Ai là người thân cận của tôi?

Tháng Bảy 20, 2010

Một đứa con nít Do thái cũng có thể trả lời câu hỏi này. Người thân cận là những người đồng hương, lề luật quy định phải yêu thương và giúp đỡ, còn những người khác thì không. Đức Giêsu đã trả lời câu hỏi của ông Thông luật bằng một dụ ngôn. Ba nhân vật trong dụ ngôn có hai thái độ. Thầy tư tế và thầy lêvi là những chức sắc trong đạo, đại diện cho giới am hiểu lề luật, rành rẽ trong việc phụng thờ Thiên Chúa và người Samari, dân ngoại. Các vị đã thấy một người đồng hương bị cướp nằm đó nửa sống nửa chết, nhưng họ đã bước qua một bên và tiếp tục đi. Có thể họ sợ bọn cướp còn đang lẩn quẩn đâu đó hoặc vì sợ chạm vào người bị hại sẽ bị nhiễm uế. Bận tâm đến sự an toàn và sự thanh sạch của bản thân còn lớn hơn lòng thương xót đối với người đồng hương bị nạn khiến họ có thái độ “tránh qua một bên”, nhưng để lại dấu vết của con tim vô cảm. Người Samari-dân ngoại đi đến, ông cũng có việc của ông, nhưng biết chạnh lòng thương khi thấy kẻ bị nạn. Ông đã làm tất cả khả năng để cứu giúp người bị nạn dù không phải là người đồng hương, cũng không biết đến lề luật, nhưng ông có phẩm cách của một con người có lòng nhân ái và đạo đức. Ông đã thực hành hai điều răn lớn của Cựu Ước về đức mến. Chính ông mới đáng được gọi là người Do thái chân chính.

Đức Giêsu cho thấy trong lãnh vực bác ái, không hề có một giới hạn nào và cũng không có một luật trừ nào, dù là lề luật. Vị thông luật hỏi: “Ai là người thân cận của tôi” tức là kẻ mà tôi phải yêu thương?. Đức Giêsu đảo ngược câu hỏi: “Ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị nạn?”. Như thế, Đức Giêsu  thay đổi cái nhìn và quan niệm hạn hẹp về lòng mến của người Do thái và trả lời cho câu hỏi đầu tiên của vị Thông luật về việc phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp: “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy”.

Cả hai vị Tư tế và Lêvi là hai con người đã luôn sống trong khung hình lề luật, làm con tim sơ cứng, khiến họ không còn chủ động đối với cuộc sống của mình, dẫn đến những khiếm khuyết về nhân cách. Chính thái độ nô lệ lề luật làm họ mất tự do, làm cho đời sống tinh thần của họ mất cân bằng và do đó tạo ra sự tha hóa nhân cách. Vì thế không lạ với thái độ dửng dưng, lạnh lùng đến tàn nhẫn của họ. Nếu người ta không có hoặc bị tước mất các quyền tự do, họ không còn biết tự do là thế nào nữa. Khi đánh mất những kinh nghiệm về tự do, được dạy dỗ sai về tự do hoặc bị chế độ độc tài áp bức và khống chế, cộng với tinh thần bạc nhược, cầu an, hoặc bị “nắm thóp” bởi những hành vi “đen tối”, biến họ trở nên hèn hạ trong lối nghĩ, tránh né đưa ra các quyết định, lập trường, chí ít là một lời “lên tiếng” hiệp thông với nạn nhân và “lên án” những hành vi tàn ác, cũng đã là thực thi lòng bác ái. Những người như vậy thường bằng lòng với một cuộc sống “được chăn dắt” đến nỗi mất luôn cả ý chí đòi tự do, cũng như mất cảm hứng sử dụng tự do như phương tiện để phát triển các giá trị tinh thần của mình. Vì vậy, họ không biết hay cố tình phớt lờ một khoảng trống tối tăm, vấy bẩn trong tâm hồn họ, cản trở những khả năng phát triển những giá trị bản thân và khoác lên “sự trống rỗng tối tăm “đó một ý nghĩa, một giá trị không hợp cảnh, không hợp thời là ô uế, là phạm luật và  “mackeno”, im lặng lánh qua một bên và đi tiếp… Dù vậy, họ đã kịp để lại một dấu tích của sự hèn hạ bất nhân, vô lương tâm, một nhãn giới ích kỷ, những chuẩn tắc méo mó vụ luật và lách luật.

