Thư của linh mục Chân Tín gửi Đức Thánh Cha Benedicto XVI

Tháng Mười 7, 2010

Saigon 06.10.2010

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Con là linh mục Stephano Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, 61 năm linh mục, 90 tuổi, ở Sài Gòn – Việt Nam.

Vào năm 1989, Đức Hồng Y Roger Etchegaray, đặc sứ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II, đã đến thăm giáo hội Việt Nam. Nhân dịp đó, con có gửi cho ngài một lá thư, cho ngài biết tình hình của giáo hội Việt Nam, đưa ra nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề chọn các giám mục. Con viết: “Giáo hội tại Việt Nam sung sướng được tiếp đón Đức Hồng Y thăm viếng trong bối cảnh hiện tại của đất nước chúng con. Con tin rằng Đức Hồng Y có một sứ vụ đặc biệt, bên cạnh Hội đồng Giám mục Việt Nam và chính phủ nhân danh Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II. Vì thế, con mạn phép đệ trình Đức Hồng Y một số suy nghĩ liên quan đến giáo hội Việt Nam, trong cuộc sống nội bộ giáo hội và quan hệ với nhà nước.

Trước hết, con xin đề cập đến việc chọn lựa các giám mục: chúng con có những giám mục thánh thiện, nhưng chúng con thiếu những vị lãnh đạo kiên quyết và đồng thời chịu đối thoại với giáo dân, có khả năng điều hành đời sống nội bộ giáo hội và các quan hệ với nhà nước.

Dân Chúa ước mong việc chọn giám mục được căn cứ theo tinh thần Vaticano II và theo giá trị lãnh đạo tinh thần hơn là theo vế đạo đức và ngoan ngoãn của đối tượng. Bằng không thì không thể có đổi mới cũng chẳng có lãnh đạo. Trong đời sống của giáo hội, người ta dễ bằng lòng với một thứ đạo đức nhất định, không có chiều sâu. Trong quan hệ với nhà nước, người ta để mặc một số linh mục mệnh danh là “yêu nước” xỏ mũi. Nhóm này hoạt động hết mình cho chế độ cộng sản hơn là cho giáo hội.”

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Những lời con viết cho Đức Hồng Y Roger Etchegaray cách đây 21 năm vẫn còn nguyên vẹn.

Các giám mục Việt Nam hôm nay vẫn là những người sẵn sàng thỏa hiệp với đảng cộng sản. Họ không còn là ngôn sứ của Chúa. Như Đức Thánh Cha đã nói, họ là những con chó câm không biết sủa, hay không dám sủa, vì muốn yên thân, mặc cho chế độ cộng sản đàn áp tôn giáo, đàn áp người dân nghèo. Họ tưởng là thỏa hiệp với đảng cộng sản là đối thoại, cộng tác theo tinh thần Vaticano II. Thực ra họ đã phản bội sứ mạng ngôn sứ của họ, khi họ ra lá thư “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, ai cũng mong rằng giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ sống cho dân tộc, cho con người. Nhưng thật ra, “dân tộc” đây trong thực tế là đảng cộng sản. Làm theo đảng là sống giữa lòng dân tộc. Đối với đảng cộng sản vô thần, duy vật và độc tài, không thể đối thoại, cộng tác được, chỉ có áp đặt.

Một linh mục dòng Phanxico đã viết: “Trong cái xã hội đầy những bất công, gian dối, thối nát, tham nhũng, khi những người yêu nước, yêu tự do dân chủ, lần lượt bị kết án bất công, khi các nhà trí thức bị bịt mồm bịt miệng, chỉ vì vạch trần những âm mưu xâm lược của ngoại bang bằng mọi thủ đoạn hiểm độc nhất, khi mấy người mặc áo sắc phục công an cảnh sát làm ngơ cho bọn côn đồ mang danh quần chúng tự phát tha hồ đánh đập trấn át dân lành không tấc sắt trong tay, khi những người trẻ tìm đến tu thân nơi cửa Phật bị xua đuổi hành hạ, nhất là khi biểu tượng thiêng liêng nhất của Kitô giáo là cây thánh giá bị triệt hạ, bị đập nát, chúng ta phải hợp tác với chính quyền như thế nào?”

Giám mục Việt Nam hôm nay lao vào con đường “Đối thoại và cộng tác” một cách vô vọng. Sau 35 năm cộng sản ở miền Nam, giáo hội đối thoại và cộng tác được gì? Ảo tưởng và thất vọng ê chề!

Họ tiêu diệt ý thức đại diện quốc dân nơi các thành viên quốc hội; tiêu diệt ý thức phục vụ công chúng nơi các nhân viên công quyền; tiêu diệt ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân nơi giới công an cảnh sát; tiêu diệt ý thức bảo vệ tổ quốc nơi hàng ngũ quân đội; tiêu diệt ý thức bảo vệ luật pháp và công lý nơi các luật sư; tiêu diệt ý thức thương xót các bệnh nhân nơi các y bác sĩ; tiêu diệt ý thức làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi giới tu hành: họ biến tôn giáo thành thuốc phiện, họ muốn các nhà tu hành xây dựng đền thờ nguy nga, tổ chức lễ hội rầm rộ, mà hoàn toàn dửng dưng trước cảnh đồng bào bị đàn áp, xã hội bị băng hoại, tổ quốc bị lâm nguy; tiêu diệt ý thức giáo dục nơi các thầy cô giáo – nền giáo dục cộng sản là nền giáo dục mang tính chính trị, không nhằm đào tạo những công dân tự do và trưởng thành cho đất nước, nhưng là nhào nặn ra những người dân khiếp nhược và nô lệ cho đảng.

Kính thưa Đức Thánh Cha, vào ngày 15.08.1989, một nhóm linh mục và giáo dân, trong đó có con, đã viết một bức tâm thư gửi Hội đồng Giám mục Việt Nam về nhiều vấn đề của giáo hội Việt Nam, trong đó có vấn đề liên quan đến xã hội: “Chúng con yêu cầu Hội đồng Giám mục cần phải lên tiếng bênh vực công bằng xã hội, phẩm giá con người, chống lại mọi bất công áp bức, dù phải vì thế mà tiếp tục con đường thập giá, chứ không được bình chân như vại của thế gian. Chúng ta phải đồng hành với dân tộc, sống Tin Mừng giữa lòng dân tộc… chúng ta cũng chỉ đồng hành trên con đường tiến bộ, nhân bản, dân chủ và thịnh vượng, do đó giáo hội không được làm ngơ trước những gì phản lại con đường này của dân tộc. Giáo hội lại không thể cầu cạnh, khúm núm van xin từ phía thế quyền”.

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Con viết lá thư này cho Đức Thánh Cha với sự đồng tâm của nhiều linh mục tu sĩ, giáo dân đứng trước tình trạng các giám mục im lặng trước bất công, chúng con rất bất bình.

Chúng con mong Đức Thánh Cha đẩy mạnh các giám mục Việt Nam dấn thân bảo vệ con người, chống lại những bất công của một chế độ vô thần duy vật, độc tài.

Kính xin Đức Thánh Cha chúc lành cho chúng con. Kính xin Đức Thánh Cha nhận những tâm tình biết ơn của chúng con.

Kính

Linh mục Stephano Chân Tín

38 Kỳ Đồng – P.9 – Q.3

DT. 0128.521.9768

Bản Tiếng Anh:

Saigon October 6, 2010

His Holiness,

I am Rev. Stephenus Chan Tin, CSsR. I am 90 years old and have been living in priesthood for 61 years. Now I am living in Saigon, Vietnam.

In 1989, Cardinal Roger Etchegaray, Envoy of Pope John Paul II, visited the Church in Vietnam. On that occasion, I sent him a letter to report the situation and problems of the Church in Vietnam, particularly electing of Bishops.

I wrote, “The Church in Vietnam is very happy to welcome you. I think that you on behalf of Pope John Paul II have a special mission along with the Episcopal Conference of Vietnam and the Government. Therefore, I venture to submit you some of my opinions of the Church in Vietnam, its internal life and also its relationship with the Government.

First of all, I would like to deal with electing of Bishops. We have a holy Episcopate but we lack resolute Bishops who are willing to have dialogue to the lay people, able to deal with the Church’s internal life and the relationship with the Government.

The people of God wishes electing of Bishops is based on the spirit of the Second Vatican Council and the spiritual leadership rather than the piety and docility of candidates. If not, there will not be either renewal nor leadership. In the life of the Church, people is easy to content with a certain pieties, lacking the depth. In the relationship with the Government, some “patriotic priests” are allowed to lead the Church. This group do the best efforts for the sake of Communist party rather than the Church.”

His Holiness,

The letter that I sent Cardinal Roger Etchegaray 21 years ago is still realistic.

Bishops in Vietnam today are still those who are willing to compromise with the Communist party. They are no longer the prophets of God. They are “mute dogs,” do not bark, as you said, they do not dare to bark because they want to protect themselves, in despite of the religious and social oppression. They think that the compromission with the Communist party is the dialogue and co-operation in the light of the Second Vatican Council. In fact, they betray their prophetic mission. In 1980, when they issued the pastoral letter named “Living out the Gospel in the midst of the Nation,” everyone expected that the Catholic Church in Vietnam would live for the sake of the Nation and the people. However, the Nation is identified to the Communist party in this letter. To conform to the party is to live in the midst of the Nation. For the Communist party which is atheistic, material and dictatorial, there will not be able to have dialogue and co-operation. There is imposition only.

A Franciscan priest in Vietnam wrote, “In the society which is full with injustice, deceit and corruption patriots, freedom and democracy lovers are one by one sentenced unjustly, the intellectual are silenced just because they uncover invaded plots of foreign country which is performed in the wickest way, the police ignore to allow the bad alleged “spontaneous people” to beat badly the innocent in defenceless, the youth who come to joint the Buddhist pagoda are beaten and expelled, especially the most holy symbol of Christianity, the cross, is broken down by explosion, how can we co-operate with the Government?

