Thư gửi bạn đọc: Hướng đi nào cho GH Công giáo VN và người yêu mến Giáo hội của Sự thật, Công lý phải làm gì?

Tháng Mười 3, 2010

Thưa quý vị bạn đọc

Ngày mai (4/10/2010) Hội Đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) sẽ bắt đầu kỳ họp thứ 2 năm 2010 tại Trung tâm Mục vụ TGP Sài Gòn.

Đây là một kỳ họp khá đặc biệt, nó sẽ diễn ra không phải trong không khí êm ả của những kỳ họp trước đây của HĐGMVN. Kỳ họp này diễn ra trong bối cảnh đất nước và GHVN đang trải qua những cơn chuyển mình khác thường.

Tại cuộc họp này, theo đúng lệ thường, sẽ kiểm điểm lại tình hình GHCGVN thời gian qua, bầu lại cơ quan lãnh đạo của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, định hướng cho GHCGVN bằng đường hướng của HĐGMVN trong giai đoạn tới.

Những vành khăn tang trắng để tang Thánh giá, cũng là để tang uy tín của HĐGMVN trong nhiệm kỳ vừa qua?

Thời gian qua, nhiều sự việc đã diễn ra trực tiếp với GHCGVN, tại đó, nhiều vấn đề được đặt ra rất gay gắt, rất cụ thể và đòi hỏi sự đáp ứng nhanh chóng của HĐGMVN. Tuy nhiên, qua những sự việc đã xảy ra và những phản ứng của HĐGMVN, người ta thấy rất rõ những sự rạn nứt, những phân hóa, những vấn đề tồn tại trong hàng ngũ GMVN đã làm nản lòng các tín hữu và những người yêu mến GHCGVN và đất nước Việt Nam.

Thực tế mà nói, những cách hành động, đường hướng của GHCGVN thông qua HĐGMVN trong nhiệm kỳ vừa qua đã dẫn đến những rạn nứt, những khó hiểu, những ly tán trong lòng GHCGVN. Nhiều phản ứng với từng hành động cụ thể, với đường lối của từng GM, từng nhóm và ngay cả HĐGMVN. Đó là một nhiệm kỳ mà những người yêu mến GHCG dù không muốn cũng phải thừa nhận là sự thất bại đau đớn của HĐGMVN trong nhiệm vụ dẫn dắt đàn chiên Việt.

Tất cả những tiếng nói của cộng đồng tín hữu Việt Nam có tác dụng nào với HĐGMVN hay không? Những tác dụng đó như thế nào? Liệu “Dàn đồng ca áo tím” với tinh thần khiếp nhược trước cái ác, sự dối trá, thỏa hiệp với sự dữ trong chiêu bài “Đối thoại” có tự tung tự tác và thao túng, lũng đoạn HĐGMVN hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào hàng ngũ các GM Việt Nam, các tu sĩ, linh mục, giáo dân… con cháu trung thành của 130.000 bậc tiền nhân tử đạo Việt Nam.

Giáo hội Công giáo Việt Nam với gần 500 năm được gieo vãi hạt giống Tin mừng, 350 năm thành lập hai Giáo phận tiên khởi và 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam là bề dày không dễ ngày một ngày hai bị quốc doanh hóa một cách nhục nhã và đau đớn như hiện nay một số người đang muốn hướng đến.

Những điều giáo dân, cộng đồng tín hữu và những người thao thức với GHCGVN đang trăn trở có được kỳ họp của HĐGMVN này đáp ứng hay không? Chúng ta còn phải chờ trong vòng tuần này sau khi kỳ họp kết thúc.

Đưa tượng Hồ Chí Minh đặt trước tượng Đức Mẹ - tà đạo hay dị giáo?

Một số vấn đề đó đã được Nữ Vương Công Lý bạch hóa trước cộng đồng dân Chúa.

Nhiều tiếng nói phản biện được cất lên, nhiều thư ngỏ, nhiều tâm thư đã được gửi đến HĐGMVN đến nay tưởng như đã nói lên được nỗi lòng của giáo dân Việt Nam để các vị chức cao vọng trọng hiểu được tâm tư của họ.

Quan trong hơn hết, các vị sẽ hiểu rõ hơn điều này: Giáo dân Việt Nam đã trưởng thành, đã có nhận thức độc lập trong việc tin yêu Thiên Chúa và nhìn nhận đường lối của Hội thánh, không còn là một thời kỳ dài với não trạng “Giáo sĩ trị” mà cố Giáo Hoàng Gioan Phalo II đã kịch liệt phản đối từ sinh thời.

Thậm chí, trước “Sự kiện Ngô Quang Kiệt” Nữ Vương Công Lý đã nhanh chóng lập Thư Thỉnh nguyện gửi tới Đức Giáo Hoàng Benedict XVI và các Bộ ở Tòa Thánh Vatican. Bản Thỉnh nguyện thư đã được sự hưởng ứng tích cực, nhiệt tình của đông đảo tín hữu, linh mục, tu sĩ… và nhiều người trong cũng như ngoài cộng đồng dân Chúa khắp nơi trên thế giới.

Hồi đáp của Thư ký Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI về Thư thỉnh nguyện

Để làm được những điều đó, Nữ Vương Công Lý hết sức cảm ơn sự nhiệt tình tham gia của mọi người, cùng cất cao tiếng nói cho Sự thật, Công Lý được tỏ hiện với tấm lòng thiết tha yêu mến Giáo hội Công giáo Việt Nam tông truyền, thánh thiện, hiệp nhất… và với đất nước Việt Nam đang lầm than dưới gót sắt của chế độ tàn bạo.

Thưa quý vị bạn đọc,

Nhiều tiếng nói của độc giả, của những tâm hồn thao thức với Giáo hội và đất nước thời gian qua đã gửi đến Nữ Vương Công Lý đòi hỏi phải có một hướng đi, một hành động cụ thể để không chấp nhận sự “quốc doanh hóa” Giáo hội CGVN theo đường lối “Phúc âm, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” như mô hình Trung Quốc vẫn hiện diện.

Tuy nhiên Nữ Vương Công Lý xác định rằng, đó là những nhiệm vụ và công việc lớn lao của tất cả mọi người, mọi các nhân, tổ chức trong  và ngoài Giáo hội yêu mến Công lý và sự thật, trong và ngoài đất nước yêu mến quê hương, xứ sở và dân tộc. Khả năng của Nữ Vương Công Lý cũng chỉ có hạn như một “tiếng kêu giữa sa mạc” mà thôi nếu không được sự ủng hộ nhiệt tình của mọi con tim của độc giả.

Trong điều kiện sau kỳ họp HĐGMVN kỳ này, nếu những tiếng nói của cộng đồng dân Chúa không thể lọt tai HĐGMVN và HĐGMVN không đáp ứng những tâm tư đó, bỏ ngoài tai mọi tiếng kêu than để dẫn GHCGVN đi theo đường hướng thỏa hiệp và chấp nhận sự ác, sự dối trá, sự dữ… đi rời xa con đường của Hội thánh là bênh vực những người đau khổ, đồng hành cùng Dân tộc khổ đau này đưới sự áp bức của chế độ độc tài Cộng sản thì mỗi trái tim, mỗi con người đều phải cất tiếng nói của mình.

Hội đồng Giám mục VN chào Thủ tướng (hay xin chỉ thị) sau kỳ họp HĐGMVN?

Khi đó, tất cả chúng ta đều phải hành động.

Cụ thể: Nữ Vương Công Lý sẽ phát động một cuộc xin chữ ký Thư Thỉnh nguyện gửi Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI và các Thánh bộ được phát động rộng rãi với thời gian 1 tháng để trình bày ý nguyện, tâm tư của Giáo dân Việt Nam và đó cũng là tiếng kêu của mọi người tới Vatican trước tình hình hiện trang của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, nhất là trước cái gọi là “Đại Hội Dân Chúa” 24/11/2010.

Nếu những tiếng nói của cộng đồng dân Chúa không thể lọt tai HĐGMVN và HĐGMVN không đáp ứng… để dẫn GHCGVN đi theo đường hướng thỏa hiệp và chấp nhận sự ác, sự dối trá, sự dữ… Khi đó, tất cả chúng ta đều phải hành động.

Nếu buộc phải làm điều đó, BBT Nữ Vương Công Lý xin tất cả mọi người, mọi giáo họ, giáo xứ, hội đoàn nhiệt tình tham gia bằng chính trái tim yêu mến Giáo hội, yêu mến Sự thật, Công Lý của mình để công việc chung có kết quả tốt nhất.

Xin quý vị hết sức bình tĩnh, góp ý cho Nữ Vương Công Lý và cùng tham gia với chúng tôi bằng một tinh thần yêu mến Giáo Hội, Đất nước Việt Nam đang bị đe dọa bởi họa ngoại xâm bành trướng..

Tất cả mọi góp ý dù theo chiều hướng nào, BBT Nữ Vương Công Lý cũng xin cảm ơn quý vị. Tuy nhiên, xin được nhận những ý kiến, những góp ý có tinh thần xây dựng với ngôn ngữ trình bày hòa nhã, thể hiện văn hóa ứng xử tốt đẹp và tinh thần người Kito hữu.

Mọi ý kiến xin gửi về hộp thư nuvuongcongly@gmail.com

Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã cùng đồng hành với Nữ Vương Công Lý thời gian qua và xin được tiếp bước trong thời gian tới.