Vụ “một giáo dân Cồn dầu bị đánh đập cho đến chết” cộng với thái độ “im lặng là vàng” của các vị hữu trách là “mục tử” trong giáo phận, cũng tương tự như những vụ việc xảy ra trước đây trong các giáo phận khác cho thấy, nếu cứ xây dựng giáo hội bằng những viên gạch “lạnh lùng, vô cảm” và với “cách xây” đúng như những “bản vẽ được thiết kế” như vậy của các mục tử thì tương lai giáo hội sẽ là…một đống gạch vụn mà thôi. Những giá trị căn bản của con người không được trân trọng và bị vứt bỏ không thương tiếc cho thấy sự trầm trọng của vấn đề “mất nhân cách” đang tràn lan. Đó phải chăng là kết quả của một đời sống tinh thần phát triển không lành mạnh dưới tác động và sự thống trị của một hệ tư tưởng độc tài tàn ác, hòa quyện với tinh thần “an thân”, với đặc quyền “bất khả xâm” bao trùm từ ý nghĩ đến lời nói và hành động, cùng với sự hèn hạ của thói vô trách nhiệm? Tất cả, những yếu tố đó làm cho suy nghĩ và hành động của các vị trở nên lệch lạc và kết quả là họ “tự cô lập” lấy mình mà vẫn ngây thơ “không biết tại sao”.

Một tôn giáo chịu sự áp đặt của các quan điểm chính trị, phải xây dựng theo mô hình “Phúc âm, Dân tộc và Xã hội chủ nghĩa”, đương nhiên nó phải theo những tiêu chuẩn chính trị chứ không phải bằng các tiêu chuẩn của Phúc âm và của giáo hội. Sự lựa chọn mô hình tôn giáo “đồng hành với dân tộc” theo những định hướng chính trị, được “tài lãnh đạo” bởi một hệ tư tưởng vô thần đã kéo theo hậu quả là các vị mục tử đã “đâm đầu vào rọ”; tự làm khổ mình, đánh mất vai trò và vị trí độc đáo “ở trong thế gian mà không thuộc về thế gian này”; tự tự bịt tai để không nghe những tiếng kêu rên xiết của đàn chiên bị áp bức, bị giết chết; tự bịt mắt mình để không còn phải thấy cái gì của Xêda, cái gì của Thiên Chúa để trả về đúng giá trị của nó nữa và cố quên đi Lời Thầy: “Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15, 20). Mô hình tôn giáo ấy như cái “vòng kim cô” xiết chặt không cho các vị mục tử được độc lập trong tư tưởng, mất đi tính năng động, tính tự do của công việc mục vụ, chí ít là tự thấy có trách nhiệm phải dừng lại, cúi xuống săn sóc và lo toan cho nạn nhân khốn khổ, để “Có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10,35). Vì vậy dễ hiểu là các mục tử ấy mau mắn huy động tất cả năng lực, phương tiện, uy tín, kể cả việc “nhân danh Chúa và nhân danh luật Giáo hội” để uốn mình theo tiêu chuẩn của cái chính sách “Phúc âm, Dân tộc và Xã hội chủ nghĩa” mà nhà cầm quyền đã xác lập và đang nỗ lực triển khai. Bước đầu đã có những “thành công nhất định”.