After 35 years, the Communist party exterminate the awareness of representative of Congressperson, eterminate the awareness of public service of the public officers, eterminate the awareness of protection and respect for the people of the police, exterminate the awareness of protection the country of the military, exterminate the awareness of conforming to the law and justice of the lawyers, exterminate the awareness of compassion for the patient of the doctor and nurse, exterminate the awareness of witness to the truth and reason of the clergy. They change the religion into opium. They want the clergy to build big churches, to hold luxury festivals but to ignore those who are oppressed, degenerated society, the country in peril. They exterminate the awareness of teaching of the teachers. The Communist education is politicized to mold the coward and slaves to the party rather than to educate free and mature citizents for the country.

His Holiness,

In August 15, 1989 a group of priest and lay people, among them is I, wrote a heart letter to the Episcopal Conference of Vietnam to deal with many problems of the Church in Vietnam, among them is social ones. It read, “We ask the Episcopal to speak up to protect social justice, human dignity, to oppose injustice and oppression, in despite of the price of cross and the loss of false peace of the world. We have to accompany the nation, living out the Gospel in the midst of the nation… We also need accompany humanism, progression, democracy and prosperity. So the Church can not ignore what works against these insights. The Church can not request favours and be obsequious to the secular authorities.”

His Holiness,

I wrote this letter with consent of many priests, religious and lay people. We are discontented with the silence of Bishops.

We beg you to impulse Bishops in Vietnam to commit in protection of people, against injustice of atheistic, material and dictatorial government.

We beg you to bless us.

In gratitude,

Rev. Ste. Chan Tin, CSsR

No. 38 Ky Dong St., Ward 9, Dist. 3, Vietnam.

Cell phone: 0128 521 9768


Giáo hội Việt Nam: Đối thoại và Đối đầu

Tháng Mười 3, 2010
Cám ơn bác Tiền Hô đã đưa lời phát biểu của Đức Hồng Y Giuse Trần nhật Quân lên mạng cho bà con được thấy khí phách của một vị chủ chăn, dù đã về hưu mà còn “già gân” lắm. Nhỏ tới lớn tôi sống tại miền Nam nên rất “chịu” khí phách của vị Hồng Y “già gân” này, vì nó giống y chang tính cách của người dân Nam Bộ nghĩ sao nói vậy và nói thẳng re không cần rào trước đón sau. Ai mà không biết đối thoại là tốt là đẹp là ý nghĩa, là hợp Phúc Âm, là tinh thần công đồng Vatican II, là hợp thời đại mới … vân vân và vân vân. Đức Hồng Y Giuse Trần Nhật Quân là người hiểu rõ điều đó hơn ai hết, nhưng rồi ngài cũng đành phải chịu mang tiếng đối đầu, vì biết rằng không thể đối thoại. Vấn đề đối thoại mà cha Jeroom đặt ra cho Giáo hội Trung quốc chẳng khác chi vấn đề tại Việt nam và hiện nay nhiều bậc vị vọng muốn viện dẫn đủ các lý chứng khuyên Giáo hội Việt nam nên đối thoại với chính quyền, tuy nhiên phản ứng của Đức Hồng Y Giuse Quân khiến người ta phải suy nghĩ để có thái độ đúng đắn trong đối thoại và thái độ của Đức Hồng Y khuyến khích mọi người nhất là người miền Nam hãy giữ lấy phong cách Nam Bộ “nói thiệt tình”, “có sao nói dzậy”.

Cũng giống như nhiều từ ngữ khác chịu tác động biến đổi của thời gian, của không gian và của các nhóm nhỏ sống thân tình, từ “đối thoại” không khỏi chịu nhiều biến đổi, chịu nhiều “cưỡng bức” đến nỗi những ai đã có kinh nghiệm đều phải dè dặt khi dùng từ ngữ đẹp hết biết này, vì “rằng hay thì thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế này”. Để khỏi mất nhiều thời giờ lý luận lòng dzòng vốn không mấy thích hợp với dân Hai Lúa nói thẳng ruột ngựa, tôi xin được nói dzô ngay các sự kiện đã được trải nghiệm, chứng nghiệm và đã trở thành kinh nghiệm đắng cay và khi nhắc lại những sự kiện này không có ý phê phán ai vì đã thuộc về quá khứ, chỉ mong qua những kinh nghiệm đau thương đó rút được những bài học hữu ích cho Giáo hội Việt nam trong những “đối thoại” sau này, nếu có.

Sự kiện 1
NHỤC MẠ VÀ XUA ĐUỔI ĐỨC KHÂM SỨ H. LEMAITRE KHỎI SÀI GÒN

Tôi sống ở miền quê, đâu được biết những việc diễn ra tại Sài gòn thời đó là thủ đô của miền Nam. Nghe thuật lại rằng sau ngày 30-04-1975, một nhóm linh mục và giáo dân “tiến bộ” có thể “đối thoại” với chính quyền cách mạng đã đến Tòa Khâm Sứ đặt tại Sài gòn nhục mạ và xua đuổi Đức Khâm sứ Henri Lemaitre ra khỏi Việt nam. Nghe nói một linh mục đã nắm áo kéo lê kéo lết ngài ra khỏi Tòa Khâm Sứ gì đó. Hỏi lý do tại sao làm như dzậy thì ra đó chỉ vì cách mạng thường kết án “đạo công giáo là đạo Tây”, “theo công giáo là theo Tây”, là “lệ thuộc ngoại bang”, là theo “thế lực thù địch nước ngoài chống phá cách mạng”, những người đến nhục mạ và xua đuổi Đức Khâm Sứ nghĩ rằng xua đuổi Đức Khâm Sứ là xua đuổi “thế lực nước ngoài” là chứng tỏ mình “không đi với ngoại bang” và như thế để dễ nói chuyện với cách mạng, dễ “đối thoại” với cách mạng.

Tôi không được chứng kiến, nhưng chỉ nghe thuật lại đã thấy nóng máu rồi, nóng máu muốn khùng luôn, thiệt là ác đức sao vụ này diễn ra ngay tại thủ đô miền Nam mà đó đâu phải tính cách của người miền Nam vốn trọng chữ tín, chớ đâu phải như mấy người đến xua đuổi Đức Khâm Sứ là những người bất tín, họ nghĩ rằng mình đang tiến hành đối thoại, nhưng đó là cuộc đối thoại bất tín, không phải chỉ bất tín với bạn bè mà còn bất tín cả với niềm tin mà họ đang tuyên xưng nữa. Mấy cha nội này nghĩ gì mỗi khi đọc kinh Tin Kính: “Tôi tin Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”? Xua đuổi Đức Khâm Sứ là bất tín. Để đối thoại mà thành kẻ bất tín như thế là tự phản bội chính mình, hành động đó bị chi phối bởi chính trị chứ không theo niềm tin, mà nếu không còn tin vào điều mình tuyên xưng thì đâu còn ở trong Giáo hội nữa.

Người miền Nam thường mềm dẻo hơn so với người miền Bắc vì thế người ta dễ kết án người miền Bắc là cứng rắn và thích đối đầu, nhưng nếu mềm dẻo mà trở thành bất tín thì tôi phản đối kịch liệt. Nên nhớ cách mạng tiến hành ở miền Bắc trước miền Nam và trong thời cách mạng tại miền Bắc, chính quyền cũng đã tuyên truyền “theo đạo là theo Tây”, là “theo ngoại bang”, là “dựa vào thế lực nước ngoài chống phá cách mạng”, vậy mà giáo sĩ và giáo dân miền Bắc đâu có ai ngán lời kết án của cách mạng, nên cứ việc tin vào Thiên Chúa và trung tín với Giáo hội. Năm 1959, khi Nhà Nước ra lệnh trục xuất hết các vị thừa sai nước ngoài, trong đó có Đức Khâm Sứ Dooley, nhưng thái độ của giáo sĩ và giáo dân miền Bắc đối xử với vị đại diện Tòa Thánh khác hẳn so với mấy ông cấp tiến trong Nam. Khi Đức Khâm Sứ Dooley bị trục xuất, hết thảy giáo dân đến tiễn đưa ngài, cảnh tượng càng thê thảm và xúc động vì ngài đã mệt đừ phải nằm cáng mà đi khiến người ta có cảm tưởng đó là một đám tang, cũng đúng thôi, vì chia ly này còn trông mong gì tái hợp, còn buồn thảm hơn đám tang là khác. Đức Hồng Y Khuê dẫn đầu phái đoàn tiễn đưa mà tất cả mọi người, kẻ đi, người ở đều bùi ngùi xúc động không cầm được nước mắt. Trước khi ra đi, ngài còn viết thư cám ơn Đức Hồng Y Khuê vì đã cho ngài mượn cơ sở của tòa giám mục và đồng thời bàn giao những đồ đạc hiện có trong Tòa Khâm Sứ. Cuộc tiễn đưa tưởng không thể nào chấm dứt vì cha con bạn bè bịn rịn thương mến trong tình hiệp nhất khắng khít khiến Nhà Nước tức giận kết án giáo sĩ và giáo dân Hà nội là theo Tây, vọng ngoại, nhưng Đức Hồng Y Khuê và giáo dân Hà nội đâu có ngán gì lời kết án của Nhà Nước nên vẫn hiên ngang sống và diễn tả niềm tin vào Chúa, lòng trung tín với Giáo hội, với Đức Thánh Cha qua việc bày tỏ tình cảm gắn bó mật thiết với Đức Khâm Sứ là đại diện của ngài. Lòng trung tín càng qua gian nan thử thách càng sáng tỏ, đúng là qua gian nan thử thách mới biết vàng thiệt vàng giả, bạn thiệt, bạn hờ.