Ngày 3/10/2010

Ban Biên tập Nữ Vương Công Lý


Thư ngỏ gửi tới toàn thể thành viên nhóm Hai Mươi

Tháng Chín 23, 2010

Vì thời gian trôi nhanh, vì tuổi tác mỏi mòn, tôi cũng không nhớ cơ duyên nào may mắn được có tên trong Nhóm để được chia sẻ những ưu tư, những hy vọng và thao thức theo nhịp chuyển động của Giáo Hội và Quê Hương trong thập niên gần đây. Dù sao đấy cũng là một Hồng Ân lớn, mà qua anh em, Thiên Chúa đã ban tặng cho cá nhân tôi.

Cảm đội ơn Chúa và cám ơn anh em.

Trong con số 20, tôi cũng chỉ được hân hạnh quen thân khoảng mươi người như các anh Đỗ Mạnh Tri (Pháp), Trần Ngọc Báu (Thụy Sĩ), Bửu Sao (ở Mỹ nhưng hiện chọn đời sống tu trì ở Pháp), Trần Duy Nhiên (đã được Chúa gọi về ở VN), Nguyễn Chính Kết, Đỗ Hữu Nghiêm, Nguyễn Đức Tuyên, Nguyễn Tiến Cảnh (HK), cô chú Nguyễn Trường Khoan & Loan, và linh mục “bần đạo” Phaolô Nguyễn Thái Hợp (xin lỗi Đức Cha Hợp, vì những hình ảnh thật đẹp về cha thời gian đầu được gặp gỡ, trao đổi, tâm tình trong những dịp cha đến với anh em trong Nhóm Gioan Tiền Hô ở Mỹ còn khắc họa quá sâu trong tâm tình, ký ức tôi, nên tôi vẫn muốn dùng lại danh xưng người mục tử luôn khiêm tốn nhận mình là “người hành đạo thanh bần, ngheo khó” kiểu như các linh mục Dòng Thánh Phanxicô nhận mình là “Dòng anh em hèn mọn” Đức Giáo Hoàng coi ngài là “đầy tớ của những đầy tớ”, và bên ngoài Giáo Hội Công Giáo chúng ta, các chức sắc Phật Giáo thường gọi mình là “khất sĩ, tì kheo”).

Lý do chính và cũng rất thời sự thúc đẩy tôi viết lá thư ngỏ này để gửi tới anh em trong nhóm không gì khác hơn là những gì đã bộc lộ chung quanh buổi sinh hoạt có tên là “Tọa Đàm nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của cố TGM Nguyễn Văn Bình” trong hai hôm 27 và 28-8-2010, nhằm vẽ lại “Chân Dung của một Mục Tử” không ngoài mục tiêu tạo mẫu cho những ứng dụng hôm nay và mai sau của các Đấng Bậc Làm Thày trong Hội Thánh VN. Nếu buổi Tọa đàm không do CLB/NVB tổ chức, mà CLB/NVB không phải do linh mục “bần đạo” đương kim Giám Mục Vinh Phaolô Nguyễn làm Chủ Nhiệm, thêm một thành viên trong Nhóm 20 là anh Vương Đình Chữ sắm vai người góp Tham Luận, thì lý do chắc cũng chưa đủ mạnh thúc đẩy tôi viết thư này.

“Chân Dung” ấy –hay “Diện Mạo Thật” ấy-, dù mới chỉ được đọc một phần khoảng 7, 8 bài tham luận chính thức tôi đã thấy nó “thật” như thế nào rồi. Xin nói ngay để tránh ngộ nhận: không cần cầu viện tới nội dung bài Tham Luận của cha Chân Tín, người được mời viết nhưng lại bị BTC Tọa Đàm từ chối không cho phép đọc (nghe đâu bài viết cũng không có cơ may xuất hiện bên cạnh toàn bộ các bài tham luận sẽ ấn hành trong một Kỷ Yếu nay mai!?) mới giúp tôi thấy được như vậy đâu. Nếu anh em nào hoài nghi xin tìm đọc những gì tôi đã sưu tập trong nhiều năm trời bằng giấy trắng mực đen trong phần thứ hai cuốn biên khảo “Một Thoáng Nhìn Về GHVN Qua Biểu Tượng Đức Gioan Phaolô II” ấn hành ở nam CA, Hoa Kỳ cách đây 13 năm mà một số anh em ở Mỹ, ở Âu Châu, Úc Châu kể cả cha Hợp đã có. Cha Chân Tín và thuở sinh thời anh Nguyễn Ngọc Lan cũng được tôi nhờ người thân lén chuyển về gửi tặng. Sau đó đã được chính anh Lan xác nhận và ghi lại trong đoạn hội ký anh chuyển ra ngoài này.

Trong hơn nửa cuốn sách dày 550 trang vừa nói, tôi đã ghi chép lại nhiều dữ kiện liên hệ tới cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình qua những ghi nhận hàng tuần của cha Chân Tín, một trong những nhân vật thân cận trong ban cố vấn của Đức Tổng Bình khi ấy mà trong bài Tham Luận cha đã liệt kê đầy đủ. Cũng trong cuốn sách tôi đã đưa vào phần phụ lục ba bài giảng về Sám Hối của người mục tử già Dòng Chúa Cứu Thế này và 40 trang hai bài đọc (lần 1 và lần 2) ba tập Hồi Ký của tác giả cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan do cơ sở xuất bàn TIN Paris trong Bản Tin TIN NHÀ do các anh Nguyễn Hữu Tấn Đức, Đỗ Mạnh Tri ở Pháp chủ trương với sự tiếp tay phát tán ở quốc nội của một số giáo sĩ. Tất cả giúp tôi không phải bây giờ, mà từ ngót hai thập niên qua, đã có cơ may thấy được một thứ não trạng mà tôi mạo muội gọi là “bệnh hoạn” bị điều kiện hóa trong cách suy nghĩ và hành xử “hồn nhiên, ngây thơ” của người cầm đầu Tổng Giáo Phận Sàigòn -trong lúc Giáo Hội bị cuốn vào cơn biến động kinh hoàng của đất nước-, do sự nhào nặn, đạo diễn của những LMQD xoay quanh cái gọi là UBĐKCGVN, với những tên tuổi quen thuộc mệnh danh là “Tứ Nhân Bang”, là “Linh Mục Cán Bộ”. Liệu có cần nói thêm rằng nhóm LM phản đạo, phản quốc này từng bị cố Giám Mục Hà Nội Phaolô Lê Đắc Trọng công khai lên tiếng đòi dẹp bỏ trong bộ Hồi Ký của ngài từng được nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân ấn hành cuối năm ngoái dưới tiêu đề chung “Chứng Từ Của Một Giám Mục”?

Bây giờ biết nói gì đây (?) khi mà những ngày tháng cuối cùng của thập niên đầu ngàn năm thứ ba, qua cái gọi là Tọa Đàm do CLB/NVB tổ chức, tuồng như “NÓ” vẫn còn là một hữu thể công khai, được GHCGVN (hay chính danh là một số những vị có chức có quyền trong cái HĐ hữu danh vô thực ấy) coi như một chi thể!!!

Tôi sẽ không làm mất thì giờ của nhóm để nêu lên những nhận định riêng khi đọc những văn kiện liên quan tới hai buổi Tọa Đàm trong Bản Tin TH của Nguyễn Quốc Thái do anh Vương Đình Chữ chuyển ra. Vì nếu đủ trung thực với chính mình –nhất là khi nó được gạn lọc bởi lương tâm ngay chính, trong suốt của Con Cái Chúa-, tất cả mọi người đều đã nhận ra. Trong vài trang thư ngỏ ngắn ngủi này tôi chỉ xin nêu lên một vài suy nghĩ chợt đến, thật nhanh và thật gọn, nhưng tôi tin đấy là những suy nghĩ chân thật và thành khẩn của tôi.

Ngoài ra là vài gợi nhắc về nội dung những sự thật rất “thật” trong những văn kiện đã được phổ biến công khai trên các mạng Nữ Vương Công Lý hoặc trên những tờ báo điện tử khác cùng vài văn kiện có thể anh em chưa được đọc mà tôi nhận được đó đây nói lên khuôn mặt méo mó cũng rất “thật” phản Tin Mừng của Xã Hội Việt Nam thời cộng sản, cái thời cố Giám Mục Bắc Ninh Nguyễn Quang Tuyến đau đớn tiết lộ là không ít các Đấng Bậc Làm Thày Giảng Dạy Chân Lý đã bị chế độ “thuần hóa”!!! “Thuần hóa” nhuần nhuyễn đến nối nói như Đức HY Trần Nhật Quân trong một bài viết mà tôi có cơ hội nhận định và chuyển ra để chia sẻ với Nhóm gần đây là miệng “những Con Chó Nhà Đức Chúa Trời” khi cần sủa cũng không mở ra để sủa được!

Tôi cũng sẽ không cầu viện tới hình ảnh khuôn mẫu của Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt nguyên TGM Hà Nội và toàn thể các cha DCCT trong những biến cố Tòa KS, Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm, kể cả cảnh giáo dân Cồn Dầu, kẻ bị giết, kẻ bị bắt bớ, bị săn đuổi phải bỏ đất nước, cha mẹ, vợ con chạy qua tị nạn ở Thái cũng như những tiếng nói không khoan nhượng mang tính Ngôn Sứ của các linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh, Đỗ Xuân Quế, hai mục tử già Dòng Anh Em Hèn Mọn và Dòng Đa Minh. Nội dung thư này tôi xin giới hạn chỉ nói tới những gi liên quan tới anh chị em trong Nhóm mà thôi.