Cuộc “hôn nhân” gượng ép có tên gọi là sự hòa hợp dân tộc, tôn giáo và chủ nghĩa xã hội ấy thực chất là một cách thức khác của mưu toan cai trị của nhà nước, khi mà sự “hù dọa, bao vây kinh tế, tuyên truyền bôi nhọ, mạ lỵ, kích động lương dân, bắt bớ công khai lẫn bí mật, điều tra xét hỏi kiểu khủng bố, chụp mũ phản động, chống dân tộc… đã không còn tác dụng trong xã hội ngày nay, để nhường cho một mỹ từ khác là một nhà nước pháp quyền. Trong cái nhà nước luôn rêu rao “thượng tôn pháp quyền” ấy, tất cả đời sống tôn giáo đều bị áp đặt theo một định hướng cụ thể, bị thao túng bởi lý tưởng chính trị của những người cầm quyền cộng sản. Hệ thống chính trị này sử dụng tất cả những phương tiện sẵn có trong tay để lèo lái, o ép tôn giáo sao cho phải có những kế hoạch phù hợp với nhu cầu chính trị của nó, tức là những thứ mà hệ thống chính trị ấy cần, chứ không phải là những thứ mà tôn giáo đòi hỏi. Đây là một hiện tượng phổ biến ở các giáo phận đã lỡ “đính hôn-tốt đời đẹp đạo. Chính vì bị áp bức bởi “cuộc hôn nhân dị chủng” ấy và khi những đòi hỏi “dồn dập” của hệ thống chính trị này với cái “mô hình” tôn giáo họ dựng nên đi ngược với những quyền lợi chính đáng của người giáo hữu trong tư cách là công dân hợp pháp, thì dễ hiểu là họ “bị lột sạch, đánh nhừ tử, để mặc họ nửa sống nửa chết”, còn các vị “chức sắc” trong Giáo hội thì “tránh qua bên kia và đi”.

Không nói ai cũng biết người giáo hữu luôn trọng kính và vâng lời các đấng bậc trong tôn giáo mình, điều mà những người chống tôn giáo cho là “lạc hậu và mê muội, phản tự nhiên”. Đó là vì họ không biết hoặc không đọc “Học thuyết Giáo hội về xã hội”. Chính đường lối của hệ thống chính trị ấy đối với tôn giáo hiện nay đã nói lên rằng: cuộc “hôn nhân” ấy là một sự “cưỡng bức” không hơn không kém. Vì thế nó không chấp nhận bất cứ những động thái gì mang hơi hướm của tự do, là “những quyền căn bản” tôn trọng những giá trị con người. Trong bối cảnh đó, như minh họa cho hậu quả “gậy ông đập lưng ông”, những chính sách tôn giáo của hệ thống chính trị này cho thấy những tác hại của tính độc tài cố chấp của nó, đồng thời bộc lộ tính “vô luân” của hệ thống ấy khi cố áp đặt lên tôn giáo những định hướng chính trị của đảng phái cầm quyền. Bởi thế chẳng lạ gì khi sống  trong môi trường ấy, người giáo hữu được-hay bị hướng dẫn, được-hay bị tuyên truyền về những tiêu chí đạo đức, năng lực, phẩm chất, thái độ chính trị đến độ coi những tiêu chí ấy như lời của Chúa mà những khẩu hiệu đã phơi bày: Nào là Tốt đạo đẹp đời, nào là đồng hành cùng dân tộc, nào là Phúc âm, Dân tộc và xã hội chủ nghĩa…Thế nhưng, như cây kim dấu trong bọc lâu này cũng lòi ra, khi thực tế chứng minh rằng sự tuyên truyền ấy là giả trá, lý tưởng chính trị đó là gian dối, khi việc cổ vũ cho những tiêu chí ấy không những vô bổ mà còn nguy hại cho đời sống con người, thì những gông cùm “nhân danh những gì là tốt đẹp nhất, tiến bộ nhất” của hệ thống chính trị đó tự dưng tan vỡ, những mặt nạ tốt đẹp rơi xuống pho bày một khuôn mặt thật thảm hại và nó không còn năng lực khống chế tư tưởng con người, làm cho con người hãi sợ nữa.

Nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay, khi nền kinh tế, văn hóa và trình độ dân sinh ngang tầm với các nước trong khu vực quãng 30-50, thậm chí cả trăm năm…trước, ắt hẳn ta không lạ gì khi thấy nền giáo dục luôn hý hửng vì được “cập nhật và cải tiến” giống như việc “cải tiến” chiếc ô tô chạy bằng xăng nay chuyển sang chạy bằng…than. Giáo dục là vấn đề tối quan trọng, liên hệ đến sự tồn vong, thịnh đạt hay suy yếu của cả một dân tộc, thế mà do sự áp đặt của hệ thống chính trị ấy, người ta không được trang bị những kiến thức để rèn luyện những năng lực phù hợp với nhu cầu của cuộc sống, trái lại người ta chuyên cần với những bài học về sự giả dối và hãnh tiến. Hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa chỉ trang bị cho con người những kiến thức dựa trên một thứ triết học làm nền tảng duy nhất, dựa trên một hệ tư tưởng cố định phù hợp với nhu cầu của hệ thống chính trị mà nó chẳng cần biết nó có ích gì cho đời sống người ta hay không, vì vậy dễ hiểu là hệ thống chính trị đó không hề tôn trọng con người với các quyền căn bản của con người.