Sự kiện 2
VIỆC TÔN PHONG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM.


Một sự kiện khác om sòm hơn vì được truyền thông Nhà Nước đưa lên báo đài nhiều lần, đó là sự kiện Phong Thánh Tử Đạo năm 1988, một chiến dịch công kích các vị thánh trên các phương tiện báo đài, ở mọi cấp độ, trong mọi cơ quan, kéo dài nhiều ngày tháng đã khiến cho một số người, trong đó có cả những vị chức sắc cao cấp, chao đảo, bàn tới rồi “Bàn Lui”, đề nghị xét lại để “đối thoại” với Nhà Nước qua trung gian Ủy ban Đoàn Kết và báo Công giáo và Dân tộc là những cơ quan luôn sát sao thực hiện chỉ thị của Đảng với lập luận cơ bản trích dẫn lý luận của Nhà Nước: có nhiều vị tội lỗi không xứng đáng được phong thánh. Không biết nền tảng thần học của những vị này thế nào và đức tin của những vị này ra sao mà để cho những kẻ vô thần hướng dẫn một việc thuần túy đạo giáo lại thuộc phạm vi đức tin như thế. Họ cũng nghĩ rằng mình đang đối thoại, nhưng đó cũng là cuộc “đối thoại” bất tín. Để đối thoại mà phải chối bỏ đức tin của mình thì có khác gì bước qua thập tự trong thời cấm đạo đâu. Tôi buồn nhứt là mấy vụ này xảy ra trong Nam nhiều hơn ngoài Bắc.

Trong khi đó ngoài Bắc có thái độ khác hẳn: Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh văn Căn, sau khi làm đơn thỉnh nguyện phong thánh cho các vị tử đạo tại Việt nam, bị chính quyền hạch sách đêm ngày rất mỏi mệt, thế nhưng ngài vẫn kiên cường giữ vững lập trường. Đức cha F.X Nguyễn văn Sang kể lại: “Số là trong cuộc xáo động cách đây mấy chục năm về viễn tượng Giáo Hội Công Giáo Rôma sẽ phong 117 Á Thánh Tử Đạo Việt Nam lên hàng Hiển Thánh, các cuộc hội họp diễn ra khắp nơi trong đấu nước, lời qua tiếng lại khen chê đủ kiểu. Chúng tôi-Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (lúc đó tôi đang làm tổng thư ký) được triệu tập ra cơ quan để nghe một vị có trách nhiệm thuyết trình. Vị đó nói rất hùng hồn và lôi cuốn, nhưng đa số những lời đó là để chỉ trích bôi nhọ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những người bán nước, đầu trộm, gian thương, xấu nết…

Đột nhiên tôi thấy Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh văn Căn quỳ xuống ôm mặt khóc ầm lên và lớn tiếng kêu: “Xin thôi, xin thôi! Ông không có quyền thóa mạ, bôi nhọ cha ông chúng tôi là những người chúng tôi yêu mến và kính trọng”. Nói đọan, ngài lại lớn tiếng khóc hu hu…

Các Giám Mục thấy sự việc như vậy, yên lặng rút lui ra khỏi căn phòng, và cuộc họp tự động được kết thúc không kèn không trống”. (ĐC FX Nguyễn văn Sang, Giũ bụi trần ai, lưu hành nội bộ, 2010, tr.224-225).

Đó mới thực là đối thoại vì đối thoại mà vẫn giữ được lòng trung tín, giữ được đức tin của mình, dù phải than van khóc lóc, dù bị vùi dập, qua vụ này tôi thấy miền Bắc cứng rắng thì có nhưng đối đầu thì không, nhưng tôi “chịu” nhứt là Đức Hồng Y Căn, khóc lóc như thế, nhưng lại rât kiên quyết, rất gần với tính cách người dân Nam Bộ, dầu chết, dầu thiệt thòi vẫn chịu chớ không chịu đánh mất chữ tín.

Sự kiện 3
XUA ĐUỔI ĐỨC CỐ HỒNG Y F.X NGUYỄN VĂN THUẬN.


Mỗi lần nhắc đến Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận tôi không khỏi ngậm ngùi xen lẫn với mắc cở vì mình là người miền Nam mà sự việc lại diễn ra tại thủ đô miền Nam. Khi nhóm linh mục và giáo dân cấp tiến Sài gòn đến xua đuổi ngài ra khỏi Sài gòn, Đức Cố Hồng Y hỏi họ: Tôi có tội gì mà phải ra đi, một linh mục trả lời: Đức Cha tròn trịa quá nên không ai bắt được tội gì, nhưng Đức Cha nên ra đi thì có ích lợi cho Giáo hội; Đức Cố Hồng Y nói: Tôi chỉ vâng theo ý Chúa, vâng lệnh Tòa Thánh chứ không vâng lệnh “người khác”. Tưởng gì té ra là tại vì chính quyền cách mạng đã chống đối tổng thống Ngô đình Diệm là cậu ruột của ngài, kết án ngài thuộc bè lũ Mỹ – Diệm, nên mấy cha nội tự xưng là “cấp tiến” đó nghĩ rằng xua đuổi ngài ra khỏi Sài gòn là họ không thuộc bè lũ Mỹ – Diệm, thì họ dễ sống hơn, dễ “đối thoại” với Nhà Nước hơn.

Những người ấy nghĩ rằng mình đang đối thoại với Nhà Nước, nhưng đó là cuộc “đối thoại” bất nghĩa. Những người ấy chính là anh em với ngài trong Giáo hội, trong tình nghĩa linh mục, là cha con trong tình nghĩa giám mục vậy mà khi gặp nguy nan đã quay mặt phản bội, vì một chút lợi lộc nhỏ nhoi khi muốn đối thoại với Nhà Nước họ đã cắt đứt tình nghĩa với anh em, phản bội và bán đứng người cha của mình, không xứng đáng với tính cách của người dân Nam Bộ chúc nào. Hỏi ra mới biết trong số này không thiếu những người thân thiết gần gũi với ngài, khi ngài gặp nạn chẳng dám hó hé một câu, dù những người này xưa kia rất thân cận với Nhà Nước, chưa hết, thời cuộc biến đổi, thì trơ trẽn thay, khi ngài được vinh thăng hồng y thì cũng chính những người này lại rêu rao khắp nơi là bạn của ngài, thiệt là hết biết mấy ông này, đổi trắng thay đen, bất nhơn bất nghĩa đến thế là cùng.

Tôi đau đớn mắc cở hơn nữa vì miền Nam là nơi Đức Cố Hồng Y làm việc và sinh sống, chẳng ai nói gì bênh vực che chở cho ngài, Tổng Giáo Phận Sài gòn là nhiệm sở của ngài, nhưng chính một số người trong giáo phận đó đã có sáng kiến xua đuổi ngài. Tôi hết sức “chịu” người miền Bắc vì giáo dân miền Bắc yêu mến ngài, có Đức Cha đã làm đơn xin Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm việc cho miền Bắc dù ngài chỉ ở miền Bắc một thời gian ngắn, thực là “một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen”, dù làm như thế là trái ý Nhà Nước, lập tức bị kết tội là đối đầu, phải chăng cứ nói và làm thuận theo Nhà Nước là đối thoại, nói và làm khác ý Nhà Nước là đối đầu, dù bênh vực anh em mình một cách chính đáng, với tình nghĩa ít ra là của bằng hữu bình thường chứ chưa nói đến tình bác ái huynh đệ phải có giữa những người môn đệ của Chúa?

Trong nhiều vụ khác như vụ Vinh Sơn, vụ các nhà dòng bị bắt người và tịch thu nhà cùng của cải, thiệt đau lòng là những người anh em linh mục, tu sĩ đứng lên tố cáo, kết tội anh em của mình, đau đớn nhứt là dòng Đồng Công, một người anh em cựu tu sĩ của Đồng Công nay đứng về phía Nhà Nước dõng dạc kết tội anh em với một thái độ rất trí thức và rất “đối thoại”, ngược lại thì cũng mau lẹ quá, khi cố Thủ tướng Phạm văn Đồng vừa nằm xuống đã lập tòa phong ngài Thủ Tướng làm thánh vì là “người công chính”, chẳng biết sau khi đọc công hàm bán nước do ông này ký vào năm 1958, ngòi bút này phải bẻ cong thế nào cho phù hợp?

Trong vụ Tòa Khâm Sứ, khi nghe tin Nhà Nước muốn trục xuất Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô quang Kiệt, toàn thể các vị trong HĐGM đã phản đối, nhưng cũng có vài người tuy không ở trong HĐGM vẫn tự xưng là cao trọng và quan trọng trong Giáo hội đã mau chóng “đối thoại” với Nhà Nước, xun xoe tuân hành “thánh chỉ” của Nhà Nước, chạy đôn chạy đáo vận động trừng phạt Đức Tổng Kiệt, sắp xếp đưa ngài đi nơi khác và quà cáp nịnh bợ người mà họ nghĩ sẽ thay thế ngài tại Hà nội (tiếc là người này không biết Đức Tổng Nhơn được Tòa Thánh chọn nên đã vận động sai chỗ), trong số đó có người lúc nào cũng tự xưng là thân hữu yêu mến Đức Tổng Kiệt, chịu hết nổi bộ mặt không những giả nhơn giả nghĩa mà còn tệ hơn thế, bất nhơn và bất nghĩa này rồi.

