Thử nhìn “Sự kiện Ngô Quang Kiệt” dưới cái nhìn đức tin

Tháng Bảy 28, 2010

Gần bốn tháng đã trôi qua kể từ cái ngày đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt ra đi trong đêm tối, đến nay không tin tức, ngoại trừ lá thư ngài viết vội kính gửi cộng đoàn Dân Chúa. Đó cũng là bốn tháng của biết bao biến động đang đẩy Giáo hội Việt Nam tới một khúc quanh mới.

Có thể nói rằng, chưa bao giờ trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, người giáo dân Việt Nam lại mạnh mẽ bày tỏ cảm xúc thất vọng của mình đối với các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam như những tháng ngày qua.

Nhiều người đã tỏ vẻ thất vọng về cách hành xử của các vị lãnh đạo Giáo Hội khi cứ mãi im lặng trước những bất công đang ngày càng tràn lan trong xã hội.

Người khác mong Giáo hội, đặc biệt các vị lãnh đạo Giáo hội, phải tức khắc đưa ra những quan điểm chính thống để cộng đồng Dân Chúa tìm được sự thật “thực” về sự kiện Ngô Quang Kiệt.

Nói chung, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đang tạo ra một bầu khí hoang mang, lan tỏa trong đời sống Giáo hội ngay cả ở nơi thượng tầng kiến trúc của Giáo hội là các vị Giám mục thuộc HĐGMVN.

Trong suốt bốn tháng qua, đã có nhiều diễn giải xung quanh sự kiện có một không hai này. Điều dễ nhận thấy là sự kiện Đức cha Ngô Quang Kiệt phải rời chức vụ và âm thầm ra đi trong đêm tối, chứa chấp cả một “mầu nhiệm” không thể hiểu nổi. Sự kiện ấy được bắt đầu từ cái nghị quyết quái đản của chính quyền Hà Nội, được thực hiện bằng một kịch bản công phu, dưới sự dẫn dắt và thực hiện của một “dàn đồng ca áo tím”, với những bước đi ngoại giao, và đã kết thúc trong nước mắt của những ai thiện chí, yêu mến, khát khao được sống một tinh thần Ngô Quang Kiệt.

Cốt lõi của vấn đề, của những bức xúc của người giáo dân với các vị lãnh đạo Giáo hội trong những tháng ngày qua, chắc chắn không bởi những bức xúc cá nhân, những toan tính con người, cũng không phải bởi “có một thế lực đang muốn phá Giáo hội” như có người cạn nghĩ, hay bởi có mối tư thù với các vị lãnh đạo Giáo hội, mà tất cả xuất phát từ lòng yêu mến Giáo hội  – một Giáo hội Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền.

Trong bối cảnh của những cảm xúc lẫn lộn, với những phản ứng khác nhau; trong bối cảnh có nhiều diễn giải về sự kiện Ngô Quang Kiệt như vậy, thiết tưởng đã tới lúc cần đặt lại sự kiện Ngô Quang Kiệt dưới cái nhìn đức tin, trong hành trình lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, để thấy đâu là con đường Chúa muốn Giáo hội Việt Nam bước đi, hôm nay, lúc này, giữa xã hội này.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt một cơ hội sám hối

Tại Thánh lễ Khai mạc năm Thánh 2010, HĐGMVN: Lạy Chúa, Giáo Hội Chúa thiết lập là Giáo Hội duy nhất, nhưng chúng con đã làm rách tấm áo hiệp nhất của Chúa. Chúng tôi xin lỗi mọi thành phần xã hội, tôn giáo, vì chúng tôi đã chưa đủ hòa mình và đồng hành. Chúng tôi xin lỗi người nghèo, người hẩm hiu xấu số, người khuyết tật, đau khổ vì chúng tôi chưa đủ quan tâm. Những lời này phải chăng chỉ là "Nghi thức" của HĐGMVN?

Việc đức cha Ngô Quang Kiệt phải rời khỏi chức vụ và phải ra đi cách âm thầm trong Năm thánh, là một nỗi đau gây choáng váng cho mọi thành phần Dân Chúa, nhưng có lẽ đó lại là cơ may để một lần Giáo Hội Việt Nam nhìn lại mình, từ hàng giám mục, linh mục, tu sĩ cho tới người giáo dân.

Có thể nói rằng, nhờ sự ra đi đầy đau khổ của Đức cha Kiệt mà Giáo hội Việt Nam mới có cơ hội thấy được sự thật “thực” về một Giáo Hội Việt Nam mất hiệp thông từ thượng tầng kiến trúc, chỉ “đồng cảm chứ không đồng thuận” trong việc cất lên tiếng nói của công lý và hòa bình.

Cũng vậy, nhờ sự ra đi của Đức cha Ngô Quang kiệt Kiệt, mà người giáo dân lần đầu được chứng kiến một Giáo Hội đang dần bị quốc doanh hóa, xa rời quần chúng. Nếu không có sự kiện Ngô Quang Kiệt, có lẽ, những cuộc rước như ở giáo xứ Dị Nậu – giáo phận Hưng Hóa, còn lâu mới được biết tới.

Phải chăng Thiên Chúa để “sự kiện Ngô Quang Kiệt” diễn ra trong Năm thánh của Giáo Hội Việt Nam là một món quà ân sủng – nói như Đức cha Kiệt trong lá thư từ biệt: “Tôi ra đi thì có lợi cho Tổng Giáo phận Hà Nội”, giúp Giáo Hội sống trọn vẹn tinh thần của Năm thánh: “sám hối và canh tân.”

Những gì đang diễn ra liên quan tới sự ra đi của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt trong những tháng qua, dù có đau buồn, nhưng cách nào đó đã đặt Giáo hội Việt Nam trong một chọn lựa sống còn. Giáo hội không thể cứ mãi làm ngơ trước vận mệnh của đất nước, của dân tộc, cũng như không thể làm ngơ trước sự ác ngày càng dấn sâu của chế độ chuyên chính bạo quyền.

Những gì đang diễn ra – những sự thật đang dần được bạch hóa, không chỉ giúp mọi thành phần trong Giáo hội nhận ra sự thật, mà còn góp phần tích cực thánh hóa Giáo hội cho mỗi ngày một tinh tuyền hơn.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt hóa ra lại là một hồng ân, một cơ hội để sám hối.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt một dấu chỉ của thời đại?

Tuy nhiên, để công cuộc sám hối ấy mang đầy đủ ý nghĩa, có lẽ điều cần thiết là phải tìm xem, Thiên Chúa muốn nói gì qua “sự kiện Ngô Quang Kiệt” và đâu là dấu chỉ của Chúa qua sự kiện có một không hai này?

Trong niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người. Ngài đã bước chân vào lịch sử nhân loại, biến lịch sử ấy thành nơi chỗ biểu lộ vinh quang Ngài và là nơi để con người gặp Chúa và gặp nhau. Vì thế, mọi biến cố vui buồn xảy ra trong lịch sử, tất yếu phải được đặt trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, để tìm ra ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa thể hiện qua các biến cố của thời cuộc và qua các chứng nhân.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam gần 500 năm qua, với các mốc lịch sử 350 thiết lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong, 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, thì hình như, sứ mạng đồng hành với Dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình mò mẫm. Ngoài những đóng góp thấy được cho xã hội, cho tới giờ này, tinh thần Kitô giáo vẫn chưa được đại bộ phận người dân Việt Nam chấp nhận, đó là chưa kể còn rất nhiều người ngoài công giáo tỏ vẻ dè dặt mỗi khi nhắc tới Công giáo.

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này thì nhiều: chiến tranh liên miên khiến Giáo hội phải tìm cách để tồn tại mỗi khi một chính thể mới xuất hiện; xung đột văn hóa; tệ hại nhất là do chính sách bài tôn giáo với những tuyên truyền tàn độc của chế độ cộng sản vô thần… Bên cạnh đó, cũng không loại trừ Giáo hội Công giáo vì lý tưởng tồn tại được là may, nên đã chấp nhận đứng bên lề dân tộc bỏ mặc người dân bị “đánh nhừ tử” bên vệ đường.