Nhìn vào sự đào tạo các “chức sắc” tôn giáo cũng thế. Vì sống lâu dài trong một môi trường chính trị, kinh tế và văn hoá phi dân chủ, phi đạo đức, phi tự nhiên đã làm con người, người giáo hữu dần bị biến dạng, mất tư cách và phẩm chất làm người, không còn biết quý trọng con người nữa. Thế nên, thay vì trở nên giống Đức Giêsu, Đấng “đã đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng thân mình làm giá chuộc muôn người”, lại trở nên người đòi mọi người phải phục vụ mình, phục vụ những ý thích quái gở, những ham muốn vô tận của mình, phải sẵn sàng chết cho mình. Những vị này luôn miệng nhân danh Chúa để duy trì cho bằng được cái “ưu thế tuyệt hảo” ấy, dù có phải cấu kết, nhượng bộ hoặc thỏa hiệp với cái hệ thống chính trị áp bức đó. Kết quả là chính tư tưởng và lối sống ấy giết chết những giá trị “thiêng liêng” tạo nên cuộc sống của họ, làm cuộc sống mất cân bằng và bị tha hoá từ bên trong. Sự tha hóa này gây ra những hệ lụy tai hại như mất đi năng lực phản ánh sự thật.

Vì đánh mất chính mình, mất lý tưởng, mất ý nghĩa mà vì đó mình mới là thế này, nên đời sống của các vị ấy biến dạng, mất sự trong sáng của hình ảnh “Kitô-khác”, mất sự nhận thức đúng đắn và khả năng phản ánh cuộc sống trung thực như nó vốn có. Cần lưu ý rằng năng lực phản ánh sự thật rất quan trọng để xác định ranh giới giữa cái thiện và ác, tốt và xấu, lương thiện hay bất lương, ngay chính hay gian tà, môn đồ hay phản đồ…như lời Đức Giêsu nói: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm bớt là do ma quỷ”, như khi Đức Giêsu đứng trước quan Philatô bạo quyền, đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”.

Một người bị khiếm khuyết về mặt nhận thức, thì mọi diễn biến cuộc sống bên ngoài đến với họ sẽ không còn tính khách quan, nhưng luôn bị méo mó. Có thể trong “tâm hồn” của người ấy còn vài mảnh của “tính bản thiện” nhưng không đủ mạnh để phản kháng những sức ép chính trị, những biến dạng trong cuộc sống, trong xã hội. Điều đó khiến ý chí họ trở nên bạc nhược, không dám đứng lên phản ánh sự thật và không còn sự rung cảm trước những nỗi đau mất mát của đồng loại bị áp bức bất công, bị bạo quyền đàn áp. Lạnh lùng vô cảm, họ “tránh sang bên kia và đi”. Một hành vi đáng bị lên án và bản án đầu tiên là tố cáo sự nhẫn tâm của các vị ấy. Không một trạng sư nào dám đứng ra binh vực cho thái độ sai trái ấy, nếu họ còn có lương tri.

Chân lý là sự thật và không ai có thể bóp méo sự thật được. Người ta có thể tự bịt mắt mình để không thấy mặt trời, nhưng không vì thế mà mặt trời không có; đàng khác chính hành vi “tự bịt mắt” trước sự thật như thế, lâu ngày sẽ khiến cho họ bị “thui chột” nặng nề. Khi cố không để cho ánh sáng chân lý lọt vào, họ có thể che dấu tình trạng khiếm khuyết của họ, để không ai có thể nhận ra đến độ, chính họ không còn cảm thấy những khiếm khuyết của mình nữa, vì lương tâm đã bị “bẻ hết răng” nên không còn dám lên tiếng; vì con mắt bị che lại, nên họ thấy và nhận thức thực tế không như tính khách quan của nó nữa, thay vào đó là “màu hồng, mầu đỏ”. Họ sống cô đơn và cô độc trong tình trạng ấy. Vì không dám làm “người thân cận” của ai, nên cũng không thể trả lời cho câu hỏi của Đức Giêsu: “Ai đã tỏ ra là người thân cận” với một giáo dân xứ Cồn dầu bị đánh chết?.