Trong khi đó tại Hà nội, nơi Đức Tổng Kiệt làm việc, tính cả thời gian làm giám quản, chỉ mới 7 năm, thế mà hầu hết giáo sĩ và giáo dân sẵn sàng chết vì ngài và với ngài và bằng mọi cách anh em bênh vực ngài, bảo vệ ngài với tình nghĩa gắn bó dám cùng sống cùng chết với nhau và như thế bị kết án là đối đầu, đúng là vì nghĩa quên mình. Thiệt đúng với phong cách Nam Bộ: “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”. Tôi khoái giáo dân miền Bắc rồi đó.

Sự kiện 4
VẤN ĐỀ TÀI SẢN CỦA GIÁO HỘI


Tôi không có ý đề cao tiền của, càng không có ý vận động đòi đất, tuy có lúc cũng cần phải lên tiếng đòi. Như bàn dân thiên hạ đã thấy trong vụ Tòa Khâm Sứ đòi đất chỉ là cái cớ, chỉ là một cơ hội cho những người bị bịt miệng bấy lâu được lên tiếng, bằng cớ là sau đó Nhà Nước quảng đại đề nghị đổi lấy miếng đất khác nhưng đâu có ai chịu đổi. Trong cuộc đời cũng như trong Giáo hội, tiền của là một dụng cụ tốt để thử thách phẩm giá, đức hạnh của con người. Sau năm 1975, tuy không phải là hết thảy nhưng có một số nơi kia đã làm giấy hiến tài sản cho Nhà Nước để được yên thân, việc này ngày nay vẫn còn ray rứt lương tâm nhiều người, vẫn còn đó câu hỏi: người ta có quyền sang, nhượng, hiến những tài sản của Giáo hội không? Những ai được Chúa đặt để coi sóc gia sản Giáo hội làm như thế có phải là thái độ của người quản gia trung tín và khôn ngoan không.

Điều đáng nói ở đây là thái độ của người trách nhiệm đối với những con người và tài sản thuộc phạm vi trách nhiệm của mình: Tỉ dụ khi nhà mình bị cướp, người nhà mình bị oan ức, hành hạ, đã chẳng dám lên tiếng thì chớ, lại còn chối bỏ những người thuộc về mình, chối bỏ tài sản Giáo hội giao cho mình trông coi gìn giữ, tệ hại hơn, sau đó lại thơn thớt nói cười, bắt tay bắt chân với những người đã từng cướp của nhà mình, giết người nhà mình, làm như là bạn hữu nghĩa thiết lắm, tồi tệ nhứt khi gặp họ vẫn phải nói những lời tâng bốc quá đáng mà kẻ nói lẫn người nghe đều biết là không thật sự và không thật lòng, khiến người có lương tri và lòng tự trọng cảm thấy có cái gì đó không ổn của một con người không biết tự trọng, thiếu trách nhiệm và tự làm mất phẩm giá mình trước mặt đối phương, khúm núm là một thái độ không xứng đáng với một con người nhất là người trí thức, giả dối lại càng không xứng đáng với người tu hành chuyên dạy chân lý. Tóm lại đó là thái độ của người quản lý bất trung, có người cho rằng như thế để dễ “đối thoại”, phải rồi đối thoại thì có nhưng đó là cuộc “đối thoại” bất trung.

Nói nữa e rằng quá đáng, tôi lại “chịu” thái độ của miền Bắc, vì tại miền Bắc có thể có vài trường hợp cá biệt còn hầu hết không một nơi nào và một người nào đã làm giấy hiến tài sản của Giáo hội, chỉ có Nhà Nước đã ngang nhiên chiếm đọat, thái độ đó làm nổi rõ hành vi cướp bóc của kẻ chiếm đọat, ngược lại hiến tài sản không những đồng lõa mà còn hợp thức hóa tội phạm cướp bóc đó.

Sự kiện 5
ĐỐI THOẠI GIỮA TÒA TGM VÀ UBND TP HÀ NÔI



Dầu cho hầu hết thảy mọi người ở khắp mọi nơi đều biết được cuộc đối thoại thời danh giữa Tòa Tổng Giám mục và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà nội ngay sau vụ đập phá Tòa Khâm Sứ, tôi cũng xin tóm tắc sơ lược như sau: Ủy ban Nhân dân thành phố Hà nội mời Đức Tổng Kiệt và Tòa Tổng Giám mục Hà nội “đối thoại” về vụ Tòa Khâm Sứ, Văn phòng Tòa TGM thông báo sẽ có một đoàn gồm 20 người tháp tùng Đức Tổng Kiệt và UBND nhất trí. Đến thời điểm đã hẹn, đoàn Tòa TGM ra thì đã thấy cổng UBND có barie sắt ngăn chặn, người gác cổng chỉ đồng ý cho một mình Đức Tổng vào, Tòa TGM nói đã nhất trí là đoàn gồm 20 người, sau khi người gác cổng vào thỉnh ý cấp trên lại ra mặc cả: Chỉ cho 10 người vào, Tòa TGM vẫn nhắc lại thỏa thuận đoàn gồm 20 người, cuối cùng cũng nhất trí như đã thỏa thuận ban đầu, nhưng không được mang máy quay phim, chụp ảnh, Tòa TGM phản đối: Tại sao các ông có nhiều máy quay phim chụp ảnh thế kia mà bên tôi lại không được, nếu không đồng ý cho quay phim chụp hình vào, chúng tôi sẽ ra về, sau cùng rồi cũng được. Nhưng khi loan tin về cuộc đối thoại, các phương tiện thông tin của Nhà Nước đã cắt xén và xuyên tạc lời phát biểu của Đức Tổng và một chiến dịch công kích Đức Tổng được phát động trên tất cả các phương tiện truyền thông, trong các cơ quan của Nhà Nước, lan rộng tới cả các đoàn thể, thậm chí cả các địa phương. Thật là gian dối, bẩn thỉu và trắng trợn, mèng đéc ơi như dzậy mà gọi là đối thoại hay sao? Có chăng một cuộc “đối thoại” bất minh và bất chính.

Sự kiện 6
ĐỐI THOẠI GIỮA HĐGM VỚI THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG


Sau khi vụ Tòa Khâm Sứ nổ ra, các vị đại diện trong Hội đồng Giám mục đã ra Hà nội gặp Thủ Tướng, hi vọng có một cuộc đối thoại chân thành cởi mở để giải tỏa vấn đề và bênh vực cho Đức Tổng Hà nội là người anh em của mình, nhưng trong suốt buổi gặp gỡ, Thủ Tướng đã cướp hết lời, không những không để cho các vị trong Hội đồng Giám mục được phát biểu, mà còn lên lớp dạy dỗ các ngài và qua các ngài dạy dỗ Đức Tổng Kiệt.

Đó là một cuộc đối thoại cay đắng, “đối thoại” bất tương kính. Ông Thủ Tướng không kính trọng người đối thoại, dù đó là những vị chức sắc cao cấp nhất trong Giáo hội Công giáo tại Việt nam, đại diện cho cơ quan cao cấp nhất của Giáo hội Công giáo Việt nam, rõ ràng không có đối thoại mà chỉ có truyền lệnh và buộc vâng lời. Tuy nhiên cuộc đối thoại bất tương kính bộc lộ ai mới là người đáng kính và đây đúng là một đối thoại theo kiểu Nhà Nước đúng nghĩa “đối thoại là vâng lời”.

Sự kiện 7
ĐỐI THOẠI GIỮA TÒA TGM SAIGON VÀ UBND TP HỒ CHÍ MINH

Khi biết tin UBND thành phố Hồ chí Minh phát mãi khu nhà tập thể số 11 đường Nguyễn Du, vốn là tài sản của Tổng Giáo phận Sài gòn, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm minh Mẫn đã có văn thư phản đối từ đó đưa đến một cuộc đối thoại giữa Tòa Tổng Giám mục và UBND thành phố Hồ chí Minh mong tìm được giải pháp tốt đẹp. Tại cuộc họp này, Tòa TGM cho rằng UBND thành phố đã làm sai, UBND thành phố trả lời: Biết là sai nhưng không sửa, cuộc đối thoại bất thành vì đó là cuộc đối thoại bất tri lý.

Hai Lúa trong cơn bức xúc chỉ muốn nói vài lời không ngờ lại thành “dài lời” mà trong trí nhớ còn quay cuồng vô vàn sự kiện khác, nhưng có lẽ chỉ cần 7 sự kiện nói trên cũng đủ để hiểu thực chất cuộc đối thoại lâu dài giữa Giáo hội Việt nam với Nhà Nước này đã từng diễn ra thế nào và như thế có thể hiểu từ ngữ “đối thoại” đã từng có nhiều nghĩa như thế nào và vì thế “đối thoại” là không đơn giản như tính cách người Nam Bộ ăn ngay nói thẳng.

Có những danh từ đẹp ơi là đẹp, mới nghe đã thấy mê, đó là những mỹ từ, nhưng thực chất của những mỹ từ đó là gì, muốn có thực chất phải được kinh qua lịch sử, qua thực tế mà qua lịch sử thực tế đã có những cường quyền cưỡng từ đọat lý, thu nhận cho mình tất cả những từ ngữ, những phẩm chất đẹp đẽ nhất trên đời, chỉ sau một thời gian dài người ta mới hiểu rõ ý nghĩa thực sự ẩn đàng sau những mỹ từ đó. Có cần trích dẫn vài mỹ từ thường được xã hội sử dụng không? Cho tôi thử vài từ nghe.