Thực tế chứng minh cho thấy, kể từ năm 1980 – lần đầu tiên HĐGM toàn quốc nhóm họp, cho tới nay, trong các Văn kiện, Thư chung của HĐGMVN – tiếng nói chính thức của HĐGMVN, thì hầu như nội dung “rất chung chung” có thể áp dụng cho mọi kỳ đại hội, chỉ cần thay năm ban hành và người ký.

Đối với các vấn đề xã hội đang gây nhức nhối lòng người, trước các bất công đang ngày càng chất đầy mà nạn nhân là những  người dân thấp cổ bé họng, Giáo hội hầu như im lặng, đôi khi còn thỏa hiệp với chính quyền.

Trong một bối cảnh xã hội như thế, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đã có những tác động nhất định trong đời sống của xã hội và Giáo Hội.

Tôn giáo là Quyền, chứ không phải là ân huệ xin - cho

Phong trào thắp nến cầu nguyện mà ngài phát động đã lan tỏa nhanh chóng tạo nên một bầu khí sinh hoạt phượng tự mới, một xã hội dân sự bắt đầu manh nha, tác động ít nhiều tới cơ cấu tổ chức xã hội.

Có thể nói, trong một xã hội đầy bất công dưới sự cai trị độc tài cộng sản, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đã phần nào tạo nên một hy vọng cho những con người thấp cổ bé họng, không thể tự mình cất lên tiếng nói và nhất là đã khiến công chúng nói chung thấy được một Giáo hội của Chúa Kitô đang can đảm, dõng dạc cất lên tiếng nói cho một nền Hòa bình và Công lý được xây dựng trên tình thương và sự tha thứ.

Nếu sứ mạng của Giáo hội là đến với những người cùng khổ, những người bị “đánh nhừ tử vứt bên vệ đường”, nếu sứ mạng của Giáo Hội là tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu: “Sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật” (Ga 18, 37), thì tiếng nói cho sự thật mà Đức cha Ngô Quang Kiệt đã cùng cộng đồng Dân Chúa dõng dạc cất lên giữa lòng thủ đô, chắc chắn đó là điều Thiên Chúa muốn mời gọi Giáo hội Chúa bước đi hôm nay, lúc này, ngay giữa lòng một xã hội đang bị chủ nghĩa vô thần khuynh đảo, tìm cách bóp nghẹt lương tâm con người.

Gần 500 năm qua, Giáo Hội Việt Nam, vì hoàn cảnh lịch sử cách này cách khác, đã không quan tâm đủ tới những con người cùng khổ, đã không đồng hành với dân tộc, thì đây chính là lúc và là cơ hội để cất tiếng nói. Đây là lúc để thể hiện tâm tình sám hối một cách cụ thể và sống động nhất như Giáo hội đã tuyên bố trong ngày khai mạc Năm thánh.

Tạm kết luận

Sự ra đi của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng trong đức tin, thì lại là cơ hội Chúa muốn dùng để tái công bố cho Giáo hội Việt Nam đường đi của Tin Mừng: “Tôi sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18, 37).

Sự kiện Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng không thể làm cho thất vọng, bởi Thiên Chúa, với quyền năng và tình yêu vẫn thường hay biến sự dữ ra sự lành, chính Ngài sẽ làm cho thành tựu những lời Ngài đã hứa: “Quyền lực tử thần” dù mạnh đến đâu cũng không thể thắng được.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng Thiên Chúa, cách này cách khác, đang tiếp tục ra tay can thiệp để thanh tẩy và thánh hóa Giáo hội, giúp Giáo hội hoàn tất sứ mạng ngôn sứ của mình.

Vì thế, đã tới lúc, mọi thành phần trong Giáo hội Việt Nam cần phải nhìn lại mình, để thành tâm sám hối tội lỗi, quay về với Thiên Chúa – Đấng là nguồn mạch của sự thật và sự thiện, để cùng nhau cất lên tiếng nói của sự thật. Chỉ có như thế, Giáo hội mới có cơ hội thực hiện đầy đủ và ý nghĩa nhất ước nguyện sám hối và ước nguyện “cùng đồng hành với Dân tộc” mà cả Giáo hội Việt Nam đã long trọng tuyên bố trong ngày khai mạc Năm thánh, bên mộ các Thánh Tử đạo Việt Nam.

27/7/2010

An Dân


Bạn đọc viết: Loại trừ nhau hay hiến tế sự thật

Tháng Bảy 18, 2010

Trong bài Diễn từ chúc mừng của Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhân ngày Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn ra mắt cộng đoàn Dân Chúa tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội, 07-05-2010 có đoạn: “Chắc chắn là ai trong chúng ta cũng đều muốn sự tốt đẹp cho Giáo Hội. Nhưng nếu vì yêu mến Giáo Hội mà chúng ta loại trừ nhau thì không còn gì mâu thuẫn bằng.”

Có thật sự vì yêu mến Giáo Hội, vì muốn sự tốt đẹp cho Giáo Hội, chúng ta không được phép loại trừ nhau như lời Đức Cha Linh đã nói?

Giả sử rằng, nếu một người bị bệnh ung thư, bác sĩ bảo cần phải cắt bỏ khối u hoặc thậm chí phải cắt bỏ phần cơ thể mang khối u đó đi thì mới giữ được mạng sống. Liệu người đó có nghe theo lời khuyên của bác sĩ chấp nhận cắt bỏ phần thân thể đó đi không, cho dù phải rất đau đớn, thậm chí có thể trở thành người khuyết tật? Hoặc giả dụ chẳng may một phần thân thể nào đó bị bệnh nguy hiểm mà không những không có khả năng chữa khỏi mà còn có nguy cơ lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể, thì có cần cắt bỏ phần thân thể đó đi không?

Có lẽ mọi người đều có câu trả lời là “có”.

Cũng vậy, nếu Giáo Hội được diễn tả như là một thân thể, thì trong trường hợp một số bộ phận bị nhiễm bệnh nguy hiểm mà không có khả năng chữa khỏi mà còn có nguy cơ làm lây lan bệnh cho các bộ phận khác, cũng buộc phải cắt bỏ, hoặc nếu không thể cắt bỏ được thì ít ra phải khoanh vùng và cô lập chúng lại.

Nếu Hội Thánh được hiểu như là cây nho, thì những cành nho, lá nho nào bị sâu hại cần bị chặt bỏ; hoặc thậm chí những cành lá nào dư thừa chỉ biết bám vào thân cây để hút nhựa mà không sinh hoa kết quả cũng cần được cắt tỉa để cho cây nho được mạnh khỏe, tươi tốt và đơm hoa kết trái.

Như vậy, vì yêu mến Giáo Hội, đôi khi cũng buộc chúng ta phải cô lập những  phẩn tử “bệnh tật” không có khả năng “chữa khỏi”, hoặc những kẻ làm “lây lan bệnh tật” (làm gương mù hoặc làm cớ cho người khác vấp phạm), hoặc thậm chí kể cả những kẻ chỉ biết nhân danh Hội Thánh để hút xương tủy của những người nghèo để vỗ béo cho bản thân mình.

Tuy nhiên, việc loại trừ này không có nghĩa là thủ tiêu, trừ khử, giết bỏ như nghĩa thế gian thường dùng, cũng không có nghĩa là tận diệt, nhổ tận gốc rễ như người đầy tớ trong dụ ngôn “cỏ lùng” (Mt 13,24-30) muốn, hay như ông Gia-cô-bê và ông Gio-an muốn “lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó” (Lc 9,54), vì đây không phải là ý định của Thiên Chúa. Chính Chúa Giê-su đã giúp chúng ta hiểu nghĩa của từ “loại trừ”, đó là “hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế” (Mt 8,17). Hoặc như Thánh Phao-lô dậy: “đừng đi lại với kẻ nào mang danh là người anh em mà cứ dâm đãng, tham lam, thờ ngẫu tượng, quen chửi bới, say sưa rượu chè hoặc trôm cắp; anh em cũng phải tránh đừng ăn uống với con người như thế” (1Cr 5,11). Còn Thánh Gio-an bảo không được tiếp đón hay chào hỏi những kẻ “không ở lại trong giáo huấn của Ðức Kitô” (2Ga 1,9).