Bỗng dưng tôi không khỏi tiếc nuối khi nhớ tới một người anh em đã khuất: anh Phanxicô Xaviê Trần Duy Nhiên. Anh là một trong những anh em trong nhóm ở quốc nội, nhưng cơ duyên đã cho tôi cái may được gặp gỡ, thân cận trao đổi trực tiếp với anh vài lần, đặc biệt trong một ngày sống gần gũi bên anh, chưa kể những trao đổi thường xuyên qua mail hoặc qua điện thoại. Tôi kính trọng anh về tài năng và cũng quý mến anh về thái độ nhiệt thành và lòng đạo đức, dĩ nhiên theo cách thế của anh. Tôi biết ít nhất hai lần anh nhận ra thái độ bất bình của tôi đối với anh: Lần thứ nhất trong một thư chuyển cho anh em trong Email, anh đã dùng những ngôn từ mà tôi cho rằng anh đã xúc phạm tới Màu Nhiệm Thánh Thể. Lần thứ 2 anh viết liên tiếp mấy bài mà bài chót suy diễn về Kinh Hòa Bình do tập thể giáo dân Hà Nội hát trong những đợt tập trung cầu nguyện ở Tòa KS cũ, ở Thái Hà mà tôi không ngần gại chỉ ra là người viết có hậu ý không ngay chính. Anh Nhiên thật nhậy bén. Trong cả hai lần anh đều có những đáp trả vừa khiêm nhường và cũng không thiếu khôn ngoan, thành thật. Dĩ nhiên vẫn theo cách của anh.

Sau những gì diễn ra ở Sàigon cuối tháng 8-2010, tôi cảm thấy tiếc: nếu anh Nhiên chưa ra đi thì hai buổi Tọa Đàm do CLB/NVB tổ chức, với tư cách TTK của anh, tôi nghĩ rằng có thể nó sẽ khác.  Khác như thế nào tôi không hình dung được. Nhưng với sự thông minh, bén nhạy của một người như anh Nhiên, tôi tin chắc anh sẽ có đủ khả năng, sự tỉnh táo để xoay chuyển cho nội dung buổi sinh hoạt quan trọng này, nếu không mang được ý nghĩa tích cực, hữu ích hơn thì cũng không quá nát như lúc này. Thật đáng tiếc!

Người thứ hai cũng là người tôi kinh mến vì tài năng và lòng nhiệt thành với bạn bè, với Quê Hương, Đất Nước và với Giáo Hội. Tôi muốn nói tới người anh em cùng lứa tuổi với tôi nhưng lại là người có một trình độ kiến thức vượt trội hơn tôi nhiều cái đầu. Đó là anh Trần Ngọc Báu, người cùng mang tên họ, tên đệm với tôi khiến nhiều người chưa đủ thân ngộ nhận chúng tôi là hai anh em, nếu không cùng cha mẹ thì cũng là anh em thúc bá. Tôi kính trọng anh về tài năng và kiến thức, kinh nghiệm Đạo, Đời. Tôi yêu mến anh vì sự thẳng thắn và cương trực. Qua những trao đổi quả thật anh Báu đã dạy tôi thật nhiều điều bổ ích. Nhờ thẳng thắn, cương trực – thẳng thắn, cương trực để có thể “mắng mỏ” tôi, đòi “giết” tôi như trong một mail gửi cho hầu hết anh em, anh đã phẫn nộ viết thẳng như thế. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn yêu anh, thương anh và kính trọng anh. (Xin mở ngoặc đễ nói riêng với anh Báu: trước lương tâm một người bạn đồng đạo, tôi nói sự thật chứ không môi mép đâu anh Báu. Tôi nhớ đã có lần tôi nói ra tâm tình này với một vài anh em trong nhóm 20.)

Chính vì thế tôi vẫn nuôi hy vọng. Với sự hiểu biết hơn người, với bề dày về kiến thức thần học và lòng đạo đức, thành tâm yêu mến Giáo Hội và Quê Hương nơi anh và nhất là tình tình bộc trực, thẳng thắn, không môi mép như anh, tôi luôn lạc quan suy nghĩ và tin rằng sẽ có lúc anh cất tiếng, một tiếng nói đủ trọng lượng để góp phần trong muôn một vào việc vực dậy tình trạng trì trệ, bế tắc, nặng nề, ngột ngạt hiện nay trong Giáo Hội Việt Nam chúng ta. Tôi chờ đợi và đặt niềm tin nơi anh.

Đã nói thì xin phép được nói một lần cho hết, cho nhẹ phần nào những gì đang đè nặng lương tâm mình. Bên cạnh niềm hối tiếc về sự ra đi đột ngột của anh Phanxicô Xaviê và niềm kỳ vọng nơi anh Trần Ngọc Báu, tôi cũng không thể không nói tới sự trông đợi hơi nhiều của tôi đặt nơi một người anh em trong đức tin của tôi là linh mục “bần đạo” Phao lô Nguyễn Thái Hợp sau khi cha được chọn vào cương vị một Giám Mục trong Hội Thánh VN. Dù lúc này có chút lý do để tiếc chung quanh những gì để lại nhân buổi Tọa Đàm, nhưng không phải vì thế mà tôi nguôi niềm hy vọng.

Mặc dầu sau ngày “bần đạo” Phaolô lãnh mũ gậy Giám Mục tôi chưa có cơ hội viết nhiều, ngoài lời chúc mừng ngắn ngủi như một vài anh em khác, nhưng tự thâm tâm tôi không thể không đặt để hy vọng nhiều nơi một người mục tử mà tôi hằng kính trọng và quý mến, khi nhớ lại những lần được gặp gỡ, trao đổi với cha ở nam California, HK, được thấy lập trường và quan điểm ngay lành của ngài lấp lánh trong những lời chia sẻ thân tình, qua những tác phẩm, những bài viết kể lại những kinh nghiệm cũng như cảm nghiệm về đời sống Giáo Hội ở Nam Mỹ. Khi biên khảo cuốn “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Vĩ Nhân Thời Đại” (do tủ sách Tiếng Quê Hương ở Mỹ ấn hành năm 2005, tái bản năm 2006)) tôi hoàn toàn chia sẻ quan điểm không chấp nhận cái gọi là Phong Trào Thần Học Giải Phóng của Giáo Hội qua phát biểu của vị Giáo Hoàng quá cố vì nó nhuốm màu Mác-Xít, ca ngợi và cổ xúy việc dùng bạo lực. Nhưng ở một góc cạnh nào đó, tôi trộm nghĩ: não trạng và quan điểm phò nguy, cứu khổ, không chấp nhận cảnh người bóc lột, đàn áp, giết chóc người của “bần đạo” Phaolô hẳn sẽ giúp cha thấy được những nét tương đồng, chị em song sanh giữa xã hội tư bản, phong kiến Nam Mỹ mà cha hết lới phê phán với những gì đã và đang diễn ra từng ngày, từng giờ, từng phút giây trên quê hương Việt Nam khốn khó, bất hạnh của chúng ta hôm nay.

Giữ lời hứa là sẽ không tự mình vẽ lại những nét khốn cùng, mất nhân phẩm của CON NGƯỜI hôm nay trên một quê hương đang bị bán đứng cho ngoại bang –mà có muốn vẽ hẳn cũng bất lực, vì tài hèn, chí nhụt làm cách nào để làm bật nên được những đắng cay khốn khó ngút ngàn mà 90 triệu đồng bào, trong số có 7 triệu đồ đồng đạo đang phải triền miên gánh chịu bên kia bờ đại dương.

Trước khi post vài bài viết ngắn, tiêu biểu mà tôi đọc được để chia sẻ cùng anh em trong Nhóm 20, tôi muốn nêu lên vài câu hỏi:

Là người Việt Nam, lại mang ấn tích Con Cái Chúa, chúng ta nghĩ gì khi đọc:

* Bài tham luận có tựa đề “Chỉ có sự thật mới giải phóng Con Người, giải phóng Văn Học và Đất Nước”. Âm hưởng tiêu đề bài viết này gợi nhớ tới Lời Chúa Giêsu: “Chỉ có Sự Thật Mởi Giải Thoát Các Con”.

Riêng những người có trách nhiệm tổ chức, điều hành hai ngày Tọa Đàm, cụ thể là GM Chủ Nhiệm CLB/NVB và anh Vương Đình Chữ, chúng ta nghĩ gì về nội dung bài:

* Tham luận của cha Chân Tín, người đã được BTC long trọng mời viết rồi cũng quý vị lại “bịt miệng” cha, một hành vi còn quá mới, quá thời sự để người ta nhớ một bài viết khác cũng của nhà văn Trần Mạnh Hảo có tựa đề “Good Bye Đại Hội Bịt Mồm”, giản dị vì chính anh cũng bị phân biệt đối xử tương tự, chỉ vì con người thời nay yêu thích và tôn thờ sự dối trá. Tôi không cầm được lòng nghĩ tới bài viết mang tên một câu hỏi nhức nhối: “Đạo Để Làm Gỉ?” của cha Nguyễn Ngọc Tỉnh thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn được phổ biến rộng rãi trên NET và gần đây đã được các thân hữu nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân ở Úc Châu và Hoa Kỳ đưa vào cuốn “Thắp Một Ngọn Nến Cho Thái Hà”. Ngoài đời, cách riêng trong các xã hội CS, người ta coi dối trá, che đậy sự thật là một lối sống, một phương tiện kiếm ăn, bất cố liêm lỉ. Không lẽ Đạo, người có Đạo, nhất là những người cầm trong tay Mối Đạo, Chân Lý của Đạo cũng hành sử như thế sao?