Thiên đường. Thiên đường là nơi ai cũng mơ ước. Vì thiên đường là nơi hạnh phúc tràn đầy, có đầy đủ mọi thứ con người mơ ước. Lý thuyết cộng sản cũng đã tự hào đã tạo nên “thiên đường cộng sản”, nhưng sau khi bộ mặt thật của các chế độ cộng sản được phơi bày, ai cũng sợ phải sống trong thứ “thiên đường” ấy, bằng chứng là các nước Đông Âu đã phải tự nguyện phá bỏ “thiên đường cộng sản” mà họ dầy công xây dựng trong vòng gần một thế kỷ, vì thiên đường đó là thiếu ăn, thiếu mặc, và nhất là thiếu tự do, thiếu công bằng, thiếu văn minh, thiếu dân chủ. Thực tế trong suốt lịch sử cộng sản, ít thấy ai từ “địa ngục tư bản” trốn sang “thiên đường cộng sản”, trái lại chỉ thấy bà con nườm nượp tìm đường ra khỏi “thiên đường”, thà chịu chết trên biển cả, thà chịu nguy hiểm trong rừng sâu, thà chịu bỏ hết của cải trong “thiên đường”, rồi cho đến nay thiệt động trời, Fidel Castro, một lãnh tụ cộng sản tầm vóc của một trong những nước cộng sản cuối cùng, người anh em thân thiết của Việt Nam, người có nhiệm vụ “canh giữ hòa bình” khi Việt Nam ngủ, đột nhiên “đào ngũ” không những từ bỏ nhiệm vụ “canh giữ hòa bình cho thế giới” mà còn từ bỏ luôn cái “thiên đường” đã bao năm tốn hằng núi xương sông máu để xây dựng, khi thú nhận là hệ thống này không còn thích hợp nữa (Tin BBC ngày 10/09/2010).

Dân chủ. Dân chủ là niềm mơ ước của con người nên bao thế hệ đã phải tiến hành đấu tranh, đổ bao xương máu đổ ra để tìm dân chủ tức là tìm quyền làm chủ của dân, để người dân có tự do, hạnh phúc, có quyền đi tìm hạnh phúc. Chế độ cộng sản tự cho rằng “dân chủ gấp triệu lần” chế độ tư bản, và tư bản là “kìm kẹp” dân chủ, nhưng thực tế cho thấy tại đất nước triệu lần dân chủ ấy còn thiếu quá nhiều tự do, cho đến một quyền tự do cơ bản là được phát biểu cũng không có. Hãy nhìn vào thực tế tự do ngôn luận, điển hình là báo chí, ông Thứ Trưởng công an tuyên bố đã đánh sập 300 blog cá nhân, ông Thủ Tướng đã chỉ thị không được có báo chí tư nhân và báo chí phải đi theo lề phải, những ai lên tiếng phê phán chế độ phải vào ngồi tù, thậm chí phê phán chế độ của Trung quốc thôi cũng phải vào tù, nay lại đến chỉ thị không được khiếu kiện đông người, còn hơn thế nữa, Đảng đã minh định: phương tiện truyền thông là để phục vụ quyền lợi của Đảng. Dịp tổng thống George Bush thăm Việt nam, Việt nam tự hào là không hề có biểu tình, trái lại khi ông sang nước láng giềng Việt nam, đã có biểu tình chống ông, nhưng ông thản nhiên phát biểu: biểu tình là bình thường của một xã hội lành mạnh. Ai đã có kinh nghiệm, đã từng nếm mùi “dân chủ gấp triệu lần”, chỉ mong được sống trong một nền dân chủ một phần triệu như thế này, chỉ mong được sống trong “kìm kẹp” để có thể được lên tiếng, được phát biểu tư tưởng và chỉ được đơn sơ bày tỏ lòng yêu nước, được chống xâm lược thôi.

Sự thật. Ai cũng muốn tìm sự thật. Chúa Giêsu đã dậy: “Sự thật sẽ giải phóng anh em”(Ga 8, 32). Liên xô xưa kia có báo Pravda, Việt nam có hẳn một nhà xuất bản “Sự Thật”, nhưng ai đã được chứng kiến và đã được nếm mùi “sự thật” của các chế độ cộng sản rồi thì phải giật mình kinh hãi, chắc chắn Đức Tổng Kiệt đã hiểu thế nào là “sự thật” theo báo đài Nhà Nước rồi, đối với chế độ cộng sản sự thật không phải là những gì phù hợp với chân lý khách quan, nhưng “sự thật là những gì có lợi cho Đảng”. Sự thật chỉ do Đảng xuất bản ra, đó là một lôgích khác với thế giới hay nói đúng hơn thuộc về một thế giới khác, đó là sản phẩm quan niệm của “người ngoài hành tinh”.

Sau “dài lời” như trên xin để độc giả tự nhận xét và quyết định xem có thể tiến hành đối thoại với chế độ cộng sản hay không? Đối thoại mà bất tín, bất nghĩa, bất trung với Chúa, với Giáo hội và đánh mất chính mình thì có xứng đáng không? Dầu ta táng tận để sẵn sàng bất tín, bất nghĩa, bất trung thì liệu ta có thể đối thoại với những người bất minh chính, bất tương kính và bất tri lý hay không, dầu ta có nhịn nhục để đối thoại với những người bất minh chính, bất tương kính và bất tri lý thì liệu có thể tiến hành đối thoại trong một chế độ “dân chủ gấp triệu lần” chế độ tư bản và trong “sự thật” của “người ngoài hành tinh” hay không? Đối thoại, tôi hoan nghinh hết mình, nhứt là tôi khoái tính cách dân Nam Bộ vốn hiếu hòa, nhưng với những thực tế nhiều khi quá đau thương trong quá khứ, biết phải đối thoại sao đây, tôi thấy mình “khờ” nhiều rồi bây giờ cần bớt khờ hơn một chúc, xin các bậc tiền bối cao minh chỉ giáo.

Xin bác Tiền Hô vui lòng cho trích lại từ bài của bác, lời của Đức Hồng Y Giuse Trần nhật Quân, người đã có nhiều kinh nghiệm trong chế độ cộng sản Trung quốc, phản bác luận điệu của cha Jeroom Heyndrickx, một linh mục người Bỉ, khuyên Giáo hội công giáo Trung quốc nên đối thoại với chính quyền:

“Cha Heyndrickx có nhiều cơ hội để đối thoại: với những người bạn Công giáo của mình tại Trung Quốc, với ông Liu Bai Nian, với những người trong Chính phủ Trung Quốc, với Thánh Bộ Truyền giáo (cha có đi hai hàng?). Tuy nhiên, các giám mục của chúng tôi ở Trung Quốc có bất kỳ cơ hội nào để đối thoại không? Ai trong số họ có? Không hề! Chính phủ duy trì một sự giám sát chặt chẽ để ngăn cấm họ làm như vậy. Đối thoại với Chính phủ ư? Chắc chắn không! Họ chỉ biết lắng nghe và tuân lệnh. Họ được tấn phong để phục vụ cho những lợi ích mà họ không hay biết. Họ được triệu tập tham gia các cuộc họp mà không biết chương trình nghị sự. Họ được dọn sẵn bài diễn văn để đọc mà họ đã không viết ra và thậm chí còn không được xem nó trước.

Cha Jeroom chẳng biết rằng các vị giám mục của chúng tôi, ý tôi là những người trong cộng đoàn chính thức (hầm trú), bị đối xử như nô lệ, hoặc thậm chí tệ hơn, như là con thú bị xiềng xích. Trong lá thư của Đức Giáo Hoàng gửi cho Giáo Hội tại Trung Quốc có nói rằng, đấng bản quyền giám mục đang bị làm nhục (“phỉ báng”) ở Trung Quốc.

Còn đối đầu thì sao? Ai đang phải đối đầu với ai? Con cừu có phản ứng được gì trước khả năng tấn công của con sư tử không? Nếu chúng tôi bảo cừu “Hãy chạy trốn đi!” thì chúng tôi lại bị quy kết là kích động đối đầu?”.

Vì thế ngay từ đầu, Đức Hồng Y đã phải thanh minh: “Tôi ý thức được mình là một tội nhân. Tôi không có tư cách để xét đoán người khác. Nhưng tôi không muốn thêm một tội nữa vào nhiều tội lỗi của tôi, đó là làm một con chó câm khi mà nó cần phải sủa” (Vietcatholic News 9 Sep. 2010). Chúng ta có thể hơn Đức Hồng Y Giuse được không?

Đọc trên website của Hội đồng Giám mục, tôi khoái cách hành xử của Đức Ông Giuse Đích Nguyễn ngọc Oánh khi ngài trả lời cho công an Hà nội

Ngài vừa khiêm tốn vừa cương quyết trong thái độ đối với chính quyền. Khiêm tốn nên không bao giờ chống đối hay có ý tưởng oán thù, trái lại luôn chấp hành mọi chỉ thị của Nhà Nước. Nhưng cương quyết thi hành nhiệm vụ linh mục, không công nhận chế độ cộng sản, không tán thành Ủy ban Liên Lạc Công giáo và không bao giờ chịu tố cáo những người xưng tội, những người con linh hướng của ngài. Ngài đã viết trong bản tự kiểm: “Tôi nhiệt liệt ca ngợi những công trình xây dựng làm cho dân giầu nước mạnh. Còn chủ nghĩa xã hội xây dựng trên nền móng duy vật, tôi nhận thấy điều đó không hợp với tín ngưỡng của tôi tin có một Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, có linh hồn bất tử và có thưởng phạt đời sau”. “Đối với các linh mục trong Ủy ban Liên Lạc, tôi mến trọng các ngài… nhưng đứng về phương diện Giáo Hội, tôi không đồng ý với các ngài được”. “Chính quyền có nhắc đến tên những anh Đông, Hùng, Hưng, Bích, Thành, Tiến hiện đang bị bắt giữ. Tôi biết những người đó vì họ có đến với tôi về việc đạo, thuộc phạm vi lương tâm liên quan đến linh hồn thiêng liêng của họ. Nói về họ ngược với lương tâm tôi là một người cha thiêng liêng, là một linh mục của các linh hồn, không hợp với luật đạo chúng tôi”. “Tôi kính nể và tôn trọng chính quyền. Tôi cũng muốn làm đầy đủ nghĩa vụ thiêng liêng của một linh mục đối với Thiên Chúa và đối với các linh hồn” (Tự kiểm ngày 05-04-1965 tại Sở Công an Hà Nội). Ngài đúng là mẫu gương linh mục đáng cho mọi người noi theo cả trong đối thoại với nhà cầm quyền này.