Việc loại trừ này vừa là lời mời gọi, cũng vừa là sự bắt buộc đối với những ai dấn thân bước theo chân Chúa Ki-tô, đối với những ai yêu mến Hội Thánh của Người. Thánh Phao-lô ra lệnh “Hãy khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh em” (1Cr.5,13). Thánh Biển Đức trong chương 28 nơi Tu Luật của mình, Ngài còn truyền cho Viện Phụ “hãy dùng lưỡi dao sắc bén” để khử trừ những thành phần bất hảo. Còn chính Đức Ki-tô đã thẳng thắn tuyên bố: “Các con chớ tưởng rằng Thầy đến để mang hoà bình cho thế gian: Thầy không đến để đem hoà bình, nhưng đem gươm giáo. Vì chưng, Thầy đến để gây chia rẽ con trai với cha mình, con gái với mẹ mình, nàng dâu với mẹ chồng mình: và thù địch của người ta lại là chính người nhà mình.” (Mt.10,34-35). Vì dấn bước theo Chúa, vì yêu mến Giáo Hội, chúng ta buộc phải gạt bỏ những chướng ngại vật trên đường đến với Chúa, cho dù chướng ngại vật đó là gì, là ai đi chăng nữa, thậm chí đó là cha mẹ, con cái, vợ chồng v.v.

Nhưng làm sao chúng ta có thể cắt bỏ các tế bào ung thư bệnh tật trong cơ thể nếu chúng ta không nhận dạng được những tế bào bệnh tật này; làm sao chúng ta có thể loại trừ được những cành lá thừa thãi đang hút hết nhựa từ thân cây nếu chúng ta không phân loại được chúng. Nếu cẩu thả, vội vàng và chủ quan trong việc nhận diện và biện phân, chúng ta sẽ dễ cắt lầm những tế bào lành và những cành lá tốt, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên, việc nhận dạng và phân loại những tế bào ung thư, bệnh tật, những cành lá dư thừa không hề dễ dàng gì.

Các tế bào bệnh trong cơ thể Nhiệm thể của Giáo Hội đôi khi nó rất tinh vi và có khả năng lấp liếm che đậy rất giỏi, vì “con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng” (Lc 16,8): nó có thể núp trong các hội đồng nọ, hiệp hội kia; nó có thể núp dưới bộ mặt đức cao vọng trọng, trong mũ áo hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ, ban hành giáo, trưởng hội đoàn, nhà từ thiện v.v., kết hợp với cái miệng ra rả những lời hay ý đẹp, những ý niệm cao siêu, những nguyên tắc trìu tượng để phù hợp với cái vỏ mặt và cái áo mão thánh thiện mà họ đang khoác trên mình. Những kẻ này được Chúa Giê-su ví như những nấm mồ, bên trong thì thối tha nhưng bên ngoài tô vôi đẹp đẽ để đánh lừa người ta.

Để biết sự thật bên trong nấm mồ, biết mức độ thối tha của nó như thế nào, chúng ta cần phải đào bới, khai quật nó. Để nhận biết chính xác các tế bào nào trong Nhiệm thể Hội Thánh thực sự bị ung nhọt không thể chữa lành, các cành lá nào trong thân Nho Hội Thánh bị sâu hại hoặc thừa thãi, chúng ta cần phải mang nó ra ánh sáng Sự Thật để mổ xẻ. “Sự Thật sẽ giải thoát chúng ta” (Ga 8,32), thì Sự Thật cũng sẽ giúp chúng ta nhận biết những tế bào ung thư, những cành lá sâu hại, ăn bám. Về vấn đề này chính Đức Cha Linh đã kêu gọi: “chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn”. Hơn nữa, Đức Cha Linh nói lên điều này với tư cách là “thay mặt Hội đồng Giám mục Việt Nam”, chứ không phải của riêng cá nhân Ngài.

ĐHY Phạm Minh Mẫn đi tìm sự thật "thực" tận Roma

ĐHY Phạm Minh Mẫn đi tìm sự thật "thực" tận Roma

Như vậy, làm gương trong vấn đề “mổ xẻ” này, người tiên phong và quyết liệt nhất phải là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tiếp theo là Hồng y và từng vị Giám Mục. Nhưng than ôi, Hội Đồng Giám Mục, ngay cả một cái thư chung còn không dám ra, vì sợ người ta sẽ “ném đá vào bức thư này” (ĐC Linh trả lời phỏng vấn đài RFA, 14.05.2010), nói chi đến chuyện mổ xẻ. Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, thay vì đến với chính nhóm “lục ca áo tím” của mình để tìm hiểu sự thật liên quan đến việc bổ nhiệm ĐC Nhơn làm TGM Phó Hà Nội, thì Ngài lại “vượt núi băng ngàn đến tận Rô-ma” (Tìm ra sự thật thực? LM Nguyễn Ngọc Tỉnh) để “tìm hiểu sự thật “thực” tận gốc rễ” (Website TGP.TPHCM phỏng vấn ĐHY GB. Phạm Minh Mẫn ngày 11.06.2010 về chuyến đi Vatican từ 30.05 đến 03.06.2010). Thực chất, ai cũng hiểu rằng thay vì đi tìm sự thật, thì Ngài đi bưng bít sự thật và “giải độc cho “Dàn đồng ca áo tím”” (Hồng Y G.B Phạm Minh Mẫn sang Roma để làm gì? Nuvuongcongly.net) cùng hội cùng thuyền của mình.

ĐHY Phạm Minh Mẫn đang trình bày sự thật "thực" của ngài ở Roma

ĐHY Phạm Minh Mẫn đang trình bày sự thật "thực" của ngài ở Roma

Chờ mãi chẳng thấy có vị hữu trách nào dám cầm dao Sự Thật mà mổ xẻ. Xem ra, chỉ có những trang mạng bị loại vào hạng “lề trái” (giống như Đức Giê-su bị liệt vào hạng những tên tội phạm (Mc15,28)) hoặc thậm chí có trang như trang nuvuongcongly.net còn bị coi là “là trang của ma quỷ, satan” “ai đọc là mắc tội trọng, phải ngừng rước lễ và đi xưng tội”(Giáo lý mới của GP Hưng Hóa: Ai đọc Nữ Vương Công Lý là mắc tội trọng? nuvuongcongly.net) dám mang ánh sáng Sự Thật ra mà mổ xẻ các ung nhọt trong Giáo Hội. Trang mạng tiên phong và quyết liệt nhất trong vấn đề sử dụng ánh sáng Sự Thật để mổ xẻ phải kế đến, đó là trang nuvuongcongly.net.

Nhờ trang mạng này chúng ta biết được những thành phần mục rữa trong Giáo Hội. Nhờ trang mạng này chúng ta biết rõ được GHVN bị quốc doanh hóa đến mức nào. Nhờ trang mạng này chúng ta mới biết rõ nhóm “tam ca”, “lục ca” áo tím áo hồng. Nhờ trang mạng này chúng ta biết được “tôn giáo mới” ở Hưng Hóa. Nhờ trang mạng này chúng ta mới hiểu được “tinh thần Ngô Quang Kiệt” như thế nào. Nhờ trang mạng này chúng ta mới biết được lòng giáo dân khát khao Công Lý và Sự Thật như thế nào. Và v.v. Tóm lại, nhờ trang nuvuongcongly.net chúng ta biết được SỰ THẬT.

Như vậy, vì yêu mến Thiên Chúa và Hội Thánh, chúng ta không ngừng lấy ánh sáng Sự Thật để mổ xẻ cắt bỏ và khoanh vùng mọi ung nhọt trong Nhiệm thể Giáo Hội để Hội Thánh luôn mãi xinh đẹp, thánh thiện xứng đáng là Hiền Thê của Quân Vương Giê-su. Vì một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, chúng ta sẵn sàng “hiến tế quan điểm riêng” như lời ĐC Linh, nhưng không bao giờ chấp nhận “hiến tế SỰ THẬT” vì Đức Ki-tô đến để làm chứng cho Sự Thật và Hội Thánh bước theo Thầy Chí Thánh của mình để làm chứng cho Sự Thật. Do vậy, nếu vì yêu mến Giáo Hội mà chúng ta “hiến tế SỰ THẬT”, “thì không còn gì mâu thuẫn bằng”.

Âu-cơ-tinh


Vì tôi là linh mục

Tháng Bảy 15, 2010

Theo lịch năm thánh thì ngày 30 tháng 06 kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng là ngày thánh hóa linh mục.  Nhân thể xin viết đôi điều vụn vặt về chuyện này.

