc phát biểu trước Đại hội  hôm 5-8 (2010)  ở  Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Theo những Nhà văn từng học ở đây thì vì  là ngôi trường cao cấp của đảng nên không bao giờ bị cúp điện và hệ thống âm thanh cũng không bao giờ được phép  để cho bị trục trặc  do đó Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho là Ban Tổ chức có chủ ý nên  ông đã  quyết định  rút tên ra khỏi Hội Nhà văn.

Năm nay Hội Nhà báo  của Chủ tịch Đinh Thế Huynh, Ủy viên Trung ương đảng, Tổng Biên tập  Báo Nhân Dân  không chọn  ngôi trường này hay Hội trường Ba Đình như năm  2005 mà đã tổ chức đại hội ở Cung Văn hóa hữu nghị  tại 91 phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nhưng sự lựa chọn khôn khéo này của Hội Nhà Báo  có làm cho vai trò  làm báo của 17.763 hội viên thay đổi không ?

Tất nhiên là không, bởi vì chỉ riêng Bản Điều lệ thôi cũng đủ để nói lên sự mất tự do hành nghề của làng báo trong nước.

Cũng giống như Hội Nhà văn, Điều 2 của Điều lệ này viết  rằng: “ Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp của những người làm báo Việt Nam“, và “Hội Nhà báo Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, chịu sự quản lý của Nhà nước, hoạt động theo quy định của pháp luật và Ðiều lệ Hội.”

Về Mục đích họat động thì  Hội này phải tập trung vào 3 nhiệm vụ:

1.Hội Nhà báo Việt Nam tập hợp, đoàn kết, động viên các nhà báo phát huy tài năng sáng tạo, cùng các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, kinh tế, văn hóa và nhân dân cả nước phấn đấu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh.

2.Hội Nhà báo Việt Nam (gọi tắt là Hội) đại diện quyền làm chủ, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp của những người làm báo Việt Nam. Hội góp phần xây dựng báo chí Việt Nam thực sự là tiếng nói của Ðảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị – xã hội; tổ chức xã hội nghề nghiệp và là diễn đàn của nhân dân.

3.Hợp tác và tham gia các tổ chức báo chí dân chủ, tiến bộ của các nước, khu vực và quốc tế, tích cực góp phần vào việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Ðảng và Nhà nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ở đây cần nói rõ rằng  nếu nhà báo  đã tuyên hứa “bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, tức là bảo vệ cái nhà nước độc tài, độc đảng theo chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin thì cái mũ nhà báo làm sao che hết được mặt của một cán bộ  đảng?

Còn chuyện “thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh” ư ?  Chắc  các nhà báo  vẫn chưa quên vụ án  viết bài chống tham nhũng của  từ giữa năm 2007 của 2  nhà báo  Nguyễn Văn Hải (Báo Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (Báo Thanh Niên) vì họ đã dám đưa tin sự thật về vụ tham nhũng của hàng lọat cán bộ trong vụ PMÚ18.

Cũng vì liên hệ đến vụ án mà  Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn đã  ra lệnh  thu hồi Thẻ Nhà báo của 4  ông Nguyễn Quốc Phong, Phó Tổng biên tập Báo Thanh Niên;  Bùi Văn Thanh, Phó Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh; ông Huỳnh Kim Sánh, Tổng thư ký Tòa soạn Báo Thanh Niên; ông Dương Đức Đà Trang, Trưởng Văn phòng đại diện Báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

Khỏang 25 Nhà báo khác cũng đã bị công an điều tra với tư cách nhân chứng trong vụ án báo chí này.

Hơn nữa khi Báo chí  tự coi  mình là “tiếng nói của Ðảng, Nhà nước” hay ra sức đóng góp vào  việc  “thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Ðảng và Nhà nước” thì  Báo chí Việt Nam dành chỗ nào cho diễn đàn của dân ?

Bằng chứng thì vô số, nhưng hãy kể ra đây các vụ hàng lọat người dân kéo nhau đi khiếu kiện đòi công bằng, đền bù, xử oan  ngay ở Thủ đô Hà Nội hay các vụ người dân bị công an đàn áp ở Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Tòa, Loan Lý, Cồn Dầu v.v…

Vụ công an  tra tấn anh Nguyễn Văn Khương  cho đến chết ở Bắc Giang  cho đến  vụ  cán bộ dâm ô tồi bại Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Hà Giang bị mất chức, bị loại khỏi đảng  mà các nhà báo vẫn  không  dám vào cuộc điều tra cho ra ngọn ngành vụ mua dâm học trò của khỏang  10 viên chức có máu mặt ở tỉnh này  thì họ là “nhá báo” hay “cán bộ” của Ban Tuyên giáo  chỉ hành động khi nào thông tin có lợi cho nhà nước ?