* Bài “Sân Khấu Về Khuya” của chị Phạm Minh Tâm, một tín hữu nhiệt thành, năng nổ ngày từ những ngày còn sống trên quê hương trước và sau 75 cho đến khi qua định cư tại Úc Châu (đã được anh em đưa lên NET). Tôi trộm nghĩ nếu BTC buổi Tọa Đàm còn chút tự trọng thì ít nữa nên đăng bài Tham Luận của cha Chân Tín trong Kỷ Yếu với vài lời ghi chú. Nếu không đủ dũng lược để làm như vậy thì cũng nên loại bỏ tên cha , kể cả tên cha Vũ Khởi Phụng, người mà ai cũng biết là đang có mặt tại Mỹ để cắt một khối u trong nội tạng đúng thời gian Tọa Đàm, ra khỏi danh sách những nhân vật được mời viết Tham Luận. Người đời sau có quyền không bị lừa vì chuyện: “treo đầu dê bán thịt chó” được.

Tôi sẽ không nói tới những tác phẩm lớn trước đây như “Kẻ Bị Mất Phép Thông Công – nguyên tác: Un Excommunié” của cố LS Nguyễn Mạnh Tường, “Nói với Quốc Hội” của Nguyễn Văn Trấn, “Thiên Đường Mù” của Dương Thu Hương, “Chuyện Kể Năm 2000”, Viết Về Bè Bạn”, “Vũ Trụ Không Cùng” của Bùi Ngọc Tấn, “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, “Mặt Thật”, “Hoa Xuyên Tuyết” của Bùi Tín, “Nhân Quyền và Dân Chủ tại Việt Nam” của Nguyễn Thanh Giang, “Gửi Lại Trước Khi Về Cõi” của Vũ Cao Quận, “Đi Tìm Nhân Vật”, “Sinh Ra Để Chết” của Tạ Duy Anh, những trang Hồi Ký “Rồng Rắn” của tướng Trần Độ, “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất” của nhà văn Nguyễn Khải, Hồi Ký của Nguyễn Đăng Mạnh. Những bài thơ xám hối trước khi giã từ đời sống của Chế Lan Viên, “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của nhạc sĩ Tô Hải và gần đây nhất “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân nói về những chuyện kinh hoàng trong Cải Cách Ruộng Đất mà một phần liên hệ tới GHCG đã được cố GM Lê Đắc Trọng phát hiện trong hồi ký của ngài. Ngoài tác phẩm của Trần Thế Nhân vừa được Cành Nam thuộc Tổ Hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ ấn hành, một số lớn những tác phẩm trước đều do tủ sách Tiếng Quê Hương mà tôi có dự phần đã xuất bản sau khi chúng bị bọn khủng bố văn hóa của chế độ tịch thu ngăn cấm phổ biến ở trong nước.

Tôi cũng chẳng cần nhắc tới nội dung những bài viết trên các tờ báo điện tử hoặc báo viết được phổ biến lén lút trong nước như tờ Tổ Quốc hoặc tờ Tự Do Ngôn Luận do các linh mục Chân Tín, Phan Văn Lợi chủ trương cùng như HộpThư của các Blogers nổi tiếng như Người Buôn Gió, Điếu Cày, Mẹ Nấm v.v…

Sau đây là hai bài viết ngắn trong số hàng ngàn, hàng vạn chứng từ tương tự trên đất nước ta vào thời điểm này:

1/  Bài “Đừng bảo tôi im!” của Joice Anne Nguyễn, cố bé mới 16 tuổi đầu, con gái của nữ đạo diễn Song Chi vùa thoát ra khỏi nước được vài năm nay hiện sống tại Na Uy.

2/ Bài “Cả nước thích đùa” của Lê Thị Thanh Chung với lời cáo lỗi với nhà văn Aziz Nesin vì tội “đạo” tên ông để viết gửi cái gọi là Đại Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VIII. Không hiểu những người có sáng kiến tổ chức buổi Tọa Đàm ở Sàgòn vừa qua nghĩ sao khi đọc bài viết này, không chỉ với tư cách công dân đời thường như những nhân vật trong Hội Nhà Văn VN, mà ở vị trí của những người luôn nhân danh mọi điều tốt lành nhất, linh thiêng, cao cả nhất cho con người ở bất cứ không gian, thời gian nào?

Thư chẳng hết lời.

Trân trọng kính chào và mong được nhận được hồi âm từ những anh em của tôi.

Nam California, Hoa Kỳ ngày 20-9-2010

Trần Ngọc Vân (bút danh Trần Phong Vũ)

tphongvu@yahoo.com

thachtrungt@yahoo.com


Lội ngược dòng

Tháng Chín 20, 2010

Khi còn là sinh viên, một lần tôi vào thăm một xưởng điêu khắc và làm tượng bằng đá ở Hà Nội. Giữa hàng ngàn tượng to nhỏ đủ loại, tôi đặc biệt chú ý đến ba pho tượng nhỏ ngộ nghĩnh của ba chú khỉ: một chú bịt mắt, một chú bịt tai, một chú bịt miệng. Tò mò về ý nghĩa của ba pho tượng, tôi đặt câu hỏi thì được một người phụ nữ chủ xưởng cho biết ba pho tượng của ba chú khỉ là để nhắc nhở mình không soi mói chuyện người khác, không tò mò nghe chuyện người khác và không ăn nói lung tung về những chuyện của người khác. Tôi tự nhủ đó là một triết lý đơn giản và cũng hay hay về cuộc sống.

Nghĩ sâu xa hơn, triết lý đó chỉ hay hay ở một khía cạnh nào đó thôi, vì không tò mò, không soi mói, không can thiệp vào những chuyện riêng tư của người khác là một nét nhân bản vừa thể hiện sự tôn trọng đời tư của người khác, đồng thờ cũng để cho mình được yên ổn, không phiền lụy đến ai mà cũng chẳng ai làm phiền đến mình. Một số người cho việc sống như thế là bác ái, là khôn ngoan, là an toàn. Nhưng nhìn ở một khía cạnh nào đó, một cách nào đó, việc bịt mắt, bịt tai, im lặng trước mọi sự lại là một lối sống thụ động, cam chịu, nhu nhược, ích kỷ, né tránh trách nhiệm.

Ở Việt Nam tư tưởng “đèn nhà ai nhà ấy rạng”, “có mắt như mù, có tai như điếc, có mồm như câm” đã len lỏi vào cuộc sống xã hội và ngay cả trong Giáo hội Công giáo. Trước những cảnh khốn cùng của con người, người ta dửng dưng, không một chút xót xa, không một chút động lòng trắc ẩn hoặc né tránh kẻo vạ vào thân. Báo chí gần đây cho thấy càng ngày càng có nhiều người có học, có đẳng cấp lại giết người một cách dã man… Có thể chính vì lối sống khép kín, co cụm, ích kỷ, “sống chết mặc bay”, làm cho tâm hồn con người ngày càng trở nên cằn cỗi, tinh thần trở nên thiếu thốn, trí tuệ trở nên còi cọc, cái linh thiêng bị tục hóa, nên con người vô cảm, không còn biết rung động, xót thương trước những đau khổ của đồng loại. Ngay cả trong Giáo hội, Thánh Giá là biểu tượng thánh thiêng nhất của Kitô giáo bị người ta minh nhiên xúc phạm, đất đai của Giáo hội người ta ngang nhiên chiếm đoạt, thế mà nhiều vị mục tử không có một thái độ đáng phải có. Để được yên thân, an toàn, người ta cố tình bịt tai, bịt miệng, bịt mắt, trước những bất công, những việc phi lý, mờ ám. Thời gian vừa qua tại Việt Nam, ai cũng nhận ra những cái phi lý, những chuyện bất công mờ ám của một cơ cấu, của một thể chế, một chế độ, nhưng, trong số hơn 80 triệu dân Việt có được bao nhiêu Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân? Trong Giáo hội có được bao nhiêu Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Văn Lý? Các ngài đang đi ngược chiều với đám đông vì các ngài là những người có lương tri, có can đảm ngôn sứ. Một câu nói ấn tượng được ghi lại ở đại sảnh một trường học ở nước ngoài: “Thế giới này trở nên nguy hiểm, không phải vì có nhiều người gây tội ác, mà là do có quá nhiều người rất hiểu biết nhưng lại chẳng làm gì cả”. (“ Le monde est devenu en danger, ce n’est pas parce qu’il y a beaucoup de criminels, mais parce qu’il y a trop de sages, mais ceux-ci n’agissent point”).

Theo sát Đức Kitô” – một góc nhìn

Xã hội sẽ đi về đâu, Giáo hội sẽ như thế nào, khi không còn sự can đảm ngôn sứ nơi những những giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, nơi những người rất hiểu biết, nhìn thấy hết, nghe thấy cả, nhưng im lặng cho yên thân? Người tu hôm nay hiện diện và can thiệp vào những chuyện đời, có phải là một sự cấp tiến, một xa rời sự thánh thiện vốn được lịch sử, được cơ cấu phẩm trật “quy định”?