Đề tài Linh mục, cho đến bây giờ vẫn còn lạ lẫm đối với nhiều người, do vậy lâu lâu nó lại được leo lên sân khấu, phim ảnh hay sách vở. Mỗi lần như thế nó gây nhiều ấn tượng, nhiều chú ý, nhiều ồn ào. Trước 30/4/75, nhà văn nữ Lệ Hằng đã viết cuốn tiểu thuyết “Tóc mây” nói về cuộc tình của Tố Kim, cô gái trẻ sinh viên Đà Lạt với Hà Vĩnh Duy, linh mục nhạc sĩ (?).

Tác phẩm này đã tạo nên một cơn lốc dữ dội, lúc bấy giờ gọi là “hiện tượng tóc mây”. Hình như trước hoặc sau đó không lâu nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” cũng ra lò và chuyền làng. Bài hát này đã tạo nên cơn bão cuốn hút luôn linh hồn của các cô gái nhỏ ngây thơ, thậm chí đến “ma sơ” cũng nghêu ngao khi rảnh việc, lúc buồn buồn:

Vì tôi là linh mục

Không mặc chiếc áo dòng

Nên chi đời đau khổ

Nên trót đời lang thang…

Diễn giải tâm sự buồn của một linh mục đã trót dại yêu một tín đồ, nên cởi bỏ chiếc áo dòng mà đi bụi đời?

Từ đó hễ nghe có cuốn truyện nào viết về Linh mục là vội vã đi mua hay mượn về coi cọp, như: “Bão biển” của Chu Văn, “Người mục tử trong sương mù”… Lúc đầu thì đọc ngấu nghiến vì tò mò, nhưng chỉ đọc năm bảy trang là bản thân làm cách mạng, ngáp dài, ngán tận cổ, nuốt không trôi. Bởi vì ngay từ đầu đã ngửi thấy sặc sụa mùi bôi bác và ý đồ đen tối của tác giả trong luồng. Họ chụp lên đầu những Linh mục tội nghiệp ấy cái mũ “phản động” hay cái mũ “đồi trụy”. Cũng chính vì những toan tính bẩn thỉu và lộ liễu ấy mà nó mau chóng bị bỏ rơi vào quên lãng, thậm chí còn phản tác dụng. Thiên hạ ngày càng thương ông Cha hơn.

Xét về nguyên nhân tu trì thiên hạ thường bảo: Trốn việc quan đi ở nhà Chùa, chán đời hay thất tình đi tu, bởi vì “tu là cõi phúc, tình là dây oan”… Các nhà văn, soạn giả khai thác tận tình chủ đề này như: “Hồn bướm mơ tiên. Hay dàn dựng những vở kịch ăn khách như: “Chuyện tình Lan và Điệp”, “Lá sầu riêng” v.v.…nên nhạc sĩ P. D. có bài thơ:

Ngày em đi lấy chồng

Anh nằm cuộn trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn.

Hay thẫn thờ, lang thang, miệng lẩm nhẩm như kẻ mất hồn:

Ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá

Cuộc tình lớn quá ôi biết nói gì

Cuộc tình quá lớn…

Sau cú sốc quá đau vì cuộc tình quá lớn, anh chàng lặng lẽ khăn gói, âm thầm vào nhà dòng nào đó tu thân cho đỡ lẻ loi. Ơn Chúa tuôn đổ, một thời gian sau, anh chàng được thụ phong Linh mục. Trong ngày lễ mở tay, cô này dắt con mình tới và nói:

– Con ạ, gọi cha đi con!

Não nuột!

Cha chớp chớp đôi mắt “mơ huyền” nhìn về chốn xa xăm… Bây giờ mỗi lần nhắc lại chuyện này, linh mục mỉm cười nói với bạn bè: “Nếu không bị cô nàng đá lên đá xuống chắc bây giờ đã là bố cu Ti cu Tèo… chứ đâu có làm cha “thiên hạ” như các bạn thấy đó. Chúa chọn con như sét chọn cây tầm thường. Quả ý Ngài nhiệm mầu hết xẩy!”.

Bên đạo ta lý do thất tình đi tu chẳng phải là không có, nhưng rất hiếm vì chú nhóc vào chủng viện hay nhà dòng hồi tóc còn để chỏm. Thật khó mà hiểu được vì sao chú lại đòi đi tu? Cũng dễ hiểu thôi! Chỉ vì thằng nhóc thấy được các “Cụ” đi giầy Tây, ăn bánh Tây, ở nhà Tây. Ra ngoài đường được cả thiên hạ khoanh tay cúi đầu chào:

– Con xin phép lạy cha ạ!

Có những bậc cha mẹ muốn con cái đi tu cốt để con được nhàn hạ, làm sán lạn tông môn. Như lời hiền mẫu nọ nói với cha phó kia trong cuộc họp hằng tháng:

– Đi tu như các Cha, các Dì thế mà sướng, chứ đèo bòng ở ngoài như chúng con khổ lắm cha ạ!

Đôi khi ông bà già đẩy con mình đi tu chỉ thầm mong có ngày thiên hạ gọi mình “ông cố, bà cố” cho le lói đời với người ta. Ấy vậy mà khi chú nhóc giở chứng muốn từ giã đời tu, ông “chuẩn cố” mắng như ri: “Thà làm con chó nhà Đức Chúa Trời còn hơn làm vương làm tướng ngoài thế gian”.

Những lý do lấn cấn ban đầu, dần theo năm tháng được mài giũa, đẽo gọt, tinh luyện kết tinh thành lý tưởng phục vụ thiên Chúa và tha nhân.

Trong thánh lễ mở tay của cha mới, các vị giảng thuyết thường hùng hổ đến sùi cả bọt mép đề cao vẻ đẹp cao quí của thiên chức Linh mục. Chẳng mấy ai dám cả gan bàn thẳng vào thập tự giá của chức vị này. Làm cho cha mới chỉ thấy bông hồng phía trước mặt mà quên cảnh giác gai nhọn của nó.

Nhưng… tiệc rượu chóng tàn, ngày vui qua mau, vinh quang thoáng chốc. Cuộc sống đời thường phải đối đầu với chướng ngại với thập giá. Các bậc lão thành thường đề cập đến ảnh hưởng của Linh mục như sau:

Linh mục đạo đức thì giáo đân loàng xoàng

Linh mục loàng xoàng thì giáo dân nguội lạnh

Linh mục nguôi lạnh thì giáo dân xấu xa

Linh mục xấu xa thì giáo dân biến thành quỉ dữ.

Giáo dân luôn bị tụt một bậc so với Linh mục. Cũng dễ hiểu, bởi giáo dân là đệ tử, Linh mục là sư phụ về đàng thiêng liêng. Linh mục là người hướng dẫn. Hướng dẫn sai lầm, lời Chúa dạy như sau: Mù dẫn mù cả hai sẽ rơi xuống hố. Cùng với ý tưởng trên, ta cùng nhau suy nghĩ bài giảng nhân ngày mở tay của cha mới. Đại khái như sau:

Hãy cột một chiếc nút để se kết hai đầu vì Linh mục là trung gian se kết con người với Thiên Chúa.

Hãy xây cầu nối liền hai bờ xa cách vì Linh mục nối liền Đất với Trời. .

Nói cách khác Linh mục là trung gian nối liền giữa Nhân loại và đấng Tối cao. Vì vậy Linh mục một bên phải nắm chặt Thiên Chúa, bên kia nắm chặt bàn tay con người. Đem bàn tay con người đặt vào lòng bàn tay Thiên Chúa, cho tình yêu đơm bông kết trái và ơn tha thứ được tuôn chảy ra. Phải cố gắng giữ vững thế tay trong tay vì đó là điều mọi người mong đợi nơi các Linh mục. Cái thế tay trong tay Linh mục không có con đường khác để chọn bởi lẽ buông một trong hai Linh mục sẽ không chu toàn chức vụ của mình .

Muốn chu toàn bổn phận Linh mục phải gắn bó với Thiên Chúa. Có gắn bó với Thiên Chúa Linh mục mới đem Chúa đến với mọi người. Muốn đem Chúa đến cho mọi người, bản thân linh mục phải có Chúa trước đã: Có Chúa trong tâm hồn và có Chúa ngay trong cuộc đời vì Linh mục không thể cho người khác cái mình không có. Linh mục phải chọn Đức Kitô là điểm khởi đầu và kết thúc của cuộc đời. Trái đất xoay quanh mặt trời như thế nào thì Linh mục cũng xoay quanh Đức Kitô như vậy. Được vậy Linh mục có thể hãnh diện nói lên như thánh Phaolô: “Tôi sống không còn là tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi”.