Alivecho


Bạn đọc viết: Loại trừ nhau hay hiến tế sự thật

Tháng Bảy 18, 2010

Trong bài Diễn từ chúc mừng của Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhân ngày Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn ra mắt cộng đoàn Dân Chúa tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội, 07-05-2010 có đoạn: “Chắc chắn là ai trong chúng ta cũng đều muốn sự tốt đẹp cho Giáo Hội. Nhưng nếu vì yêu mến Giáo Hội mà chúng ta loại trừ nhau thì không còn gì mâu thuẫn bằng.”

Có thật sự vì yêu mến Giáo Hội, vì muốn sự tốt đẹp cho Giáo Hội, chúng ta không được phép loại trừ nhau như lời Đức Cha Linh đã nói?

Giả sử rằng, nếu một người bị bệnh ung thư, bác sĩ bảo cần phải cắt bỏ khối u hoặc thậm chí phải cắt bỏ phần cơ thể mang khối u đó đi thì mới giữ được mạng sống. Liệu người đó có nghe theo lời khuyên của bác sĩ chấp nhận cắt bỏ phần thân thể đó đi không, cho dù phải rất đau đớn, thậm chí có thể trở thành người khuyết tật? Hoặc giả dụ chẳng may một phần thân thể nào đó bị bệnh nguy hiểm mà không những không có khả năng chữa khỏi mà còn có nguy cơ lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể, thì có cần cắt bỏ phần thân thể đó đi không?

Có lẽ mọi người đều có câu trả lời là “có”.

Cũng vậy, nếu Giáo Hội được diễn tả như là một thân thể, thì trong trường hợp một số bộ phận bị nhiễm bệnh nguy hiểm mà không có khả năng chữa khỏi mà còn có nguy cơ làm lây lan bệnh cho các bộ phận khác, cũng buộc phải cắt bỏ, hoặc nếu không thể cắt bỏ được thì ít ra phải khoanh vùng và cô lập chúng lại.

Nếu Hội Thánh được hiểu như là cây nho, thì những cành nho, lá nho nào bị sâu hại cần bị chặt bỏ; hoặc thậm chí những cành lá nào dư thừa chỉ biết bám vào thân cây để hút nhựa mà không sinh hoa kết quả cũng cần được cắt tỉa để cho cây nho được mạnh khỏe, tươi tốt và đơm hoa kết trái.

Như vậy, vì yêu mến Giáo Hội, đôi khi cũng buộc chúng ta phải cô lập những  phẩn tử “bệnh tật” không có khả năng “chữa khỏi”, hoặc những kẻ làm “lây lan bệnh tật” (làm gương mù hoặc làm cớ cho người khác vấp phạm), hoặc thậm chí kể cả những kẻ chỉ biết nhân danh Hội Thánh để hút xương tủy của những người nghèo để vỗ béo cho bản thân mình.

Tuy nhiên, việc loại trừ này không có nghĩa là thủ tiêu, trừ khử, giết bỏ như nghĩa thế gian thường dùng, cũng không có nghĩa là tận diệt, nhổ tận gốc rễ như người đầy tớ trong dụ ngôn “cỏ lùng” (Mt 13,24-30) muốn, hay như ông Gia-cô-bê và ông Gio-an muốn “lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó” (Lc 9,54), vì đây không phải là ý định của Thiên Chúa. Chính Chúa Giê-su đã giúp chúng ta hiểu nghĩa của từ “loại trừ”, đó là “hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế” (Mt 8,17). Hoặc như Thánh Phao-lô dậy: “đừng đi lại với kẻ nào mang danh là người anh em mà cứ dâm đãng, tham lam, thờ ngẫu tượng, quen chửi bới, say sưa rượu chè hoặc trôm cắp; anh em cũng phải tránh đừng ăn uống với con người như thế” (1Cr 5,11). Còn Thánh Gio-an bảo không được tiếp đón hay chào hỏi những kẻ “không ở lại trong giáo huấn của Ðức Kitô” (2Ga 1,9).