Đã thế, nếu có đưa tin thì lại nói theo giọng lưỡi xuyên tạc, bôi nhọ người dân và   các giới chức Tôn giáo của chính quyền như trong trường hợp của các  báo Hà Nội Mới, An Ninh Thủ Đô, Công an và Công an Nhân dân  trong vụ Đồng Chiêm và Thái Hà ?

Vậy khi báo chí đứng ngòai nhìn vào các vụ đàn áp dân hay vu oan cáo vạ cho dân của lực lượng công an thì Hội Nhà báo  ở đâu, làm gì  hay họ chỉ biết tiếp tay cho Nhà nước kìm kẹp Báo chí như  đã ghi trong Điều 7 của Điều lệ, đó là :

1.Tham gia với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc chỉ đạo, quản lý hoạt động báo chí, góp phần xây dựng và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thông tin, báo chí.

2.Tham gia ý kiến với các cơ quan quản lý báo chí trong việc thực hiện quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ báo chí; xét khen thưởng hoặc xử lý vi phạm của hội viên – nhà báo.

3.Phản ánh, tư vấn, kiến nghị với Ðảng, Nhà nước trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách đối với những người làm báo, các cơ quan báo chí và việc quản lý báo chí để báo chí không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả xã hội.

4.Phối hợp với các tổ chức hữu quan, các cơ quan báo chí để bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, đạo đức, nghiệp vụ cho các hội viên – nhà báo.

Tưởng làm như thế đã đẹp lòng đảng, ai ngờ đảng vẫn chưa đồng ý nên trong Nghị quyết 5 tháng 8 năm 2007, Ban Chấp hành Trung ương đảng  X đã trách mắng thậm tệ đội ngũ báo chí còn lơ là  với công tác tư tưởng, vẫn còn nặng đấu óc thương mại, chỉ biết khai thác những mặt xấu của xã hội thay vì đề cao những việc tốt và người tốt theo ý đảng muốn.

Nghị quyết này, tuy đã  cũ mất 2 năm  nhưng đảng vẫn lấy đó làm “khuôn vàng thước ngọc” để bắt báo chí phải  cấp bách  khắc phục.

Nghị quyết  này viết : “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấu còn hạn chế, chưa sát thực tiễn và chưa linh hoạt; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lí tưởng, đạo đức, lối sống. Chất lượng sinh hoạt tư tưởng trong tổ chức đảng thấp, thiếu tính chiến đấu. Phạm vi tác động, ảnh hưởng của công tác tư tưởng có dấu hiệu bị thu hẹp. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn bị động, hiệu quả thấp. Xuất hiện xu hướng hạ thấp chức năng giáo dục, xa rời các chức năng cao quý của văn học, nghệ thuật cách mạng. Nội dung, phương pháp công tác tư tưởng chậm đổi mới, công tác tư tưởng trở nên lạc hậu so với yêu cầu của thực tiễn trong tình hình mới.”

Về mặt lý luận, Nghị quyết phê bình : “Công tác lí luận còn lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra; chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học lí luận chưa cao; lí luận chưa làm tốt chức năng ịinh hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trình độ đội ngũ cán bộ lí luận còn bất cập so với yêu cầu mới. Công tác lãnh đạo, quản lí các hoạt động lí luận, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lí luận chính trị trong nhà trường chậm đổi mới, chưa theo kịp trình độ phát triển và yêu cầu của xã hội.”

Riêng đối với báo chí, nhiều lần trong 2 năm qua đảng  vẫn tiếp tục phê bình đội ngũ làm báo không những chểnh mảng nhiệm vụ đảng giao phó mà nhiều cơ quan còn không chịu làm, hay làm sai theo ý riêng, đi ra ngòai chủ trương hoặc có nơi còn làm ngược lại đường lối của đảng ghi trong Nghị quyết 5 viết như sau:

“Trong hoạt động báo chí, một số yếu kém, khuyết điểm được nhắc nhở nhiều lần nhưng chậm khắc phục, có mặt, có lúc, có nơi còn trầm trọng hơn. Một số cơ quan báo chí thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hoá, có biểu hiện xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước, xa rời tôn chỉ, mục đích, thông tin không trung thực, thiếu chính xác, phản ánh nhiều về tiêu cực và tệ nạn xã hội, ít tuyên truyền các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước; khuynh hướng tư nhân hoá, thương mại hoá báo chí, tư nhân núp bóng để ra báo, kinh doanh báo chí ngày càng tăng. Các cơ quan báo chí quan trọng của Đảng, Nhà nước chậm đổi mới, nội dung và hình thức chưa hấp dẫn, chất lượng và hiệu quả tuyên truyền không cao, chưa chi phối, làm chủ thông tin và định hướng được dư luận xã hội. Công tác chỉ đạo, quản lí báo chí còn nhiều hạn chế. Hệ thống đài phát thanh, truyền hình phát triển thiếu quy hoạch, gây lãng phí, tốn kém lớn.”