Gắn bó với Thiên Chúa, đồng thời cũng gắn bó cảm thông với con người  Phải luôn luôn giữ cho được thế tay trong tay, lưng liền lưng, ý liền ý.

Tội lớn nhất của Linh mục không phải trót sa ngã, trót vấp phạm, bởi Thiên Chúa đã không chọn các Thiên thần mà chọn những con người tầm thường, yếu đuối làm Linh mục của Ngài. Tội lớn nhất của Linh mục là bỏ rơi một trong hai bàn tay hoặc thờ ơ với anh em đồng loại, hoặc quây lưng lại chống Thiên Chúa. Lúc này Linh mục chỉ là nhịp cầu đã gãy, nút dây đã đứt. Liên lạc đã bị cắt, giao thông gián đoạn. Kẻ thù reo vui.

Từ đó ta không còn ngạc nhiên khi thấy người ta cố ý bôi nhọ, bêu riếu các Linh mục. Bởi đó là mưu thâm chước độc của “địch”. Tuy nhiên không phải chỉ có “địch” mới bôi nhọ, bêu riếu. Hãy coi chừng! Đôi khi chính con cái ngay trong nhà cũng bạo miệng chỉ trích Linh mục đầy ác ý. Họ hỏi rằng: Linh mục đã làm gì cho tôi?

Nhưng chẳng bao giờ dám quay lại nhìn thẳng vào lương tâm mình và tự hỏi:

– Tôi đã làm gì cho Linh mục?

Hễ thấy Linh mục có chút gì sai lỗi, lập tức xì xầm bàn tán, mím môi thổi phồng bong bóng. Họ đâu ngờ rằng rất nhiều khi chính giáo dân đã làm hư Linh mục. Sau đây chỉ xin trình bày hai trường hợp, hai thái cực nho nhỏ mà giáo dân đã xô Linh mục vào chân tường, tới chỗ bất ổn hay làm hư Linh mục.

Trường hợp 1: Thái độ quá trọng kính, trước mặt tỏ vẻ khúm núm… Coi LM như người thông biết mọi sự và chẳng hề sai lỗi bao giờ. Mới ngày nào còn “mày tao mi tớ” với nhau. Khi đã thụ phong LM, từ cục đất cất lên ông Bụt thì lập tức được gọi là Cha, là Cụ, là Cố… khiến cho thiên hạ, kể cả những người thân yêu nhất cũng phải “Kính nhi viễn chi”.

Trọng kính LM là điều quí. Nhưng cử chỉ khúm núm là điều nguy hiểm vì nó dễ làm cho LM quên đi mình là cục đất, mình chỉ là một dụng cụ tầm thường trong tay Chúa. Đôi khi ảo tưởng mình là ông Bụt thật, là cái rún của vũ trụ, rồi từ đó trở thành quan liêu, độc tài, độc đoán và… “mất dạy”!

Đọc tới đây hẳn có người sẽ thì thầm: thằng nào con nào lếu láo, dám cả gan nói mấy cố mất dạy, thiệt hết thuốc chữa! Xin thưa: Mất dạy ở đây không phải là vô phép hỗn hào… mà đơn giản chỉ là không còn được dạy bảo nữa mà thôi. Hiểu như thế, suy nghĩ thêm chút nữa ta sẽ phần nào nhận ra sự thật.

– Con ơi ! kể từ ngày hôm nay, nếu con không ý tứ thì con sẽ trở nên người mất dạy, bởi vì với thiên chức LM con sẽ không còn ai dạy bảo nữa. Đó là lời tâm tình của bà cố vừa có con đỗ Cụ.

Xuất phát từ quan niệm cho rằng: LM là người thông suốt mọi sự cộng với bối cảnh xã hội, người LM phải kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau. Từ một người chuyên rao giảng lời Chúa, cử hành các bí tích, nay phải đứng ra hòa giải các vụ tranh chấp, kiện tụng. Cố vấn hôn nhân gia đình, kỹ sư kiêm đốc công các công trình xây dựng, quân sư quạt mo về cung cách làm ăn. Ấy là chưa nói LM còn phải đảm nhận những chức vụ phần đời như: Thành viên tổ chức này, tổ chức nọ, đứng đầu hợp tác xã, chủ máy cày máy xay v.v…

Với những công việc như thế, LM sẽ không còn thời gian để tâm tình cầu nguyện, gắn bó với Thiên Chúa nữa. Rốt cuộc trở nên người mất dạy dưới cái nhìn xót xa của Chúa. Tiếp đến do những thành công gặt hái được liên tiếp, và nhất là do những trọng kính thái quá người khác dành cho mình, Lm cứ ngỡ mình là bậc thầy lỗi lạc, trỗi vượt lên trên mọi người, ý kiến của mình luôn luôn đúng, dần dần gạt bỏ mọi ý kiến đóng góp và những đề nghị xây dựng khác với đường lối chủ trương cúa mình. Từ đó dễ rơi vào tình trạng độc tài, độc đoán. Phải chăng Lm đã tự làm cho mình trở nên “mất dạy”?

Trường hợp 2: Thái độ vô ơn và nghiêm khắc, thiếu cảm thông của giáo dân, đôi khi làm cho Lm buồn đau… âm thầm rơi nước mắt. Cách cư xử thông thường của người đắc nhân tâm: Nghiêm khắc với bản thân mà khoan dung với người khác. Thế nhưng, thiên hạ thường hành động ngược lại: Nghiêm khắc với người khác mà khoan dung với chính bản thân mình. Quan niệm này cũng được áp dụng vào mối liên hệ với Lm. Nhân vô thập toàn, đã là con người thì ai cũng có lầm lỗi của mình, kể cả Lm vì Lm cũng mang thân mỏng giòn. Bàn tay còn có ngón ngắn ngón dài, bá nhân bá tánh, chín người mười ý, hay như tục ngữ có câu:

Ở sao cho vừa lòng người. Ở rộng người cười. Ở hẹp người chê.

Cao chê ngỏng, thấp chê lùn. Béo chê béo trục, béo tròn.

Gầy chê xương sống, xương sườn bày ra.

Lm giống như người làm dâu trăm họ, rất khó làm vừa lòng mọi người, nếu cố gắng làm vừa lòng mọi người thì rốt cuộc sẽ chẳng vừa lòng ai. Nói chi, ngay trong gia đình chỉ vỏn vẹn có năm, bảy người cùng chung máu mủ còn chưa vừa lòng nhau, huống chi Lm phải xử sự với hàng trăm hàng ngàn người. Giáo dân thường hay quên mất công ơn Lm đã làm, chỉ nhìn thấy khuyết điểm để lớn tiếng phê bình chỉ trích một cách gắt gao. Kéo nhau lên Tòa Giám mục tố cáo hoặc nộp đơn cho chính quyền kiện tụng linh tinh.

Có những nơi họ đạo nghèo mái tranh vách đất, hoặc còn hoang vu chưa có nhà thờ, Lm về bỏ công sức, huy động tiền bạc, xây dựng: nhà thờ, nhà xứ, trường học v.v… Rồi một ngày Lm già, sức yếu cùng với một vài lẩm cẩm của tuổi già thì người ta bàn tán xì xào, viết thư nặc danh ném vào phòng tố cáo này nọ, chỉ vì sự già nua của Lm.

Tòa Giám mục biết được liền đổi cha đi chỗ khác. Nhận được tin họ mừng ra mặt. Mặt khác họ cử đại diện lên gặp Giám mục để xin Lm ở lại với bộ mặt đầy thểu não. Thế nhưng khi được hỏi:

– Bộ các ông không muốn cha đi hay sao? Họ trả lời:

Cha đi mình chẳng níu kéo, coi sao được. Đời mà! Lời bất tòng tâm!

“Bạc như dân, bất nhân như lính”. Bao lâu Lm còn khỏe mạnh phục vụ cho giáo xứ thì là cha đáng mến đáng trọng. Một khi đau yếu già nua, là gánh nặng, là cái gai cần nhổ đi. Nói như vậy có quá đáng không? Trên đời chuyện gì cũng có, chứng kiến thực tế có những chuyện khiến ta phải đau lòng.