Việc loại trừ này vừa là lời mời gọi, cũng vừa là sự bắt buộc đối với những ai dấn thân bước theo chân Chúa Ki-tô, đối với những ai yêu mến Hội Thánh của Người. Thánh Phao-lô ra lệnh “Hãy khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh em” (1Cr.5,13). Thánh Biển Đức trong chương 28 nơi Tu Luật của mình, Ngài còn truyền cho Viện Phụ “hãy dùng lưỡi dao sắc bén” để khử trừ những thành phần bất hảo. Còn chính Đức Ki-tô đã thẳng thắn tuyên bố: “Các con chớ tưởng rằng Thầy đến để mang hoà bình cho thế gian: Thầy không đến để đem hoà bình, nhưng đem gươm giáo. Vì chưng, Thầy đến để gây chia rẽ con trai với cha mình, con gái với mẹ mình, nàng dâu với mẹ chồng mình: và thù địch của người ta lại là chính người nhà mình.” (Mt.10,34-35). Vì dấn bước theo Chúa, vì yêu mến Giáo Hội, chúng ta buộc phải gạt bỏ những chướng ngại vật trên đường đến với Chúa, cho dù chướng ngại vật đó là gì, là ai đi chăng nữa, thậm chí đó là cha mẹ, con cái, vợ chồng v.v.

Nhưng làm sao chúng ta có thể cắt bỏ các tế bào ung thư bệnh tật trong cơ thể nếu chúng ta không nhận dạng được những tế bào bệnh tật này; làm sao chúng ta có thể loại trừ được những cành lá thừa thãi đang hút hết nhựa từ thân cây nếu chúng ta không phân loại được chúng. Nếu cẩu thả, vội vàng và chủ quan trong việc nhận diện và biện phân, chúng ta sẽ dễ cắt lầm những tế bào lành và những cành lá tốt, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên, việc nhận dạng và phân loại những tế bào ung thư, bệnh tật, những cành lá dư thừa không hề dễ dàng gì.

Các tế bào bệnh trong cơ thể Nhiệm thể của Giáo Hội đôi khi nó rất tinh vi và có khả năng lấp liếm che đậy rất giỏi, vì “con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng” (Lc 16,8): nó có thể núp trong các hội đồng nọ, hiệp hội kia; nó có thể núp dưới bộ mặt đức cao vọng trọng, trong mũ áo hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ, ban hành giáo, trưởng hội đoàn, nhà từ thiện v.v., kết hợp với cái miệng ra rả những lời hay ý đẹp, những ý niệm cao siêu, những nguyên tắc trìu tượng để phù hợp với cái vỏ mặt và cái áo mão thánh thiện mà họ đang khoác trên mình. Những kẻ này được Chúa Giê-su ví như những nấm mồ, bên trong thì thối tha nhưng bên ngoài tô vôi đẹp đẽ để đánh lừa người ta.

Để biết sự thật bên trong nấm mồ, biết mức độ thối tha của nó như thế nào, chúng ta cần phải đào bới, khai quật nó. Để nhận biết chính xác các tế bào nào trong Nhiệm thể Hội Thánh thực sự bị ung nhọt không thể chữa lành, các cành lá nào trong thân Nho Hội Thánh bị sâu hại hoặc thừa thãi, chúng ta cần phải mang nó ra ánh sáng Sự Thật để mổ xẻ. “Sự Thật sẽ giải thoát chúng ta” (Ga 8,32), thì Sự Thật cũng sẽ giúp chúng ta nhận biết những tế bào ung thư, những cành lá sâu hại, ăn bám. Về vấn đề này chính Đức Cha Linh đã kêu gọi: “chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn”. Hơn nữa, Đức Cha Linh nói lên điều này với tư cách là “thay mặt Hội đồng Giám mục Việt Nam”, chứ không phải của riêng cá nhân Ngài.