Như vậy thì Đại hội Báo chí IX có thảo luận về những yếu kém vẫn còn kéo dài không hay nghe xong rồi chuyện đâu vẫn để đó vì chuyện cha chung có ai muốn khóc ?

Mà có khóc cũng chưa chắc đã có người khóc theo bởi vì hiện tượng đảng nói đảng nghe đã rất phổ biến trong dân nên giới nhà báo có tuyên truyền cách mấy

cũng không làm gì hơn được.

Bằng chứng là Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội đã chỉ trích báo chí trước Đại hội ngày 12-08 (2010) như thế này : “Báo chí cũng còn những thiếu sót, khuyết điểm cần kiên quyết sửa chữa, khắc phục. Đó là tình trạng một số cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ mục đích, sa vào giật gân, câu khách tầm thường, để lọt những thông tin sai sự thật, lộ bí mật quốc gia, làm tổn hại đến lợi ích chung của nhân dân, của đất nước; đưa thông tin tiêu cực một chiều, lại thiếu sự phân tích, bình luận khách quan làm cho xã hội phân tâm. Một số ít nhà báo còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thậm chí vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín và danh dự của giới báo chí.

Hội Nhà báo Việt Nam trong nhiệm kỳ vừa qua tuy đã có cố gắng làm nhiều việc, nhưng ở nhiều tổ chức Hội hoạt động còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu. Việc giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện những quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam chưa đạt hiệu quả như mong muốn.”

Khác với diễn văn  “nhẹ nhàng”  và “trách khéo”  Nhà văn  “chưa có các Tác phẩm đỉnh cao”  của Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương tại Đại hội Nhà văn hôm 6-8 (2010), Nguyễn Phú Trọng đã lên lớp Báo chí rằng : “Nội dung thông tin báo chí cần trung thực, khách quan. Cách diễn đạt và chuyển tải thông tin cần chính xác, kịp thời, sinh động, hấp dẫn; trước những vấn đề mới, phức tạp hoặc những sự kiện lớn, quan trọng trong nước và quốc tế, cần có phân tích, bình luận sắc sảo, thuyết phục nhằm hướng dẫn nhận thức, dư luận xã hội một cách đúng đắn theo quan điểm, đường lối của Đảng“.

Trọng còn khuyến cáo Báo chí: “Tránh cách đưa thông tin phiến diện hoặc suy diễn, vũ đoán; loại bỏ những thông tin sai lệch ảnh hưởng đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tích cực biểu dương, cổ vũ cho cái đúng, cái tốt, cái đẹp; phê phán, lên án những thói hư tật xấu, các hiện tượng tiêu cực, suy thoái về đạo đức lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tư tưởng cơ hội, thực dụng. Đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta. Ở đây đòi hỏi người làm báo phải có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp.”

Nói như thế nhưng Trọng có sờ lên gáy xem đảng đã kìm kẹp Báo chí ra sao ? Đảng nói tôn trọng tự do ngôn luận,  bảo vệ quyền được thông tin và lên tiếng của dân nhưng đảng lại cấm không cho ra báo tư nhân, không cho phép chỉ trích những việc làm xấu hay hành vi quan liêu, tham nhũng của các quan chức cao cấp trong đảng, nhất là Bộ Chính trị 15 người đứng  đầu bởi Tổng Bí thư đảng Nông Đức Mạnh.

Vì vậy đảng đã ra lệnh cho  Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi Luật Báo chí để kiểm soát chặt chẽ hơn, nhất là đối với các mạng báo Điện tử và báo chí cá nhân, hay còn được gọi  Là Blogers đang phát triển mạnh ở Việt Nam.

Tuy nhiên Luật Báo chí  đã sửa đồi đến 10 lần mà vẫn còn nhiều vướng mắc nên Quốc hội phải hõan lại không thảo luận trong kỳ họp vừa qua. Có nhiều Đại biểu còn muốn gác lại sau Đại hội đảng XI  (tháng 1/2011) rồi sẽ tính chứ bây giờ không có thời giờ nghiên cứu vì họ còn mải vận động để được đảng cho  ra ứng cử thêm nhiệm kỳ nữa !