Theo dòng lịch sử, thế giới từng là nơi thù nghịch mà người tu phải xa tránh, phải từ bỏ, nhưng Công đồng Vaticano II trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng (số 1 và 4) cho ta thấy rằng “Giáo hội là một cộng đoàn thực sự liên kết cách mật thiết với nhân loại và lịch sử”, nên người tu hôm nay không thể là những người bịt tai, bịt mắt, im lặng trước những vấn đề của thế giới. Ngược lại người tu phải dấn thân ở trong, ở với và cho thế giới, chấp nhận hệ

lụy của việc dấn thân này đối với đời sống cá nhân và cộng đoàn của mình. Ngày xưa, tu là luyện nhân đức, là chăm lo cho việc rỗi linh hồn của cá nhân mình, nhưng ngày nay, đời tu không dừng lại ở việc hoàn thiện cá nhân mình, mà còn phải quan tâm đến những vấn đề của con người, những vấn đề đang làm xã hội nhức nhối, như nạn buôn bán phụ nữ, mại dâm, bóc lột sức lao động, đạo đức suy đồi, giáo dục xuống cấp, tham nhũng … Người tu cũng là người có liên quan đến những vấn đề của thế giới chung quanh như ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên bừa bãi…

Khi người tu dấn thân vào một xã hội bị áp bức, lên tiếng để bảo vệ công bằng, thoát ra khỏi môi trường truyền thống an toàn ổn định là người tu đang cùng chia sẻ những ưu tư, những bận tâm của Đức Giêsu về con người, về thế giới. Đó là cách người tu “bước theo sát Đức Kitô như đã được trình bày trong Tin Mừng” (Vatican II, Perfectae Caritatis) vì Đức Kitô đâu có sống thụ động, đâu có im lặng để tìm sự yên ổn, để “dĩ hòa vi quý”. Người không bịt tai, bịt mắt, im lặng trước một tôn giáo với những người đứng đầu giỏi lèo lái dân chúng mà không có lòng thương xót; Người nghiêm khắc đối với những kẻ giữ khóa cửa mà không cho kẻ khác vào (Lc 11,52), nổi giận trước sự giả hình tôn giáo (Mt 15, 7; x. Is 29, 13), đặt lại tư cách làm con cháu Abraham mà người Do Thái vẫn tự hào (Ga 8, 39; x. 9, 28)…1.Tất cả những thái độ đó đi ngược lại với những giá trị Nước Trời mà Người đến để loan báo và làm chứng. Đó là những giá trị đúng, những giá trị đem lại sự sống: “công lý, yêu thương, an bình, giải phóng và hoan lạc trong Thánh Thần” (Ep 14,17).

Trở về nguồn của mọi nguồn, tu đức của mọi tu đức, là “theo sát Đức Kitô”, tức là phải có cùng thao thức, cùng hoài bão, cùng ưu tư của Người về Nước Thiên Chúa; là gắn bó với thế giới này để cùng với Đức Kitô tiếp tục sứ mạng cứu độ mà Người đã khởi sự cách đây hơn 2000 năm. “Theo sát Đức Kitô” là dám nói, dám làm như Người để tìm cách cắt bỏ những ung nhọt đang làm nhức nhối con người trong tôn giáo cũng như trong xã hội, dù biết rằng làm như thế sẽ bị trả giá, bị khinh bỉ, xúc phạm, cô độc, cô lập, thậm chí có thể bị thủ tiêu, bị chết. Cuộc đời các ngôn sứ trong Cựu Ước và của chính Đức Giêsu đã minh chứng điều đó.

Thiết nghĩ rằng, nếu Đức Giêsu đã không đứng về phía những người nghèo, những người bất hạnh, những người bị tôn giáo loại bỏ, hẳn Người đã không gặp rắc rối. Người có thể không phải đối diện với cái chết ô nhục nếu Người từ chối sống cùng, liên đới cùng với những con người lam lũ, tội lỗi, đau khổ trên khắp nẻo đường Galilée. Cái chết của Người trên thập giá như một kết cục tất yếu của một ngôn sứ dám nói, dám làm theo ý Thiên Chúa, sẵn sàng chấp nhận về mình những thử thách, những hậu quả khôn lường vì yêu thương. Ý tưởng này được Cha Kevin O’Shea, trong kỳ Thường huấn tại DCCT Saigon tháng 8/2009, khi đề cập đến cái chết của Đức Giêsu, đã mạnh dạn nói: “ Ai hay cái gì đã giết chết Đức Giêsu? Đó không phải là đám dân bé nhỏ đã giết Người vì những “lỗi” mà họ đã phạm. Họ là những kẻ mà Người đã chết cho họ, vì Người đứng lên vì họ và nên giống họ” (Who, or what, killed Jesus? It was not the little people who killed Jesus by any alleged “sins” they had done. They were the ones for whom he died, by standing up for them and identifying with them…”).2

Một số người lại cho rằng, chẳng việc gì phải đấu tranh, phải phản bác, tố giác những chuyện không hay của xã hội cũng như của Giáo Hội làm gì cho mệt. Nhà nước cho phép xây dựng nhà thờ to, ngày chủ nhật nhà thờ chật người đi lễ, các hội đoàn sầm uất, rước xách linh đình, được như vậy là tốt lắm rồi…

Theo người viết, những ngôi nhà thờ, những kinh kệ, rước sách linh đình, một khía cạnh nào đó, là tốt, nhưng tự chúng không thể toát ra điểm sáng nhất của những giá trị Tin Mừng; tự chúng không thể đem lại ơn cứu rỗi, mà chúng chỉ là những phương tiện đưa con người đến gặp Chúa một cách dễ dàng hơn. Thiết nghĩ rằng khi chỉ chú tâm xây nhà thờ cho to, tổ chức kinh hạt rước sách cho linh đình, hoành tráng, hay tạo ra và ra sức bảo vệ một cơ cấu an toàn để dung thân, để thăng quan tiến chức mà không chú tâm đến những vấn đề cụ thể của con người trong thế giới hôm nay, không tìm cách góp phần làm cho thế giới này tốt hơn, đời sống không phản ánh giá trị Nước Trời, là đang đi xa với con đường Đức Giêsu đã đi. Trước những đau khổ tột cùng của đồng loại, trước những bất công tày trời của xã hội, không biết có đẹp lòng Chúa không, khi ta cứ thanh thản kinh kệ, rước sách linh đình, hài lòng với những thành công, những công trình để đời của mình?

Làm sao có thể đi sát Đức Kitô, giống như Người, khi ta thụ động, vô cảm, vô trách nhiệm và xa tránh thế giới mà ta cho là tội lỗi, xa rời thực tại của những con người phải bươn chải vì cơm áo gạo tiền? Tuệ giác chiêm niệm luôn luôn cần thiết để đọc ra những dấu chỉ của thời đại, để nhìn thấy cái linh trong vũng bùn tội lỗi, để thấy được ý của Thiên Chúa, thấy được Thần Khí của Người vẫn hoạt động trong thế giới lộn xộn và đau khổ này. Nếu không có một sự tiếp xúc, sự sống thân mật với Thiên Chúa, không hiểu Người muốn gì, làm sao có thể nhận ra và thực thi sứ mạng cứu thế của Đức Kitô đang nối dài trong lịch sử với tất cả xác tín, nhiệt huyết của mình? Thánh Alphonse, Đấng sang lập Dòng Chúa Cứu Thế, đã nhận ra đám người nghèo khổ tất bạt là đối tượng phải loan báo Tin Mừng, đó là người đã nhận ra ý Chúa ở thời đại của người. Người đã từ bỏ tất cả những lợi lộc, chức tước, vinh quang của một gia đình quý tộc, lội ngược dòng với trào lưu giáo sĩ trị để thực thi ý Chúa nơi những con người bé mọn.

Ngoài việc đọc ra những dấu chỉ của thời đại để từ đó có thể đương đầu, phê phán, phản bác, tố giác những hệ thống, tổ chức đi ngược lại hoặc cản trở Nước Thiên Chúa, ngôn sứ còn có nhiệm vụ tạo ra cho dân chúng một tương lai khác, truyền đến cho họ một sứ điệp của hy vọng. Nếu không nắm bắt được tinh thần và sự nghiệp của Đức Kitô, làm sao người tu có thể phát biểu ra những khát vọng sâu nhất của xã hội, cũng là của Đức Kitô, để mở ra những chân trời mới, mơ về những triển vọng mới? Để làm được như vậy, thiết nghĩ, cần có một sự biến đổi, một sự hối cải sâu xa, phải lột xác, thay đổi cái nhìn về chính mình.

Theo sát Đức Kitô là thế, là sống như người đã sống, là đi theo con đường Người đã đi, là thao thức, khát vọng những gì người thao thức, khát vọng. Tóm lại là trở nên giống Người.

* * *

Ba pho tượng nhỏ ngộ nghĩnh của ba chú khỉ: một chú bịt mắt, một chú bịt tai, một chú bịt miệng dạy tôi những bài học để trở thành người hơn: thận trọng hơn khi tôi nói, chọn lọc và biết nhận định thông tin khi tôi nghe, khi tôi nhìn để có những phán đoán đúng về con người, về cuộc đời. Nó cũng cho tôi những suy tư về cách sống của mình trong cộng đoàn, gợi xa xa cho tôi những vấn nạn về ơn gọi ngôn sứ của đời tu. Chỉ thế thôi. Nhưng, nếu hiểu rằng những chú khỉ bịt tai, bịt mắt, bịt mồm để bưng bít sự thật, để sống yên thân và càng ngày càng có nhiều người sống theo cách đó, thì tôi e rằng cuộc đời này sẽ không còn thi vị, con người sẽ ngụp lặn trong gian dối, nhất là lý tưởng của Đức Giêsu mãi mãi xa vời.

Tùng Linh DCCT

1 Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Phân khoa Thần học GHHV Piô X Đà Lạt, x. sứ ngôn, tr.448

2 Kevin O’SHEA, C.Ss.R, Pastoral, biblical, moral themes for redemptorists, a five day seminar in Saigon 2009, p.32


Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình hay CLB “Phục hưng Ủy ban Đoàn kết”?