Trần Dũng Lạc

Nguồn: Vietcatholic.net

Dân Chúa xét mình

Tháng Mười 3, 2010

Người Công Giáo chúng ta có thói quen đạo đức là “xét mình”.

Lần này Dân Chúa họp Đại Hội. Cũng là dịp để chúng ta xét mình về những thiếu sót, lỗi phạm  của chúng ta trong thời gian dài đã qua.

Sau đây, chúng tôi xin phép được đưa ra một vài gợi ý nhỏ cho việc xét mình của Dân Chúa chúng ta.

I. Những lỗi phạm và thiếu sót của Dân Chúa với  bổn phận của Tư Tế.

Là những tư tế, chúng ta đã làm gì ?

A. Trong cuộc rước kiệu ở Giáo Xứ Dị Nậu, chúng ta chấp nhận  sự việc để trên bàn thờ bái vọng  một  hình tượng rất xa lạ với Đạo của chúng ta ở gần tượng Đức Mẹ, thậm chí ở đằng trước tượng Đức Mẹ , với lý do để các người anh em khác đức  tin chia xẻ niềm vui. Chúng ta không muốn tạo sự chia rẽ với  các anh em không cùng đức tin hoăc vô thần , nhưng rõ ràng trong việc đạo đức, thờ phụng thì “đạo ai người ấy giữ” là một điều hợp lẽ. Không phải biến cuộc rước kính Đức Mẹ thành một cuộc rước “đa thần” là làm sáng danh Chúa, đẹp lòng Chúa đâu.

Chúng ta đọc lại sách tiên tri Hôsê để thấy Chúa là Thiên Chúa ghen tuông, Ngài không chấp nhận các kẻ Ngài thương san sẻ tình yêu cho kẻ khác (sự bất trung tôn giáo). Những lời quở trách nặng nề vô cùng của Chúa dành cho sự bất trung của Dân Ngài có thể tìm thấy trong sách Hôsê,   đoạn 2  từ câu  4 đến hết câu 15.

B. Theo những bài viết về  thánh ca dùng trong thánh lễ của Linh Mục Anrê Đỗ Xuân Quế, trưởng ban thánh nhạc của Tổng Giáo Phận Saigon,đã đăng trong tạp chí nhà Chúa (xuất bản đã lâu) và các trang mạng (dễ dàng tìm thấy ở  tiện ích tìm kiếm Google) ta thấy GH CG có quy định rất chặt chẽ về việc soạn, hát thánh ca trong thánh lễ,  trình diễn thánh ca ngoài thánh lễ và cả việc xử dụng nhạc khí trong thánh đường. Linh Mục Quế đã nhấn mạnh sau Công Đồng Vatican II, các quy định về thánh nhạc có rất ít thay đổi so với thời gian trước. Ở đây chúng tôi không thể chép lại hết các điều linh mục  Quế viết.

Tuy nhiên để tóm tắt : thánh ca phải được soạn theo cung điệu trang nghiêm, không theo các điệu nhạc khiêu vũ, nhạc lả lướt, nhạc giật. Nhạc cụ cũng có quy định riêng.Không có chỗ cho kèn trống  trong thánh lễ. Và càng không có nhảy nhót ầm ĩ trước bàn thờ.

Theo ĐHY Villot Cựu quốc vụ khanh trong thư gửi Đại hội Thánh nhạc Ý đăng trên Osservatore romano số 39 thì phải để các hình thức nhạc Jazz ra ngoài phụng vụ, như người viết : “Phải cố gắng tránh và cấm tất cả các loại âm thanh, nhạc khí có tính thế tục, đặc biệt những bài hát kích động, gay cấn, rùm beng, làm náo động khung cảnh thanh lịch của nghi thức phụng vụ. Những thứ nhạc đó không thể nào xứng hợp với mục đích cao cả của phụng vụ là thánh hóa con người.”

Cha Quế cũng viết :Rồi còn đàn nữa ! Những người chơi đàn trong các nhà thờ hiện nay hầu hết dùng đàn điện tử, thường mở âm lượng cực lớn và chơi những điệu nhạc đời đã làm sẵn. Đến nhà thờ trong một khung cảnh như vậy thật là khó cầu nguyện. Điều đáng ngại là phần đông tới nhà thờ trong một quang cảnh như thế : bài hát thì tùy tiện, đàn trống thì inh ỏi mà không thấy vấn đề hay không đặt vấn đề gì cả ! Chúng ta có nhiệm vụ giáo dục đức tin chứ không phải chiều theo thị hiếu. Về điểm này, chương II trong Quy chế tổng quát sách lễ Rô-ma về Cơ cấu thánh lễ, các yếu tố và thành phần của thánh lễ từ trang 21-34, nhất là mục III về Từng phần của thánh lễ trang 25 có thể soi sáng cho chúng ta rất nhiều.(Trích Bài Viết Của Linh Mục Đỗ Xuân Quế Về Thánh Nhạc Trong Phụng Vụ)

Vậy mà trong các buổi lễ lớn của chúng ta bây giờ trống kèn ầm ầm, trình diễn  các bài nhạc xa lạ với việc thờ phượng. Trong Thánh lễ bế mạc năm linh mục và truyền chức cho 33 tân linh mục tại Tổng  Giáo  Phận  Saigon có các thanh niên nam nữ chạy nhảy, đứng dạng chân, quay lưng vào bàn thờ và  múa cờ trong lúc thánh lễ chưa hết, chẳng khác gì các văn công trên truyền hình. (Xin xem lại đĩa video tường thuật buổi lễ này)

http://www.youtube.com/v/OR6vfKNCk70?fs=1&hl=en_US

Đặc biệt trong hai buổi lễ (xin nhắc lại là hai buổi) : Lễ Khai mạc năm thánh kỷ niệm 50 năm thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam  và Lễ bế mạc năm thánh linh mục cùng tổ chức tại Tổng Giáo Phận Saigon, ban kèn đã thổi bài “cùng nhau đi hồng binh”.

Đây là một bài hát cổ động để thúc dục giai cấp vô sản làm cách mạng. Rất nhiều người trong chúng ta biết bài này. Cái rất đáng tiếc khi xử dụng bài này trong thánh lễ một phần do  loại nhạc và xuất xứ của bài nhạc mà còn đáng tiếc nhiều hơn nữa là do lời của nó. Bài hát có câu : “Đừng cho quân thù thoát.” Chúng ta đã được Chúa Giê su dạy “Hãy tha thứ cho kẻ thù” , nhưng trong thánh lễ, ngay trước bàn thờ, chúng ta lại chấp nhận cho cử lên điệu nhạc  “Đừng cho quân thù thoát”. Như vậy là ngược hẳn lại giáo huấn của Chúa. Chúng ta theo ai: Chúa Giê su để tha thứ, hay cách mạng vô sản để thanh toán kẻ thù?

II. Những lỗi phạm và thiếu sót của Dân Chúa với  bổn phận Vương Đế.

Chức vụ Vương Đế của  chúng ta không phải là để cai trị và ăn trên ngồi trước anh em  mà là để chăm sóc anh em, lo lắng cho anh em và quỳ xuống phục vụ anh em. Vậy trong thời gian qua,  chúng ta đã làm gì cho anh em.

Chúng tôi xin không nhắc đến những khó khăn của anh em trong GHCG thời gian gần đây vì đã quá nhiều bài  viết đề cập.

Chúng tôi đề nghị chiêm niệm những sự kiện nổi bật  với ánh mắt nhân từ, hay thương xót của Chúa Giê su. Vậy, xin hãy nhìn và xót thương :

– Những anh em ngư dân miền trung vì cơm áo cho gia đình phải liều thân đưa tài sản (tàu bè)  ra đánh cá tại vùng biển của VN chúng ta,nhiều anh em đã bị cướp bóc, bị bắn chết (5 ngư dân Thanh Hóa chết năm 2005),  hoặc bị đánh đập và cầm giữ đòi tiền chuộc, hiện họ đã tán gia bại sản, mang bệnh tật, hết đường sinh sống.

–       Những anh chị em cư ngụ ở phía  dưới hàng loạt đập thủy điện được xây dựng phản khoa học, chỉ vì lợi nhuận của một số người. Khi nước to ,  các nhà máy điện xả nước cứu   đập, anh chị em chúng ta mất nhà và mất cả mạng sống.

–       Những cháu nhỏ của chúng ta ở các miền cao phải bỏ học vì sân golf đã chặn lối đến trường. Nếu vẫn muốn đi, các cháu phải đi bộ thêm cả chục cây số đường đồi. Cha mẹ các cháu cũng hết lối ra  nương rẫy.

– Những cháu nhỏ cần đi học phải đu dây cáp qua sông, qua suối.

– Những cháu nhỏ người thiểu số vì cha mẹ nghèo túng, chưa tới 10 tuổi phải ở ngoài lều trống dưới giá buốt, tự nấu cơm lấy mà ăn, không cha mẹ người thân ở bên, để đi học. Ngược với những con cái đại gia trút tiền như nước trong các tụ điểm ăn chơi mỗi đêm.

– Các anh em thiểu số mất đất, mất rừng, không biết làm gì để sinh nhai.

– Các cháu gái nhỏ đi học trở thành trò chơi cho chính hiệu trưởng và một số quan chức. Khi lộ chuyện, các cháu lại bị bắt vì tội mà người lớn ép buộc hoặc hướng dẫn các cháu làm

– Những nạn nhân của ô nhiễm hạt nix.