Một cha sở chẳng may bị ung thư qua đời. Thuốc thang mai táng tốn khá nhiều. Tiền túi bỏ ra hết, rốt cùng tồn đọng một món nợ. Sau khi “mồ yên mả lặng”, người ta cãi nhau chí chóe về món nợ này. Giáo xứ, dòng họ không ai nhận trả. Cuối cùng Tòa GM đành ép lòng ép xác nhận vậy!

Thấm thía nhất , thâm sâu tận cõi lòng có lẽ là Nỗi cô đơn của đời Lm.

Một chiều Chúa nhựt đẹp trời. Mọi người ra về. Cửa nhà thờ khép lại. Một mình trong nhà xứ rộng mênh mông. Thưa chuyện với Chúa thì hình như Chúa cũng xa vời. Còn một mình Tôi nhìn tôi trơ vơ trên vách. Nỗi cô đơn sẽ đậm đặc hơn khi Lm đau yếu. Có một cha đã than thở như sau:

Có một ngày mình đau, nhờ chú nhỏ giúp lễ tìm người cạo gió. Nhờ bà này cô kia thì không ổn. Thiên hạ không cho phép, bởi đó là chước ma quỉ. Các bà các cô, hiền thì hiền đôi khi cũng chẳng thua sư tử Hà Đông. Máy móc điện tử hiện đại nhất chưa chắc đã nhanh hơn chiến thuật rỉ tai của đoàn nữ binh hùng hổ này. Đàn ông ai cũng bận, sau cùng tìm được một “anh ba xị đế” về. Khi cạo gió thân thể đang nóng bừng vì được thoa dầu, bỗng dưng thấy lạnh toát ở xương sống. Quay lại nhìn: hóa ra nước mũi của ông vô tư rơi thánh thót trên lưng mình. Dân ghiền thường bảo: một xị khai môn trí hoá, hai xị giải phá cơn sầu, ba xị mũi chảy đầy râu, bốn xị… Lần khác ông đổ dầu hôi vào ống giác, châm lửa rồi ụp lên lưng, dầu loan ra, lửa bùng cháy bỏng cả lưng. Nhiều khi đau ốm đành âm thầm chịu đựng hoặc nhìn lên trần nhà xem hai con thằn lằn đuổi nhau. Không người thân, chẳng ai thăm hỏi, nằm một mình co rút lại như  “Con chim ẩn mình chờ chết”!

Sau cùng, nỗi cô đơn sẽ đặc quánh khi Lm về già. Nhà hưu nơi có nơi không. Về ở với con cháu, ít ra phải có tí tiền thì họ mới hăm hở nhiệt tình. Khi tiền đã hết, tình cũng bay luôn. Bấy giờ sự chăm sóc trở thành gánh nặng.

Chuyện còn dài nhưng xin “xì tốp” nơi đây bằng vài mẩu chuyện ngắn để ta cho bộ não làm việc một chút cho bỏ tật lười:

1- Đức Giáo Hoàng Piô X, ngay sau khi được tấn phong Giám mục Montava liền khoe chiếc nhẫn GM của mình với mẹ: Mẹ xem chiếc nhẫn có đẹp không?

Bà mẹ bèn giơ chiếc nhẫn cưới trên tay và bảo: Nếu không có chiếc này thì làm gì có chiếc kia.

2- Giáo xứ nọ, giáo dân hay đâm đơn tố cáo cha lên TGM. Đức Cha quyết định đổi ngài đi xứ khác, thay cha mới về. Ngày bàn giao, chính GM cử hành thánh lễ nghinh tân tống cựu. Ngài sắp đặt mọi thứ, không cho hai cha và giáo dân biết. Đến giờ cử hành thánh lễ: cửa mở ra, mọi người bàn tán xì xèo… Thánh lễ xong, trước khi ban phép lành, GM chỉ tay xuống cái quan tài đặt giữa nhà thờ:

– Đây là quan tài của một người mà ai cũng quen biết. Mọi người hãy theo thứ tự tới từ giã lần cuối.

Ai ai cũng ngỡ ngàng… mở to mắt nhìn vào, không thấy xác ai, chỉ thấy một tấm gương to. Từng người đến viếng ai ai cũng thấy chính mình bên trong quan tài.

Khi mọi người đã về chỗ của mình, GM nói lớn: Con người ai cũng phải nằm trong chốn ấy. Sống chung, hòa thuận vui vẻ rồi chết. Tố cáo, kiện tụng, gây chia rẽ bất hòa rồi cũng chết. Ai muốn theo con đường nào tự mình chọn lấy!

Nhìn về phía hàng ghế giáo dân nhấp nhô những bóng khăn chặm nước mắt…

Đời sống LM không phải dễ đi. LM phải đồng hành, sẵn sàng đưa vai vào thập giá cùng vác, chia sớt gánh nặng với Đức Giêsu. Hãy tìm lại những dấu chân, những giọt mồ hôi khi Ngài đi rao giảng. Hãy trả lại cho Ngài những giọt máu hồng tươi khi ta tiếp tay đẩy lưỡi gươm đâm sâu vào cạnh sườn Ngài. Nếu tu là cõi phúc tình [Phan Sinh] cũng là cõi phúc vậy. Chiếc nhẫn trên tay từng người Phan Sinh cũng là chiếc nhẫn tu “LM”. Ở đấng bậc nào cũng tốt, cũng là cõi phúc, miễn ta đi đúng con đường Chúa đã dạy.

Huynh Nguyen


Giáo lý mới của GP Hưng Hóa: Ai đọc Nữ Vương Công Lý là mắc tội trọng?

Tháng Bảy 14, 2010

Sau đoạn video về cuộc rước “đa thần giáo” tại Giáo xứ Dị Nậu – Quê hương của hai Đức Cha GP Hưng Hóa – được chúng tôi đưa lên mạng và nhất là sau bài trả lời phỏng vấn nhằm che lấp việc làm trái giáo luật thể hiện đường hướng “Phúc âm, dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” đang diễn ra tại giáo phận Hưng Hóa mà chúng tôi đã có ý kiến, GP Hưng Hóa đang thực hiện một loạt hành động lại chẳng giống ai nhằm bịt tai, bịt mắt giáo dân bằng cách bịa ra Giáo lý mới.

Một mặt, Đức cha Anton Vũ Huy Chương dặn dò ban hành giáo Bến Thôn, xứ Dị Nậu các nội dung và cách trả lời phỏng vấn như thế nào cho phù hợp với những ý Đức Cha đã nói, bất chấp sự thật đã diễn ra tại đó như thế nào vì “Thế nào chúng nó cũng có phỏng vấn” – Lời Đức Cha dặn dò.

Thực tế đã kiểm chứng thì giáo dân Dị Nậu hết sức bất bình về cách tổ chức cuộc rước đã diễn ra tại đây. Giáo dân Dị Nậu cho biết: “Giáo xứ đã may cờ Hội Thánh để tham dự cuộc rước, nhưng Đức Cha đã ra lệnh thu toàn bộ, những ai đã trót treo lên phải gỡ xuống. Chỉ duy nhất có một giáo dân có một lá cờ vàng trắng bằng hai bàn tay đã treo lên hôm đó nhưng không chịu bỏ xuống và khẳng định ai vào tháo lá cờ sẽ phải nhừ đòn nên còn tồn tại mà thôi”.

Thậm chí, ngày Chủ nhật lễ thường niên vừa qua, Ban hành giáo Dị Nậu theo lệnh ai đó đã định treo lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh tháp nhà thờ, giáo dân quyết liệt phản đối nên đành thôi.

Mặt khác, lo sợ những sự thật đến với giáo dân Hưng Hóa, nhằm hù dọa giáo dân, Đức Cha Anton Vũ Huy Chương đã cho các linh mục tay chân khủng bố giáo dân bằng mọi cách kết tội Nữ Vương Công Lý và kết hợp với công an, chính quyền để dẹp những ai đọc hoặc lưu trữ những bài viết này.