Tháng Chín 15, 2010

Cuối năm 2006, chính quyền cộng sản trao trả lại cơ sở 43 Nguyễn Thông – trước đây là Câu lạc bộ “Phục hưng” của các cha Dòng Đaminh chi Lyon, nhưng với điều kiện: “Thành lập Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình”.

Ngày 30/12/2006, Câu lạc Bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình được thành lập. Chủ nhiệm Câu lạc bộ là linh mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, OP. Ông Nguyễn Đình Đầu – Uỷ viên Ủy ban Đoàn kết Công giáo – Tổ chức của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức do Đảng Cộng sản VN lãnh đạo-  làm Phó chủ nhiệm. Các ông Trần Duy Nhiên và Vương Đình Chữ – Báo Công giáo và Dân tộc – Cơ quan của UBĐK Công giáo TP Hồ Chí Minh – làm thư ký.

Đức cha Bùi Văn Đọc tại CLB Nguyễn Văn Bình

1- Câu Lạc Bộ TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình được thành lập để gặp gỡ, trao đổi, thảo luận và học hỏi giữa những người Công giáo dấn thân phục vụ Gíao hội và xã hội Việt Nam hôm nay theo tinh thần Phúc Âm.

2- Câu Lạc Bộ được định hướng bởi Lời Chúa, các văn kiện của Giáo Hội và sứ vụ của người Kitô hữu trong thế giới hôm nay.

3- Câu lạc bộ mang danh Phaolô Nguyễn Văn Bình, với ước muốn tiếp nối tinh thần đối thoại và chủ trương “sống Phúc âm giữa lòng Dân tộc” mà cố Tổng Giám Mục đã thể hiện trong giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước.

Theo bản nội quy của Câu lạc bộ, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình “có liên hệ với Uỷ ban Giáo lý Đức tin của HĐGMVN” do Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc làm Chủ tịch.

Câu Lạc bộ Phaolo Nguyễn Văn Bình

Vào thời điểm đó – năm 2006, việc chính quyền Cộng sản trao trả lại một cơ sở tôn giáo cho một Nhà dòng, khiến nhiều người nghi ngờ về tấm thịnh tình ấy của Cộng sản.

Người ta đã thấy trước việc chính quyền cộng sản trả lại cư xá Phục hưng – khi đó đang là cơ sở của Hội Trí thức Yêu nước TP HCM, chẳng qua chỉ là động thái “hòn sỏi ném đi, hòn chì ném lại” mà thôi. Xưa nay, chưa ai thấy lòng tốt của Cộng sản với Giáo hội Việt Nam mà không kèm theo những âm mưu hoặc ý đồ đằng sau đó bao giờ.

Thực tế, công bằng mà nói, trong suốt bốn năm kể từ ngày thành lập đến nay, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng đã tổ chức được một số cuộc hội thảo hay toạ đàm với một phạm vi giới hạn trong số các thành viên mà phần đông trong số họ là ủy viên cái gọi là “Ủy Ban Đoàn Kết Công giáo”.

Tuy nhiên, khi Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình tổ chức cuộc hội thảo về “Biển Đông” để lại những tai tiếng về màn cắt cúp các phát biểu gây nhiều bức xúc. Có người đã đặt câu hỏi: Cuộc tọa đàm về biển đảo này nhằm mục đích gì? Phải chăng chỉ vì khi đó giới trí thức và nhân dân trong và ngoài nước, trong đó có rất nhiều trí thức và giáo dân công giáo đang sôi sục phẫn nộ với “Chủ trương của Đảng” cho Trung Cộng khai thác Bauxite ở Tây Nguyên – một hành động “rước voi về giày mả tổ” của Đảng CSVN – nên cuộc tọa đàm này nhằm làm giảm nhẹ đi ảnh hưởng của sự phẫn nộ đó?

Mới đây nhất là cuộc toạ đàm “Chân dung một vị Mục tử” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, nhắm mục đích: “tiếp nối tinh thần đối thoại và chủ trương “sống Phúc âm giữa lòng Dân tộc” mà cố Tổng Giám Mục đã thể hiện trong giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước”, với  việc không cho linh mục Chân Tín DCCT đọc bài tham luận, người ta mới vỡ lẽ ra nhiều chuyện.

Trước tiên, không phải ngẫu nhiên, Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp lại có thể đàng hoàng về Việt Nam và sau đó được nhà nước đồng ý cho làm giám mục Giáo phận Vinh, nếu như ngài đã không chọn phục vụ cho Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình?

Đức Tân Giám mục Nguyễn Thái Hợp - Chủ nhiệm CLB Nguyễn Văn Bình

Bên cạnh đó, về phía chính quyền cộng sản, phải nói rằng, chính sách thâm nhập Giáo hội để phá Giáo hội bằng cái gọi là “Uỷ ban Đoàn kết Công giáo” cho tới thời điểm 2006 đã hoàn toàn bị phá sản, nhất là tại Miền Bắc. Thậm chí ngay cả nhiều người ở trong cái UB đó đã đề nghị giải tán cái khối thịt thừa mỗi năm ngốn tiền tỷ của dân này cho nhẹ nợ.

Tại Miền Nam, mặc dù, “Uỷ ban Đoàn kết Công giáo” được Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình mặc nhiên ủng hộ, thì trong thực tế, nó đã không thể thực hiện được mục tiêu mà cộng sản đề ra khi thiết lập UBĐK. Trái lại, đối với phần đông giáo dân Công giáo, thì UBĐK chỉ là một thứ “Đàn két công giáo” mà thôi.

Đối với các thành viên UBĐK, nhiệm vụ “cấp trên” giao không thể không hoàn thành. Chính vì thế, việc chính quyền cộng sản trao trả lại cơ sở 43 Nguyễn Thông do và cho linh mục Thiện Cẩm, để lập Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, không ngoài mục đích hợp pháp hoá UBĐK – một cơ quan của đảng CS với âm mưu thành lập một “Giáo hội tự trị” vốn đã bị các vị chức sắc cao nhất của Giáo hội cảnh cáo và tẩy chay ngay từ khi thành lập.

Không biết có phải vì cái mác “Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình” – một cái mác quá đẹp để tỏ lòng biết ơn đối với vị Tổng Giám mục đáng kính đầu tiên của Tổng Giáo phận Sài Gòn mà cộng sản đưa ra, mà nhiều vị lãnh đạo Giáo hội đã không để ý nên bị mắc lừa cộng sản hay vì một lý do nào khác khiến cho các vị không đủ tỉnh táo nhận ra được dụng ý mà chính quyền cộng sản trả lại 43 Nguyễn Thông?

Đức TGM Phaolo Nguyễn Văn Bình và các linh mục Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần và Vương Đình Bích tại Báo Công giáo và Dân tộc

Trong thực tế, kể từ ngày thành lập cho đến nay, UBĐK cũng vẫn nhận được sự ủng hộ cách này hay cách khác của một một số Giám mục, nhưng vì UBĐK không “chính danh”, bị giáo dân phản đối, tẩy chay nên nhiều vị Giám mục dù ủng hộ UBĐK, cũng không dám ra mặt công khai.

Trong bối cảnh đó, việc thành lập Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình, sự xuất hiện thường xuyên của Đức Hồng y G.B Phạm Minh Mẫn, của các Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Phêrô Nguyễn Khảm, Phaolô Nguyễn Thái Hợp và của một số vị Giám mục theo chủ trương thoả hiệp khác trong các dịp hội thảo hay toạ đàm, đã chính thức hợp pháp hoá UBĐK Công giáo. Đồng thời, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng nghiễm nhiên trở thành tấm bình phong “che mắt thế gian”, khiến đôi bên đều có lợi. Các “chính uỷ” thuộc UBĐK có nơi để truyền bá đường lối của đảng. Một số vị Giám mục thoả hiệp có nơi bày tỏ lập trường mà không bị giáo dân phản đối.

Có thể nói rằng, qua việc thành lập Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình và bằng con đường này, Đảng CSVN đã phần nào đưa được chủ trương của Đảng thông qua tổ chức của nó là Mặt trận Tổ Quốc, cấp trên trực tiếp của UBĐK công giáo bằng cách đưa nhân sự của tờ “Công giáo và Dân tộc” mà giáo dân đã mệnh danh là tờ “Công giáo và gian tặc” vào trong Giáo hội và qua một số Giám mục, UBĐK nghiễm nhiên có đất sống và sống mạnh mẽ.

Thực tế, khi vụ Toà Khâm sứ – giáo xứ Thái Hà nổ ra, người ta không hiểu tại sao, một số vị giám mục trong nhóm thoả hiệp lại có cùng cung giọng kết án Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt cũng như cố tình xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc giáo dân cầu nguyện cho Công lý, sự thật… như tờ Báo Công giáo và Dân tộc qua bài viết của Cố Tổng  biên tập Trương Bá Cần.

Hồng Y Phạm Minh Mẫn tại Báo Công giáo và Dân tộc

Cũng vậy, nhiều người cho tới giờ này còn chưa hiểu nổi, tại sao với một Tổng giáo phận nhiều nhân tài như Tổng Giáo phận Sài Gòn, mà trang Web của Tổng Giáo phận và ngay cả trang Web của HĐGMVN lại rơi vào tay một số thành viên của “Công giáo và Gian tặc” như nhà giáo Khổng Thành Ngọc và cựu linh mục DCCT Nguyễn Nghị.

Bên cạnh đó, cũng có những người vì thiết tha với Giáo hội – một Giáo hội Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền, đã nêu thắc mắc: vì lý do gì khiến một số vị giám mục nhất quyết theo đuổi lập trường “đối thoại kiểu Công giáo và Dân tộc”, bất chấp tiếng nói đầy thiện chí của mọi tầng lớp giáo dân?

Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và linh mục Phan Khắc Từ TBT Báo Công giáo và Dân tộc

Trong lá thư đề ngày 27/7/2007 gửi Đức cha Nguyễn Thái Hợp – khi đó đang là linh mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Đức Hồng y G.B Phạm Minh Mẫn đã đề nghị Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình: “Nghiên cứu xem coi thái độ bất hợp tác và thái độ hợp tác của Giáo Hội trong lịch sử 50 năm qua, mỗi thái độ có những lợi và hại nào, đối chiếu cái lợi và cái hại của hai thái độ, và đề xuất bài học thực hành cho mọi thành phần tôn giáo và xã hội biết cách nào góp phần vừa xây dựng đất nước vừa lành mạnh hoá đời sống dân tộc. Có được thế thì sự phát triển đất nước và con người mới vững bền.”

Có thể nói rằng, chủ trương thỏa hiệp mà một số vị Giám mục đang chủ trương và ngay cả Đại hội Dân Chúa sắp diễn ra vào tháng 11 tới đây tại Tổng giáo phận Sài Gòn để chào mừng dịp kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận Tông Toà Đàng Trong và Đàng Ngoài, 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, thì đều là do sáng kiến của Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình mà phần lớn các thành viên thuộc UBĐK Công giáo TPHCM.

Về Đại hội Dân Chúa, ngay từ cuối năm 2007, dịp kỷ niệm một năm ra mắt Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình – có sự tham dự của Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý và Đức tin, các thành viên Câu lạc bộ đã dự tính tổ chức một cuộc hội thảo hướng về “Đại hội Dân Chúa”, nhằm khẳng định đường lối đối thoại “kiểu Công giáo và Gian tặc” sẽ là đường đi của Giáo hội Việt Nam trong tương lai.

Có thể nói rằng, sau những thất bại của UBĐK trong chính sách thôn tính Giáo hội từ bên trong, với việc thành lập Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, và nhờ sự tiếp tay của một số Giám mục có chức vị cao trong Giáo hội, chính quyền cộng sản đang thành công bước đầu với việc biến tướng và hợp pháp hoá UBĐK Công giáo bằng một tên gọi mới: “Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình”.

Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình hay Câu lạc bộ “Phục hưng Uỷ ban Đoàn kết Công giáo” thực ra chỉ là một.

Thông qua cái gọi là “Câu lạc bộ” này, Đảng CSVN đang thò bàn tay lông lá của mình vào đầu não Giáo hội và dần dần định hướng đi cho GHCGVN thông qua những “bùa phép” bí ẩn đặc thù Cộng sản như những cuộc hội thảo đã qua.

Và sắp tới là “Đại hội Dân Chúa” nhằm tìm cách hợp lý hóa đường lối “Công giáo và Gian tặc” của Đảng CSVN đã sắm sẵn cho GHCG.

15/9/2010

Lễ Đức Mẹ Sầu Bi

Nữ Vương Công Lý


Góp ý với Đại hội Dân Chúa: Tại sao tự buộc mình không được đối đầu?

Tháng Chín 10, 2010

Vì chủ trương đối thoại, không đối đầu nên một số vị có vai vế trong HĐGMVN đã không đồng thuận với Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt (lúc đó còn là Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nôi) đến mức bỏ rơi, cô lập Ngài và sắp xếp, gây áp lực để Ngài phải xin từ chức Tổng Giám Mục.

Cứ cho rằng các vị có ý ngay lành: để làm lợi cho Giáo Hội, chứ không phải vì những tham  vọng riêng tư, nên các vị đang tránh đối đầu, chỉ đối thoại.

Nhưng thật ra vai trò Mục Tử của quý vị có chỉ gói gọn trong việc tìm kiếm lợi ich cho Giáo Hội bằng bất cứ giá nào không? Nếu xem lại Phúc Âm thì thấy Chúa Giêsu đã không hứa đem lại thịnh vượng, an vui (theo nghĩa người đời) cho cộng đoàn bé nhỏ của Ngài. Chúa nói: “Các con sẽ bị bách hại vì danh Thầy, Các con sẽ bị thế gian ghét  bỏ vì các con là môn đệ của Thày”. Chúa không đòi hỏi các môn đệ chăm chút để xây nhiều tu viện rộng lớn, nhiều  thánh đường nguy nga: “Đã đến lúc  không còn thờ phượng trên núi nọ, đền thờ kia mà các con hãy thờ phượng trong Thánh Thần và Chân Lý”.

Chúa giao nhiệm vụ chăm sóc con người, nhất là những người yếu kém trong xã hội cho các vị: “Con hãy chăm sóc chiên mẹ và các chiên con của ta”, “Ai làm gì cho các người anh em bé mọn của ta, là làm cho ta”.

Vậy nhân danh cái gì mà các vị đánh đổi anh em để đạt được vài ân huệ của chính quyền. Cái giá phải trả cho ân huệ đó có phải là thôi không thực hiện nghĩa vụ ngôn sứ, hy sinh công lý và dửng dưng  với những khổ đau của dân tộc?Có thể các vị trả lời: Chúng tôi có làm hại gì anh em, dân tộc đâu? Với vai trò ngôn sứ, im lặng trước những khổ đau và bất công  đang xảy ra là đồng lõa với tội ác.

Làm lẫn lộn ý nghĩa của lòng trung thành với dân tộc với việc cổ súy trung thành với 1 đảng, một tổ chức đang gây quá nhiều đau thương cho dân tộc, quá nhiều thiệt thòi cho đất nước, ngăn chặn những ý kiến nêu lên những khuyết điểm của chính phủ là phản bội dân tộc.

Các vị lý luận: “Cần giữ hòa khí với chính quyền rồi từ từ thuyết phục họ”. Điều này cũng có lý trong thời gian đầu vì  cho là chính quyền và nhân dân, cũng như các tôn giáo  chưa hiểu nhau đủ (chẳng hạn thời Đức Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, ngài cũng rất trông đợi sự hiểu biết của CS  sau khi họ tiếp xúc với GHCG.) nhưng nay đã quá lâu họ đủ thì giờ để hiểu và điều chỉnh cách điều hành đất nước, nhưng họ vẫn giữ cách hành xử cũ : Không sợ Trời, không sợ người, áp dụng lề thói cai trị như thời hồng hoang. Độc đoán trong cách cai trị  về mọi mặt và độc quyền yêu nước v.v…

Đến nay, sau 35 năm họ cai trị cả nước, đã  muộn, nhưng muộn còn hơn không, để công bố và sống tin mừng Chúa Giêsu đã  công bố cho người nghèo khó, người ở địa vị thấp kém trong xã hội, người bị oan khuất v.v…

Sau đây xin đưa ra hai mẫu gương tranh đấu của thế kỷ trước:

Ông Nelson Mandela: Là một người Nam Phi, thấy cảnh bản thân và đồng loại da đen của mình bị áp bức bất công dưới Chế Độ Phân Biệt Chủng Tộc. Ông Mandela  đã đối thoại với chính quyền, đòi bình đẳng cho người da đen. Chính quyền Phân Biệt Chủng Tộc đã chọn thái độ đối đầu: Bắt giam ông.

Vì chính nghĩa ông Mandela đã chấp nhận đối đầu, ông và các đồng chí đã tranh đấu bất bạo động trong nhiều năm, riêng ông bị tù 27 năm. Gia đình ông tan nát cũng vì thời gian bị tù quá lâu của ông..

Sự kiên trì đối đầu không bạo động của ông đã đem lại công bằng cho đất nước Nam Phi. Chế độ Phân biệt Chủng Tộc đã chấm dứt. Khác hẳn dự đoán của nhiều người, không hề có tắm máu, trả thù và chính  ông Mandela đã tha thứ cho những người ra quyết định cầm tù ông. Chính phủ mới đã cấm mọi sự trả thù cá nhân và thật sự là không có nhiều cuộc trả thù do người da đen thực hiện sau thời gian đổi chế độ.

Những ai đã từng đọc cuốn sách dịch: Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu (Nguyên tác của Alan Paton) nói về thân phận đớn đau và cùng khổ của người da màu (các loại màu da khác màu da trắng) tại Nam Phi thời đó, thì đều nhận thấy sự thấy sự tha thứ không trả thù của người da đen là rất lạ lùng.

Ông Ghandi: Là một người trí thức Ấn Độ, là luật sư, không tìm sự sung túc an nhàn cho bản thân, Ông Ghandi đã đối thoại với nước Anh, đòi trả độc lập cho dân tộc Ấn. Thực dân Anh cũng chọn cách đối đầu, đàn áp ông Ghandi và phong trào đấu tranh cho độc lập của Ấn Độ. Đặc tính của cuộc đấu tranh này cũng là bất bạo động. Sau nhiều gian khổ, Ông Ghandi đã đòi được độc lập cho nước mình. Không hề hận thù, không trừng phạt những người Ấn đã cộng  tác với thực dân Anh, nước Ấn đã thực hiện hòa giải, tha thứ và trở thành  một thanh viên của Liên Hiệp Anh ngay sau khi độc lập.

Các Ông Mandela và Ghandi, tuy không phải là người Công Giáo, nhưng tôi tin rằng các ông đã được sai đi và đã làm tròn  nghĩa vụ của những Ngôn Sứ. Các ông không thù hận,không trả thù những người đã làm hại các ông và dân tộc các ông, nhưng chắc chắn các ông không yêu sự bất công, không tha thứ sự ác. Đó là điều  khiến các ông trở thành vĩ nhân, thậm chí được coi như thánh nhân: Thánh Ghandi.