ĐHY Phạm Minh Mẫn đi tìm sự thật "thực" tận Roma

ĐHY Phạm Minh Mẫn đi tìm sự thật "thực" tận Roma

Như vậy, làm gương trong vấn đề “mổ xẻ” này, người tiên phong và quyết liệt nhất phải là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tiếp theo là Hồng y và từng vị Giám Mục. Nhưng than ôi, Hội Đồng Giám Mục, ngay cả một cái thư chung còn không dám ra, vì sợ người ta sẽ “ném đá vào bức thư này” (ĐC Linh trả lời phỏng vấn đài RFA, 14.05.2010), nói chi đến chuyện mổ xẻ. Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, thay vì đến với chính nhóm “lục ca áo tím” của mình để tìm hiểu sự thật liên quan đến việc bổ nhiệm ĐC Nhơn làm TGM Phó Hà Nội, thì Ngài lại “vượt núi băng ngàn đến tận Rô-ma” (Tìm ra sự thật thực? LM Nguyễn Ngọc Tỉnh) để “tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ” (Website TGP.TPHCM phỏng vấn ĐHY GB. Phạm Minh Mẫn ngày 11.06.2010 về chuyến đi Vatican từ 30.05 đến 03.06.2010). Thực chất, ai cũng hiểu rằng thay vì đi tìm sự thật, thì Ngài đi bưng bít sự thật và “giải độc cho “Dàn đồng ca áo tím”” (Hồng Y G.B Phạm Minh Mẫn sang Roma để làm gì? Nuvuongcongly.net) cùng hội cùng thuyền của mình.

ĐHY Phạm Minh Mẫn đang trình bày sự thật "thực" của ngài ở Roma

ĐHY Phạm Minh Mẫn đang trình bày sự thật "thực" của ngài ở Roma

Chờ mãi chẳng thấy có vị hữu trách nào dám cầm dao Sự Thật mà mổ xẻ. Xem ra, chỉ có những trang mạng bị loại vào hạng “lề trái” (giống như Đức Giê-su bị liệt vào hạng những tên tội phạm (Mc15,28)) hoặc thậm chí có trang như trang nuvuongcongly.net còn bị coi là “là trang của ma quỷ, satan” “ai đọc là mắc tội trọng, phải ngừng rước lễ và đi xưng tội”(Giáo lý mới của GP Hưng Hóa: Ai đọc Nữ Vương Công Lý là mắc tội trọng? nuvuongcongly.net) dám mang ánh sáng Sự Thật ra mà mổ xẻ các ung nhọt trong Giáo Hội. Trang mạng tiên phong và quyết liệt nhất trong vấn đề sử dụng ánh sáng Sự Thật để mổ xẻ phải kế đến, đó là trang nuvuongcongly.net.

Nhờ trang mạng này chúng ta biết được những thành phần mục rữa trong Giáo Hội. Nhờ trang mạng này chúng ta biết rõ được GHVN bị quốc doanh hóa đến mức nào. Nhờ trang mạng này chúng ta mới biết rõ nhóm “tam ca”, “lục ca” áo tím áo hồng. Nhờ trang mạng này chúng ta biết được “tôn giáo mới” ở Hưng Hóa. Nhờ trang mạng này chúng ta mới hiểu được “tinh thần Ngô Quang Kiệt” như thế nào. Nhờ trang mạng này chúng ta mới biết được lòng giáo dân khát khao Công Lý và Sự Thật như thế nào. Và v.v. Tóm lại, nhờ trang nuvuongcongly.net chúng ta biết được SỰ THẬT.

Như vậy, vì yêu mến Thiên Chúa và Hội Thánh, chúng ta không ngừng lấy ánh sáng Sự Thật để mổ xẻ cắt bỏ và khoanh vùng mọi ung nhọt trong Nhiệm thể Giáo Hội để Hội Thánh luôn mãi xinh đẹp, thánh thiện xứng đáng là Hiền Thê của Quân Vương Giê-su. Vì một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, chúng ta sẵn sàng “hiến tế quan điểm riêng” như lời ĐC Linh, nhưng không bao giờ chấp nhận “hiến tế SỰ THẬT” vì Đức Ki-tô đến để làm chứng cho Sự Thật và Hội Thánh bước theo Thầy Chí Thánh của mình để làm chứng cho Sự Thật. Do vậy, nếu vì yêu mến Giáo Hội mà chúng ta “hiến tế SỰ THẬT”, “thì không còn gì mâu thuẫn bằng”.

Âu-cơ-tinh