Luật Báo chí năm 1989 đã được sửa đổi một số điều khỏan năm 1999, nhưng xem ra đảng vẫn chưa hài lòng. Trong lần sửa đổi năm 1999, đảng đã quy định Báo chí có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân;

2- Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

3- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân;

4- Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác;

5- Góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam;

6- Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Tuy nhiên, sự ràng buộc trách nhiệm của người làm báo còn lệ thuộc vào nhiều Quy chế và Chỉ thị của đảng và chính phủ, chẳng hạn như Quy chế 9 điểm của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành năm 2008 được  mạng điện tử “Nghềbáo.com “của Việt Nam như sau:

“Quy chế gồm 9 điều, quy định việc cung cấp thông tin cho báo chí và việc sử dụng thông tin để đăng, phát trên báo chí, trong đó có việc thông tin về những vụ án, vụ việc tiêu cực còn đang được điều tra hoặc chưa xét xử, chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

Cụ thể, cơ quan báo chí, tác giả bài báo phải viện dẫn nguồn tin được sử dụng để đăng, phát trên báo chí. Khi viện dẫn nguồn tin phải thể hiện rõ nguồn tin do cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cung cấp hoặc thể hiện rõ là theo nguồn tin riêng của phóng viên, nguồn tin riêng của cơ quan báo chí và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất xứ và tính xác thực của nguồn tin.

Phải đảm bảo tính nguyên vẹn, chính xác của thông tin

Đối với các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử và các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, báo chí có quyền thông tin theo nguồn tài liệu của mình nhưng phải viện dẫn nguồn tin và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã đăng, phát.

Cơ quan báo chí phải đảm bảo tính nguyên vẹn, chính xác của thông tin được cung cấp, không được đăng, phát những thông tin về thân nhân và các mối quan hệ của cá nhân trong các vụ án, vụ việc tiêu cực khi không có căn cứ cho rằng những thân nhân và các mối quan hệ đó liên quan đến vụ án, vụ việc tiêu cực hoặc chưa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, làm ảnh hưởng xấu đến đời tư của công dân.

Cơ quan báo chí khai thác các văn kiện, tài liệu của tổ chức, tài liệu, thư riêng của cá nhân có liên quan đến các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử, các vụ việc tiêu cực hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật đang chờ kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải nêu rõ xuất xứ của các văn kiện, tài liệu thư riêng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung thông tin đã đăng, phát.

Phải ghi rõ họ, tên thật hoặc bút danh của tác giả

Khi sử dụng tin, bài để đăng phát trên báo chí, cơ quan báo chí phải ghi rõ họ, tên thật hoặc bút danh của tác giả, nhóm tác giả. Trường hợp tác giả ghi bút danh thì cơ quan báo chí phải biết rõ tên thật, địa chỉ của tác giả.

Đối với loại thông tin về chuyện thần bí, các vấn đề khoa học mới mà chưa được kết luận thì chỉ đăng trên tạp chí nghiên cứu chuyên ngành và phải có chú dẫn xuất xứ tư liệu.

Người đứng đầu cơ quan báo chí là người chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan chủ quản và trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin đăng, phát trên báo chí.”

Ngòai những chuyện qúa quắt này, đảng khoe báo chí không  bị kiểm duyệt nhưng lại phải “Nộp lưu chiểu”, có nghĩa là sau khi phát hành hay đưa tin  thì các Báo, đài phải gửi báo cáo nội dung cho Ban Tuyên giáo xem và kiểm soát lại.

Luật Sư-Tiến Sỹ  Phan Đăng Thanh viết về vấn đề này  trong – báo Pháp Luật, Thành Phố Hồ Chí Minh ngày  18/7/2008 như sau :

“Báo chí của chúng ta không bị nhà nước kiểm duyệt. Thực tế công việc “kiểm duyệt” này lâu nay nằm trong trách nhiệm của tổng biên tập báo hoặc giám đốc đài. Nhưng chúng ta lại có chế độ nộp lưu chiểu.

Dự án Luật Báo chí (LBC) mới quy định thời gian nộp lưu chiểu cho các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí “chậm nhất là hai giờ kể từ thời điểm phát hành”. Thực tế các báo ngày thường phát hành khoảng hai hoặc ba giờ sáng. Vậy thì phải nộp lưu chiểu chậm nhất lúc bốn hoặc năm giờ sáng. Vào thời điểm “ngủ” đó, có cơ quan quản lý nhà nước nào đọc, kiểm tra nội dung, phát hiện vi phạm để xử lý kịp thời hay không? Mà theo Nghị định 56 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa-thông tin thì hành vi nộp lưu chiểu sản phẩm báo chí không đúng địa điểm, thời hạn sẽ bị phạt tiền từ 500 ngàn đến 1,5 triệu đồng! Không nộp thì bị phạt từ 1,5 đến 3 triệu đồng!”

Như vậy thì có khác gì “kiểm duyệt” đâu mà nhà nước CSVN cứ khoe ầm lên từ bấy lâu nay ?

Sự việc cũ như miếng giẻ rách này có khác chi với việc  Đinh Thế Huynh lại được tái đắc cử chức Chủ tịch Hội Nhà báo  thêm nhiệm kỳ 5 năm nữa (2010-2015) y hệt như  chuyện Chủ tịch Hữu Thỉnh của Hội Nhà văn được lưu nhiệm hôm 6-8-2010.

(08/010)

Phạm Trần