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP quản xứ An Thịnh

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP quản xứ An Thịnh(Đứng giữa)

Ngày 11/7/2010, từ sáng sớm, linh mục  quả xứ An Thịnh, hạt Yên Bái, GP Hưng Hóa đã tiếp riêng công an Huyện Văn Yên không có mặt Hội đồng giáo xứ như thường lệ. Sau Thánh lễ chủ nhật cha Phêrô Nguyễn Văn Giang OP – Linhmục Dòng Đa Mnh, quản xứ An Thịnh, người vừa được ĐC Chương bổ nhiệm thay Cha FX. Nguyễn Văn Thái, một người đã dũng cảm hi sinh cho giáo dân và được giáo dân yêu mến – tuyên bố trước cộng đoàn dân Chúa rằng: “Trang Nữ Vương Công Lý là trang của ma quỷ, satan, gây chia rẽ… do vậy không được ai đọc trang đó, ai đọc là mắc tội trọng, phải ngừng rước lễ và đi xưng tội”.

Một linh mục khác là linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP -cũng là Linh mục Dòng Đa Minh ở Giáo xứ Yên Hơp cũng tuyên bố: “Ai đọc hoặc cất giữ những bài viết của Nữ Vương Công Lý thì tôi sẽ xử ngay, kể cả linh mục”. (Linh mục ở đây muốn nói đến linh mục Fx. Nguyễn Văn Thái, nguyên quản Hạt mới bị Đức Cha chuyển về quản nhiệm nhà thờ họ dưới sự quản lý của vị linh mục quản xứ này).

Chúng tôi chưa rõ đây là Hiến chương của Dòng Đa Minh quy định như thế hay “Giáo lý” mới sáng tác của GP Hưng Hoá? Nhưng sặc mùi Cộng sản.

Câu tuyên bố này đã làm giáo dân bất bình và nảy ra tranh luận. Giáo dân nói: “Chúng tôi không biết được ai là ma quỷ, nhưng có Nữ Vương Công Lý, chúng tôi mới được biết về các sự kiện đã xảy ra trong giáo hội như Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Loan Lý… để cầu nguyện và hiệp thông với anh em tín hữu. Trong khi chúng tôi không hề được Đức Cha và các linh mục thông báo khi nào về những chuyện anh em bị bách hại khắp nơi, Ngay cả trang của Hội Đồng giám mục cũng không có thông tin nào vậy làm sao để có Giáo hội hiệp thông?”.

Không chỉ có thế, ngay hôm sau, công an huyện đã và lục soát nhà giáo dân và thu giữ tất cả những bài viết mà giáo dân đã in ra và chuyền tay nhau đọc.

Một không khí khủng bố đang bao trùm xứ đạo anh dũng này, nơi đã tỏ sự hiệp thông mạnh mẽ với các nơi bị bách hại như Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm dưới thời cha Fx. Nguyễn Văn Thái chưa bị chuyển đi theo yêu cầu của chính quyền. (Vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập trong dịp khác).

Linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP

Linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP và ĐC Vũ Huy Chương

Chúng tôi lên án sự hợp tác với công an, chính quyền trong mọi hành động xâm phạm quyền tự do của giáo dân đang xảy ra tại Hưng Hóa hiện nay về tự do ngôn luận và xâm phạm chỗ ở.

Chúng tôi cũng cực lực lên án việc lợi dụng sự sùng kính của giáo dân để bịa đặt thêm “giáo lý mới” nhằm hù dọa giáo dân trái pháp luật và giáo luật ở đây.

Giáo dân Hưng Hóa hoàn toàn có quyền được thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận mà giáo quyền và chính quyền không thể cùng toa rập để tước đoạt của họ. Những sự vi phạm bằng hình thức kết hợp chính quyền với giáo quyền này là có hệ thống ở GP này và không thể chấp nhận được.

Thay cho việc nhìn nhận lại sự việc để phân biệt đúng, sai sau sự kiện được báo chí nêu lên, Đức GM Anton Vũ Huy Chương ngày càng lún sâu vào sai lầm này đến sai lầm khác.

Thời gian qua, có nhiều sự kiện, nhiều vấn đề “lạc giáo” và rất nhiều vấn đề không xứng đáng với người tu hành tại GP này mà chúng tôi đang cân nhắc trong việc thông tin đến quý vị bạn đọc. Bởi nếu tất cả được bạch hóa, thì sự ảnh hưởng đến GH không chỉ trong một GP Hưng Hóa mà sẽ ảnh hưởng đến toàn thế GHCGVN.

Chúng tôi vì thế đã đánh động một vài vấn đề nhỏ như những tín hiệu báo cho Đức Cha Anton Vũ Huy Chương bình tĩnh và nhìn nhận vấn đề theo đúng lương tâm người công giáo mà theo tiếng gọi sám hối chứ chưa nói đến lương tâm một linh mục, giám mục.

Nhưng thay vì nhận được sự tiếp thu cách thẳng thắn như tư cách cần có của một vị Giám mục, Đức Cha Anton Vũ Huy Chương đã hành động ngược lại.

Nếu những sự việc này tiếp diễn, chúng tôi buộc phải để công luận biết tất cả những sự thật đã và đang xảy ra tại đây.

Khi đó, chúng tôi không còn có trách nhiệm ràng buộc với những vương vấn lương tâm tín hữu của mình. Bởi dù có đau đớn và mất mát thì đó vẫn là sự thật.

Và chỉ có “Sự thật mới giải thoát chúng ta”

Chúng tôi xin khẳng định lại lập trường của chúng tôi là luôn đứng  trên nền Sự thật, Công lý và bênh vực những người đau khổ, bất kể họ là ai. Nữ Vương Công Lý là của tất cả những người yêu mến Giáo hội hiệp nhất, tông truyền, thánh thiện và là của tất cả mọi người yêu mến Công lý, Sự thật, Hòa Bình.

13/7/2010

Nữ Vương Công Lý


Bổ sung thông tin:

Sau khi chúng tôi đưa thông tin này lên mạng, giáo dân đã thông tin cho biết thêm chi tiết như sau:

Khi cuộc rước ngày 8/5/2010 bắt đầu, giáo dân Dị Nậu đã bỏ về một số vì có một đội nhạc đã cử bài nhạc mở đầu: “Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng” được giới thiệu là do đoàn bên lương đến cùng tham gia(?)

Toàn bộ cuộc rước đã được quay thành 3 đĩa DVD, bản nhạc “Như có bác hồ ở  một trong 3 đĩa đó. Sau đó một người đã lựa chọn một số đoạn đặc sắc đưa thành 1 DVD.

14/7/2010

Nữ Vương Công Lý


Bạn đọc viết: Ngẫu tượng Bò Vàng

Tháng Bảy 10, 2010

Tôi thường có thú vui hay đi tham quan các ngôi chùa để chiêm ngắm sự cổ kính, nét nghệ thuật, văn hóa và dấu ấn lịch sử của dân tộc ẩn khuất/khắc tạc đâu đó trong mỗi ngôi chùa, đặc biệt là các ngôi chùa cổ kính của Việt Nam. Thời gian gần đây, tôi còn chú ý thấy rằng trong các ngôi chùa ngoài các tượng như Đức Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Phật A Di Đà, Quan Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Đức Phật Di Lặc, Tiêu Diện Đại sĩ và Già lam Hộ pháp v.v. mà còn có cả tượng/ảnh của Hồ Chí Minh.

Dù không phải là người theo Phật giáo, nhưng tôi cảm thấy rất buồn và bất bình về việc xuất hiện tượng Hồ Chí Minh ở trong các ngôi chùa này, vì Hồ Chí Minh không những là kẻ vô thần, coi tôn giáo là thuốc phiện cần phải loại bỏ, mà còn là kẻ sát nhân, tàn ác, gây bao đau khổ cho dân tộc v.v. (điều này đã được LM Nguyễn Hữu Lễ trình bày có hệ thống trong cuốn phim tư liệu: Sự Thật Về Hồ Chí Minh); việc đặt để hình tượng Hồ Chí Minh trong chùa còn là sự hạ thấp các Đức Phật, làm bẩn nơi thờ tự, gây ra tình trạng hổ lốn trong Đạo Phật.

Tuy nhiên, khác hẳn với các chùa chiền, tôi không hề thấy có ảnh tượng Hồ Chí Minh được trưng bày trong các nhà thờ hoặc thậm chí ở nơi khuôn viên thánh đường của Công giáo. Điều này có thể hiểu được, vì người Công giáo có giáo lý rõ ràng, mà trong đó việc thờ kính các ngẫu tượng là một điều tối kỵ, là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa một cách nặng nề, vi phạm Điều răn đầu tiên trong mười Điều răn (Xh 20,2-5), và người tín hữu Công giáo nào cũng đều ý thức được điều đó.