– Những nạn nhân của ô nhiễm do các doanh nghiệp nước ngoài.

– Những cháu gái vì thất học và nghèo túng trở thành nạn nhân của tệ nạn mãi dâm.

– Những cháu gái ở các vùng quê xa xôi do nghèo túng muốn giúp cha mẹ đã thành nạn nhân của tệ nạn buôn người và bị bao đau khổ thậm chí chết chóc tại quê người.

– Những nạn nhân của các cuộc quy hoạch sai trái tại các địa phương.

– Nguy cơ về an ninh tổ quốc do chính những người CS lão thành cảnh báo…

– Nạn thất thoát do xây dựng cơ bản.

– Nạn thất thoát tại các đơn vị kinh doanh nhà nước (kiểm toán đến đâu, sai phạm đến đấy)

– Nạn đầu tư bất cần tốn hao bao nhiêu và có lợi ích bao nhiêu, với lý do  con cháu chúng ta tài giỏi, sẽ trả được nợ.

Những sự kiến đáng buồn này đều đã được báo chí nhà nước nêu. Nếu  muốn  thì còn tìm thấy trong báo chí  rất nhiều chuyện  buồn khác nữa

Với nhiệm vụ săn sóc, lo lắng, phục vụ anh em, chúng ta đã làm được gì để giúp đỡ anh em, giúp đỡ dân tộc  trong lúc khó khăn ?

Còn với tệ nạn phá thai (một đại họa) ở nước ta..

Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2-1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên, thậm chí có em mới… 12 tuổi. Thống kê này chưa kể số trường hợp xảy ra ở các cơ sở phá thai chui.

(Theo trang web Sức khỏe và đời sống Thứ tư 13-5-2009 Cơ Quan Ngôn Luận của bộ Y tế VN)

Tuy nhiên, số ca phá thai nếu được thống kê đầy đủ thì mỗi năm nước ta có khoảng  2 triệu ca phá thai…

(Trích trang web Việt báo,vn ngày 16-6-2003  Trung tâm Báo Chí và hợp tác truyền thông quốc tế (CPI)

Với số thống kê hàng năm  như kể trên, mỗi ngày có khoảng 3.300 (nếu tính theo số 1.2 triệu)hoặc 5.500 (nếu tính theo số 2 triệu) thai nhi bị giết bỏ.

Mỗi sáng khi Chúng ta đọc “Bài ca mặt trời” của thánh Phanxicô Khó Khăn: “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì đã ban cho chúng con  Anh Mặt Trời….” thì cũng sáng  ngày hôm đó có nhiều thai nhi sẽ không được thấy Anh Mặt Trời.

Mỗi trưa khi chúng ta đọc Kinh Truyền Tin thì chiều hôm đó có nhiều thai nhi không được mẹ mình chấp nhận cho sống.

Mỗi tối khi chúng ta hát câu tạ ơn để đi nghỉ “…Kính dâng Ngài phút giây này, kính dâng Ngài tương lai đời con” thì trong ngày đã có nhiều thai nhi không còn tương lai.

Việc này lập lại vào hôm sau.

Vậy  chúng ta có chú tâm đủ và cố gắng  đủ để giảm thiểu số thai nhi bị giết bỏ chưa?

III. Những lỗi phạm  và thiếu sót của Dân Chúa  với bổn  phận Ngôn Sứ.

Chức vụ Ngôn Sứ không dễ dàng vì “trung ngôn nghịch nhĩ”. Lời thật mất lòng. Do đó nhiều ngôn sứ trong cựu ước muốn thoái thác. Còn trung thành với sứ vụ thì như thánh Gioan Tiền Hô, chỉ với một câu nhắc nhở vua Hê rốt cũng đủ đưa Ngài đến tù ngục và mất đầu.

Lạy Chúa, lời Chúa là lời hằng sống, nhưng phải nói lời Chúa trong từng hoàn cảnh cụ thể thì lại dễ sứt mẻ quá. Chúa muốn nhân loại đi đường của Chúa, nhưng đường hẹp, dốc và nhiều gai góc. Nếu chúng con cố nói Lời Chúa vì luân lý, công bằng, bác ái thì loài người sẽ loại chúng con. Nhất là  khi nói với người có quyền.

Chúng ta được biết Đức Tổng giám mục Nguyễn văn Bình, một vị mục tử quá cố của chúng ta đã chủ trương: “….. Là môn đệ Chúa Kitô, mình phải bằng mọi giá, kể cả khốn khó, để sống luật yêu thương theo gương Chúa, là yêu cả kẻ ghét mình, kẻ làm hại mình. Luật này được thánh Phanxicô Khó Khăn diễn tả rất hay qua Kinh Hòa bình; cụ thể trong một xã hội đầy dẫy hận thù, chia rẽ, môn đệ Chúa Kitô phải vun đắp tình thương và tha thứ, mình phải cỗ vũ Canh tân và Hòa giải, canh tân bản thân để hòa giải với người….”(Trích lời của LM Huỳnh Công Minh  kể về lập trường của Đức Cố Tổng Giám mục Nguyễn văn Bình trong buổi hội thảo Chân Dung Một Vị Mục Tử)

Đã nhiều năm nay, GH chúng ta thực hiện theo chủ trương của Đức Cố TGM Bình. Và hiện nay, nhiều anh em trong chúng ta cổ võ  và thúc đẩy  GH chúng ta thực hiện mạnh hơn nữa luật yêu thương và tha thứ này.

Việc  thực hiện luật yêu thương tha thứ cho kẻ ghét ta là  đúng  nhưng rõ ràng là chưa đủ nếu chúng ta không lưu tâm  đến bổn phận  của chúng ta đối với những người anh em bé mọn khác, những người hiền lành, thấp cổ bé miệng, những người được Chúa yêu thương đặc biệt đến mức Chúa tự đồng hóa với họ. Chúa đã nói:  “Ai làm điều gì cho những người anh em bé mọn của Ta, là làm cho Ta”. Càng  không đủ vì không đề cập đến bổn phận loan truyền Sứ Điệp của Chúa Giê su đến  cho mọi người: người  lành và  kẻ dữ.

Vì thế, khi cố yêu và tha thứ kẻ ghét mình, chúng ta quên bổn phận yêu thương, che chở và bênh vực  các  anh em khác. Thật sự chúng ta đã núp bóng luật yêu thương, tha thứ  kẻ ghét chúng ta để lờ đi  bổn phận thương yêu,săn sóc, bảo vệ những anh em  nhỏ bé nhất của Chúa. Bênh vực người cô thế, nói lên tiếng nói của họ,  cũng thuộc nhiệm vụ của ngôn sứ.

Chúng ta cũng có nói chúng ta yêu thương anh em xấu số, bất hạnh. Nhưng chúng ta biết rằng: Yêu, không chỉ nói là đủ, mà phải thể hiện tình yêu ấy. Chúa Giê su đã yêu thương và chịu chết cho người Chúa yêu.

Khi cần nói để bênh vực anh em, chúng ta không đủ dũng cảm nói sự thật theo kiểu Ngôn Sứ Gioan Tiền Hô, mà trước khi nói chúng ta liếc  xem  thái độ của đối tượng  để cân nhắc hơn thiệt trước khi nói, hoặc chúng ta chẳng dám nói gì cả..

Thời gian qua chúng ta đã thể hiện một Đạo Công Giáo rất ít thi hành vai trò  ngôn sứ nhất là trong việc bênh đỡ người nghèo. Chúng ta tưởng rằng có thể  vui mừng vì những điều sau : “Nhìn lại chặng đường lịch sử Giáo hội Việt Nam, chúng ta phải cảm tạ Chúa vì những muôn hồng ân mà chúng ta đã lãnh nhận. Phải nói rằng chưa bao giờ chúng ta có nhiều Giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, thành viên các hội đoàn như hôm nay. Cũng chưa bao giờ Giáo hội Việt Nam có nhiều nhà thờ, tu viện, cơ sở và những cuộc hội nghị hoành tráng như trong mấy năm gần đây.”                                                                                                                            (Trích phát biểu của ĐC Phaolo Nguyễn Thái Hợp, với đề tài: “Hội nhập văn hóa trong công cuộc truyền giáo” phát biểu ngày 1/10/2010)

Đáng tiếc là trong ngày phán xét, Chúa không hỏi về số nhà thờ, tu viện, các cơ sở chúng ta đã xây dựng, không hỏi chúng ta tổ chức được bao nhiên buổi hội thảo hoành tráng, cũng không hỏi về số lượng  giáo sĩ của chúng ta. Chúa hỏi gì thì chúng ta đều thuộc : “Các con đã làm được gì cho anh em?”. Thật đáng tiếc cho tài hùng biện, đáng tiếc cho sở học cao ngất, đáng tiếc cho những toan tính công phu và những sắp xếp tài tình, đáng tiếc cho tài ngoại giao và những cái bắt tay, đáng tiếc cho những chức vụ cao trọng. Vì Chúa không để ý đến những thứ ấy. Cũng như Chúa không hỏi người nhà giàu  về bao nhiêu của cải ông ta đã tich lũy được. Mà Chúa chỉ để ý việc ông  ta không cho ông ăn mày Lazarô một mụn bánh thừa.

Đến đây  có thể thấy chúng ta  đã quá thiếu sót trong bổn phận làm  ngôn sứ . Khi Chúa đến và hỏi “đèn chúng con đâu”, thì chúng ta phải lục tìm trong thùng, trong tủ  vì trên giá đèn không có cái đèn nào đang cháy.

Lạy Chúa xin thương xót chúng con vì những thiếu sót trong các nhiệm vụ của chúng con mà Chúa đã trao phó.

Kính chúc bình an.