Đó là hai tấm gương rất sáng, đáng để các vị chủ chăn của  GHCGVN noi theo. Đối thoại trong ôn hòa, luôn ôn hòa trong lúc gặp sự đàn áp của bạo quyền. Không sợ đấu tranh cho chính nghĩa dù bị vùi dập trong tù thời gian dài. Dù tan nát bản thân vì bạo quyền đán áp cũng không rời bỏ chính nghĩa.Tha thứ kẻ đã làm ác, nhưng không chấp nhận cái  ác được duy trì mãi.

GHCG không có tham vọng nắm chính quyền, không muốn đưa ông nọ , bà kia của mình lên cầm quyền, không giới thiệu  đảng  A, đảng B tranh cử vì không phải là việc của GH. Nhưng GHCG cần lên tiếng để bênh vực cái thiện, bênh vực  nạn nhân của cái ác, góp ý cải thiện cách cai trị của bất cứ chính quyền nào (ví còn lâu hoặc không bao giờ trần gian  có được một chính quyền hoàn thiện như Chúa mong muốn). Nếu chính quyền này có thiện chí thay đổi để dân tộc không còn khổ đau, bất công không còn ngự trị thì thật hạnh phúc cho dân tộc.

Để kết luận : Muốn  thưc hiện trọn vẹn Thiên chức Ngôn Sứ, các vị lãnh đạo GHCG cần kiên vững để đối đầu với khó khăn và đối đầu trong thương yêu và tha thứ.

An Đức


Góp ý với Đại hội Dân Chúa: Tại sao tự buộc mình không được đối đầu?

Tháng Chín 10, 2010

Vì chủ trương đối thoại, không đối đầu nên một số vị có vai vế trong HĐGMVN đã không đồng thuận với Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt (lúc đó còn là Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nôi) đến mức bỏ rơi, cô lập Ngài và sắp xếp, gây áp lực để Ngài phải xin từ chức Tổng Giám Mục.

Cứ cho rằng các vị có ý ngay lành: để làm lợi cho Giáo Hội, chứ không phải vì những tham  vọng riêng tư, nên các vị đang tránh đối đầu, chỉ đối thoại.

Nhưng thật ra vai trò Mục Tử của quý vị có chỉ gói gọn trong việc tìm kiếm lợi ich cho Giáo Hội bằng bất cứ giá nào không? Nếu xem lại Phúc Âm thì thấy Chúa Giêsu đã không hứa đem lại thịnh vượng, an vui (theo nghĩa người đời) cho cộng đoàn bé nhỏ của Ngài. Chúa nói: “Các con sẽ bị bách hại vì danh Thầy, Các con sẽ bị thế gian ghét  bỏ vì các con là môn đệ của Thày”. Chúa không đòi hỏi các môn đệ chăm chút để xây nhiều tu viện rộng lớn, nhiều  thánh đường nguy nga: “Đã đến lúc  không còn thờ phượng trên núi nọ, đền thờ kia mà các con hãy thờ phượng trong Thánh Thần và Chân Lý”.

Chúa giao nhiệm vụ chăm sóc con người, nhất là những người yếu kém trong xã hội cho các vị: “Con hãy chăm sóc chiên mẹ và các chiên con của ta”, “Ai làm gì cho các người anh em bé mọn của ta, là làm cho ta”.

Vậy nhân danh cái gì mà các vị đánh đổi anh em để đạt được vài ân huệ của chính quyền. Cái giá phải trả cho ân huệ đó có phải là thôi không thực hiện nghĩa vụ ngôn sứ, hy sinh công lý và dửng dưng  với những khổ đau của dân tộc?Có thể các vị trả lời: Chúng tôi có làm hại gì anh em, dân tộc đâu? Với vai trò ngôn sứ, im lặng trước những khổ đau và bất công  đang xảy ra là đồng lõa với tội ác.

Làm lẫn lộn ý nghĩa của lòng trung thành với dân tộc với việc cổ súy trung thành với 1 đảng, một tổ chức đang gây quá nhiều đau thương cho dân tộc, quá nhiều thiệt thòi cho đất nước, ngăn chặn những ý kiến nêu lên những khuyết điểm của chính phủ là phản bội dân tộc.

Các vị lý luận: “Cần giữ hòa khí với chính quyền rồi từ từ thuyết phục họ”. Điều này cũng có lý trong thời gian đầu vì  cho là chính quyền và nhân dân, cũng như các tôn giáo  chưa hiểu nhau đủ (chẳng hạn thời Đức Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, ngài cũng rất trông đợi sự hiểu biết của CS  sau khi họ tiếp xúc với GHCG.) nhưng nay đã quá lâu họ đủ thì giờ để hiểu và điều chỉnh cách điều hành đất nước, nhưng họ vẫn giữ cách hành xử cũ : Không sợ Trời, không sợ người, áp dụng lề thói cai trị như thời hồng hoang. Độc đoán trong cách cai trị  về mọi mặt và độc quyền yêu nước v.v…

Đến nay, sau 35 năm họ cai trị cả nước, đã  muộn, nhưng muộn còn hơn không, để công bố và sống tin mừng Chúa Giêsu đã  công bố cho người nghèo khó, người ở địa vị thấp kém trong xã hội, người bị oan khuất v.v…

Sau đây xin đưa ra hai mẫu gương tranh đấu của thế kỷ trước:

Ông Nelson Mandela: Là một người Nam Phi, thấy cảnh bản thân và đồng loại da đen của mình bị áp bức bất công dưới Chế Độ Phân Biệt Chủng Tộc. Ông Mandela  đã đối thoại với chính quyền, đòi bình đẳng cho người da đen. Chính quyền Phân Biệt Chủng Tộc đã chọn thái độ đối đầu: Bắt giam ông.

Vì chính nghĩa ông Mandela đã chấp nhận đối đầu, ông và các đồng chí đã tranh đấu bất bạo động trong nhiều năm, riêng ông bị tù 27 năm. Gia đình ông tan nát cũng vì thời gian bị tù quá lâu của ông..

Sự kiên trì đối đầu không bạo động của ông đã đem lại công bằng cho đất nước Nam Phi. Chế độ Phân biệt Chủng Tộc đã chấm dứt. Khác hẳn dự đoán của nhiều người, không hề có tắm máu, trả thù và chính  ông Mandela đã tha thứ cho những người ra quyết định cầm tù ông. Chính phủ mới đã cấm mọi sự trả thù cá nhân và thật sự là không có nhiều cuộc trả thù do người da đen thực hiện sau thời gian đổi chế độ.

Những ai đã từng đọc cuốn sách dịch: Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu (Nguyên tác của Alan Paton) nói về thân phận đớn đau và cùng khổ của người da màu (các loại màu da khác màu da trắng) tại Nam Phi thời đó, thì đều nhận thấy sự thấy sự tha thứ không trả thù của người da đen là rất lạ lùng.

Ông Ghandi: Là một người trí thức Ấn Độ, là luật sư, không tìm sự sung túc an nhàn cho bản thân, Ông Ghandi đã đối thoại với nước Anh, đòi trả độc lập cho dân tộc Ấn. Thực dân Anh cũng chọn cách đối đầu, đàn áp ông Ghandi và phong trào đấu tranh cho độc lập của Ấn Độ. Đặc tính của cuộc đấu tranh này cũng là bất bạo động. Sau nhiều gian khổ, Ông Ghandi đã đòi được độc lập cho nước mình. Không hề hận thù, không trừng phạt những người Ấn đã cộng  tác với thực dân Anh, nước Ấn đã thực hiện hòa giải, tha thứ và trở thành  một thanh viên của Liên Hiệp Anh ngay sau khi độc lập.

Các Ông Mandela và Ghandi, tuy không phải là người Công Giáo, nhưng tôi tin rằng các ông đã được sai đi và đã làm tròn  nghĩa vụ của những Ngôn Sứ. Các ông không thù hận,không trả thù những người đã làm hại các ông và dân tộc các ông, nhưng chắc chắn các ông không yêu sự bất công, không tha thứ sự ác. Đó là điều  khiến các ông trở thành vĩ nhân, thậm chí được coi như thánh nhân: Thánh Ghandi.

Đó là hai tấm gương rất sáng, đáng để các vị chủ chăn của  GHCGVN noi theo. Đối thoại trong ôn hòa, luôn ôn hòa trong lúc gặp sự đàn áp của bạo quyền. Không sợ đấu tranh cho chính nghĩa dù bị vùi dập trong tù thời gian dài. Dù tan nát bản thân vì bạo quyền đán áp cũng không rời bỏ chính nghĩa.Tha thứ kẻ đã làm ác, nhưng không chấp nhận cái  ác được duy trì mãi.

GHCG không có tham vọng nắm chính quyền, không muốn đưa ông nọ , bà kia của mình lên cầm quyền, không giới thiệu  đảng  A, đảng B tranh cử vì không phải là việc của GH. Nhưng GHCG cần lên tiếng để bênh vực cái thiện, bênh vực  nạn nhân của cái ác, góp ý cải thiện cách cai trị của bất cứ chính quyền nào (ví còn lâu hoặc không bao giờ trần gian  có được một chính quyền hoàn thiện như Chúa mong muốn). Nếu chính quyền này có thiện chí thay đổi để dân tộc không còn khổ đau, bất công không còn ngự trị thì thật hạnh phúc cho dân tộc.

Để kết luận : Muốn  thưc hiện trọn vẹn Thiên chức Ngôn Sứ, các vị lãnh đạo GHCG cần kiên vững để đối đầu với khó khăn và đối đầu trong thương yêu và tha thứ.

An Đức