Nhưng khi xem đoạn Video về cuộc rước Tháng hoa Đức Mẹ 2010 vừa qua tại Giáo xứ Dị Nậu, huyện Thạch Thất – Hà Nội, quê hương của Đức Giám mục An-tôn Vũ Huy Chương được đăng tải ngày 26/06/2010 trên trang website nuvuongcongly.net, tôi thực sự sửng sốt và ghê tởm.

Hình ảnh ngẫu tượng Hồ Chí Minh (tượng bán thân, màu vàng) được đặt chung với tượng Thánh giá và tượng Đức Maria, làm tôi nhớ đến hình ảnh con bò vàng trong sách Cựu ước (Xh 32, 1-6).

Thiên Chúa yêu thương dân Ít-ra-en, cứu họ khỏi ách nô lệ của Ai-cập để dẫn đưa họ vào đất hứa chảy sữa và mật, cho họ đi qua Biển đỏ khô cạn; khi dân dói, Người cho man-na và chim cút từ trời xuống làm của ăn; khi dân khát, Người cho tảng đá vọt ra mạch nước cho Dân của Người uống v.v.

Thế mà, đang khi Mô-sê gặp Chúa ở trên đỉnh núi Xi-nai để đón nhận Lề Luật được ghi bởi chính tay Thiên Chúa, thì dân chúng ở dưới chân núi đã đúc bò vàng và quỳ lạy thờ nó, họ nói: “Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập.

Cũng vậy, Thiên Chúa đã thương yêu Giáo Hội Việt Nam, đã cho hạt giống Phúc Âm nảy nở sinh hoa kết trái, có nhiều chứng nhân anh hùng, trong số đó đã có 117 Đấng đã được Hội Thánh tôn phong lên bậc Hiển Thánh và 01 Chân Phúc. Đặc biệt trong Năm Thánh 2010 này, toàn thể Giáo Hội Việt Nam đang được hưởng bao nhiêu hồng ân lớn lao từ Thiên Chúa và hoa quả trổ sinh từ máu các Thánh Tử Đạo: kỷ niệm 350 năm đón nhận hạt giống Phúc Âm và 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm.

Thế nhưng, khi nhìn vào Giáo Hội Việt Nam trong thời gian này, thay vì thấy một Giáo Hội hiệp nhất, yêu thương, thánh thiện, Giáo Hội của người nghèo, thì chúng ta lại thấy một Giáo Hội đầy rạn nứt, bị khuynh loát, bị quốc doanh hóa. Các vị chủ chăn làm ngơ trước tiếng thét gào của người nghèo, người đòi nhân phẩm làm người, người bị bỏ rơi bên lề xã hội, làm ngơ trước sự mục rỗng, thốt nát, băng hoại của xã hội. Con chiên hoang mang, mất phương hướng. Và ghê tởm nhất là thay vì phải kính thờ, yêu mến và tạ ơn Thiên Chúa vì những hồng ân Người đã thương ban cho Giáo Hội Việt Nam trong suốt 350 năm qua, thì người ta lại đi thờ ngẫu tượng Hồ Chí Minh một cách công khai, giống như dân Ít-ra-en thờ con bò vàng vậy.

Trước đây dân Ít-ra-en phục lạy trước bàn thờ con bò vàng nói rằng: “Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập.” Thì nay với cách rước thờ ngẫu tượng vàng Hồ Chí Minh, người ta có lẽ cũng đã nói rằng: Hỡi các tín hữu đồng chí, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi tiến lên thiên đường XHCN từ Giáo Hội Việt Nam.

Việc thờ kính Hồ Chí Minh, đặt ngẫu tượng Hồ Chí Minh ngang hàng với Thiên Chúa, không những là một sự xúc phạm nghiêm trọng và chối bỏ Thiên Chúa một cách công khai, mà còn đánh mất phẩm giá làm người (Bài giáo lý cầu nguyện bằng Thánh Vịnh 116 của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày Thứ Tư 01/09/2004 về Thánh Vịnh 115 cho Kinh Tối Chúa Nhật, Tuần Thứ Hai).

Chính các vị chủ chăn của Giáo Hội Việt Nam phải chịu trách nhiệm đầu tiên về tình trạng PHẢN BỘI và CHỐI BỎ THIÊN CHÚA này.

Xưa kia, chính A-ha-ron, là người đã được xức dầu tấn phong làm tư tế, đã thu gom các đồ trang sức của con cái Ít-ra-en đúc con bò vàng và lập bàn thờ thờ nó. Nếu A-ha-ron không chấp nhận việc đúc bò vàng, không lập bàn thờ thờ bò vàng, mà thay vào đó biết hướng dẫn dân chúng hướng về Thiên Chúa, thì làm gì có chuyện con bò vàng, làm gì có chuyện bội tín của Dân Chúa.

Hôm nay, nếu các vị chủ chăn của Giáo Hội không cho phép việc thờ kính Hồ Chí Minh, không chấp nhận quỳ gối trước quỷ quyền vô thần, mà sống và thực hiện đúng sứ vụ MỤC TỬ của mình mà Thiên Chúa và Hội Thánh đã trao ban cho khi lãnh nhận tác vụ Linh Mục/Giám Mục, thì sẽ không có tình trạng thờ bái ngẫu tượng Hồ Chí Minh như ở Dị Nậu, GP Hưng Hóa hiện nay.

Xưa kia Mô-sê đã cầu xin Thiên Chúa nguôi cơn giận, đoái thương dân Ít-ra-en và không trừng phạt họ. Thiên Chúa đã chấp nhận lời cầu xin của Mô-sê. Hôm nay đây, ai sẽ là Mô-sê để cầu xin Thiên Chúa nguôi cơn giận? Hội đồng Giám mục ư? Các ngài có “miệng” đâu mà nài xin Thiên Chúa được vì “chưa bao giờ nghe tiếng nói chính thức của giáo hội Công giáo lên tiếng cho những người nghèo, người bị giam cầm, bắt bớ, đánh đập, thậm chí là giết chết ngay trong những giáo dân, linh mục của mình chưa nói đến toàn xã hội” (Nhìn sang Giáo hội Cuba thấy khác gì Giáo hội Việt Nam? – nuvuongcongly.net 08/07/2010). Tòa Thánh ư? “Vatican thì quá xa, lại xem ra không hiểu rõ tình hình Việt Nam, và được báo cáo theo một định hướng có chủ trương” (Người nghèo và số sót – LM An-rê Đỗ Xuân Quế), nên Tòa Thánh khó có thể làm trung gian cầu xin Thiên Chúa nguôi giận được. Đức nguyên TGM Hà Nội Ngô Quang Kiệt? Vâng, Ngài có thể làm Mô-sê đứng ra xin Thiên Chúa bớt cơn giận. Nhưng đáng tiếc, Mô-sê Ngô Quang Kiệt lại bị thế lực “bò vàng” và tay sai của chúng “bứng” ra khỏi đoàn chiên rồi, đến bây giờ bặt âm vô tín!

Như vậy, xem ra chẳng có ai có thể đứng ra làm Mô-sê cầu xin Thiên Chúa để Người bớt cơn giận được. Phải chăng không phải ai khác cầu thay cho chúng ta, mà chính toàn thể Giáo Hội Việt Nam phải cầu xin, sám hối. Từng người, từ Hồng y, Giám mục, Linh mục đến Giáo dân phải trực tiếp đối diện với Thiên Chúa. Giáo Hội Việt Nam phải tự đập nát con “bò vàng” này ra mà uống như dân Do-thái xưa đã làm và trở về với Thiên Chúa. Như vậy, nhờ nhớ lại việc tổ tiên của chúng ta đã anh dũng đổ máu đào vì trung tín với Thiên Chúa, cùng với sự sám hối thành thật của chúng ta, hy vọng rằng Thiên Chúa từ bi, nhân hậu và hay thương xót sẽ nguôi cơn giận mà không nổi cơn thịnh nộ giáng phạt con cái của Người.

Nếu không “cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây rồi” (Lc 3,9)

Phùng Quang