An Đức


Thư ngỏ của một giáo dân kính gửi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Tháng Chín 17, 2010

Kinh gửi HĐGMVN,

Kính thưa quý GM,

Với tư cách một giáo dân CG thuộc Tổng Giáo Phận Saigon, chúng tôi kính gửi quý GM bức thư này, nhân dịp quý GM sắp họp khóa hai  năm 2010.

Khóa họp này diễn ra trong lúc có rất nhiều dư luận bàn tán về thực trạng của GH và về hoạt động của quý GM trong thời gian gần đây. Dù ai vô tư đến đâu cũng thấy rằng HĐGM cần lên tiếng để giải thích và trấn an Dân Chúa.

Theo  một số giáo sĩ và giáo dân thì có những vấn đề cần làm rõ sau đây:

Quý GM có đang tránh né  thực tại vì sợ; vì muốn tránh những tranh chấp có tính chính trị? Cũng cần làm rõ về cách quý GM yêu thương, tha thứ và về cách quý GM đồng hành với dân tộc.

Bàn luận cùng quý GM về những vấn đề gai góc này, chúng tôi cảm thấy mình như đang “đánh trống qua cửa  nhà sấm”. Trong số quý GM có rất nhiều vị có tiến sĩ về thần học, giáo luật, xã hội v.v.. của các trường đại học rất danh tiếng trên thế giới. Trong lúc chúng tôi là một người giáo dân bình thường, chưa từng ra nước ngoài, dù để du lịch. Vốn liếng hiểu biết về Đạo Chúa của chúng tôi chỉ là những lời giáo huấn của cha mẹ, là những bài học giáo lý với các dì phước ở nhà xứ và các bài giảng của các LM trong thánh lễ chủ  nhật và  trong các cuộc tĩnh tâm cho giáo dân.

Nhưng chúng tôi vẫn xin phép để thưa chuyện với quý GM với hy vọng quý GM biết những tâm tư của một giáo dân bình thường. Qúy GM là mẹ là thầy của chúng tôi, vậy cha mẹ và thầy giáo cũng nên hiểu về con, về học trò của mình, có phải không ạ?

Vậy xin lần lượt phân tích từng vấn đề:

1. Các GM trong HĐGMVN sợ?

Điều này không lạ và cũng không có gì xấu hổ. Trong Cựu Ước, các vị được xức dầu để làm Ngôn sứ cũng sợ. Ta có thể kể Ngôn Sứ Vĩ  Đại Môi Sen, khi biết ý Chúa chọn ngài làm người phát ngôn của  Chúa thì ngài  đã sợ và thưa: Lạy Chúa, con nói lắp (cà lăm) làm sao con đối đáp với Pharaông được. Một Ngôn sứ khác cũng nổi tiếng vì cuộc đào thoát không thành khỏi chức vụ Ngôn sứ: Tiên tri Giona. Sợ cũng không thoái thác được, Chúa chọn thì phải làm.

a.Các vị GM sợ thiệt hại cho GH và cho giáo dân?

Điều sợ hãi này cũng có lý. Vì là những vị có trách nhiệm với GH và cộng đoàn, quý vị sợ lên tiếng về vấn đề này, khác có thể gây căng thẳng làm thiệt hại cho GH. Chẳng hạn:  khó khăn trong việc xây cất thánh đường mới và sửa chữa các thánh đường đổ nát. Khó khăn trong việc thuyên chuyển, sắp xếp các linh mục, khó khăn trong việc  tổ chức các việc đạo đức, rước xách linh đình, sợ giáo dân bị khó dễ v.v….

Xin được mạn phép nói:  Đừng lo lắng lắm vì  Chúa là  Đấng đã phán “Trời là ngai Ta ngự. Đất là bệ chân Ta”. Thực ra làm gì có tòa nhà nào xứng với sự cao trọng của Chúa? Những ngôi thánh đường dù gì cũng là gỗ đá, được xây dựng cũng vì các giáo dân, các giáo sĩ và tu sĩ mà thôi,tức là vì con người. Nhiều  giáo đường, tu viện ở Âu Châu  nay đã bị đóng cửa hoặc  bị bán đi (dù đã được Thánh hiến và nhiều Thánh lễ đã được dâng ở đó) vì thiếu giáo dân, tức là thiếu con người. Vậy xin Quý GM lo cho con người nhiều hơn là sợ thánh đường mới không được xây .

Còn việc lo cho giáo dân bị làm khó dễ, thì xin đọc lại sách MaCaBê quyển II, đoạn 7, thuật chuyện tử đạo của bảy anh em, câu chuyện bi hùng này khá dài. Tạm tóm tắt như sau:Vua Antiôkhô bắt một bà mẹ và bảy người con trai, buộc họ bỏ đạo. Vua cho dùng cực hình để buộc từng người bỏ đạo. Với người con nào bà  mẹ cũng khuyến khích họ trung thành với Chúa, và tất cả bảy người lần lượt tử đạo. Trước khi người con thứ bảy chịu chết, người mẹ đã dạy con: ”Con ơi, con hãy thương mẹ: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng  dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm ra tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy. Con đừng sợ tên đao phủ này, nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ”. Người con út đã vâng lời và khẳng khái nhận cái chết. Cuối cùng bà mẹ cũng chết theo các con.

Quý GM thương GH thương con chiên, nhưng dám chắc lòng thương của  quý GM không thể hơn được tình thương của người mẹ này thương  các con .Vậy hãy khuyên chúng tôi nên kính sợ Chúa và giữ giới răn của Ngài hơn là sợ hãi những tạo vật khác.

Còn nếu không được rước xách linh đình thì cũng không sao. Trên Thiên quốc chắc có những cuộc rước đông vui hơn và có Chúa và Mẹ Maria thật để chúng ta chiêm ngắm.

b. Các GM sợ hãi cho chính bản thân?

Điều này cũng hợp lý, là thọ tạo, ai mà chẳng có sự sợ hãi. Gương của các đầng tiền nhiệm sờ sờ ra đó. Tù tội, chết chóc như chơi. Còn nếu ôn hòa, tránh đối đầu thì dễ chịu lắm: Rước sách rình rang, mũ cao áo dài, được đưa đón trọng vọng cả phần đạo lẫn phần đời. Các chuyến xuất  ngoại dễ dàng, thường xuyên v.v…

Đến đây lại xin giở sách Macabê quyển II, đoạn 6, chuyện kinh sư Elada. Ông đã chín mươi tuổi đầu, bị vua buộc phải ăn thịt heo (Luật Môisen cấm). Các người thi hành lệnh của vua vì thương ông lớn tuổi nên đã bảo ông rằng: “Chúng tôi cho mang thịt ông được phép ăn tới và ông ăn, giả vờ là ăn thịt heo. Chúng tôi sẽ báo  với vua là ông đã vâng lời vua, như vậy ông sẽ thoát chết”. Ông đã khước từ và chịu mọi cực hình. Ông nói với lý hình: “Ở tuổi tôi, giả vờ là điều bất xứng, e rằng có nhiều thanh niên sẽ nghĩ là ông già E la da đã chín mươi tuổi đầu mà còn theo những lề thói dân ngoại. Rồi bởi tôi  đã giả vờ và ham sống thêm một ít lâu nữa, nên họ bị lầm lạc vì tôi, còn tôi thì chuốc lấy vết nhơ và ô nhục cho tuổi già. Dù hiện nay tôi có tránh được hình phạt của người ta, thì sống hay chết tôi cũng sẽ không thoát khỏi bàn tay của Đấng Toàn Năng. Vậy giờ đây, khi can đảm từ giã cuộc đời, tôi sẽ tỏ ra xứng đáng với tuổi già”.

Con người ấy đã giã từ cuộc đời như thế đó. Cái chết của ông để lại không những cho các thanh niên, mà còn cho đại đa số dân chúng một tấm gương về lòng cao thượng và một hình ảnh đáng ghi nhớ về lòng trung thành.

Vậy, tuy có nhiều điều đáng sợ thật, nhưng xin quý GM đừng sợ  và hãy làm gương cho chúng tôi.

2. Các GM trong HĐGMVN không muốn dính đến chính trị?

Sau những chuyện đáng tiếc xảy ra thời trung cổ, Hội Thánh Công Giáo La Mã đã dứt khoát không làm chính trị, không can dự vào các cuộc chiến tranh và phế lập ở Châu Âu. Hội Thánh Công Giáo La mã cũng cấm các Hội Thánh Công Giáo các địa phương không can dự vào việc tranh dành quyền hành ở nước mình. GHCGVN cũng vâng lời. Không can thiệp, không  tranh chấp, không đảm nhiệm chức vụ trong chính quyền. Đây là một điều đúng đắn. Tuy nhiên vì quá sợ dây vào chính trị mà GHCGVN ít lâu nay không hề có ý kiến gì liên quan đến công bằng, bác ái, đến an nguy của đất nước. Thái độ mũ ni che tai này đã biến GH chúng ta thành một tập thể vô cảm trước những vấn đề lớn của xã hội, dân tộc. Qua những cuộc rước xách, phong giám mục, khai mạc Năm Thánh v.v… chúng ta tự phô bày như một tập thể vô tư, vui tươi, hớn hở với hàng đoàn GM mũ cao áo dài mới tinh, rực rỡ ai cũng đẹp đẽ, rạng rỡ, xưng tụng nhau những câu ngất trời và chúng ta hãnh diện vì Chúa ở cùng chúng ta. Giáo dân cũng vui tươi, ăn mặc đẹp và lòe loẹt, hớn hở… Kèn trống ầm ầm và “cùng nhau đi hồng binh” nũa chứ. Thật sự nhìn bề ngoài,  các anh em không CG chẳng phân biệt nổi cuộc lễ cũa chúng ta và những cuộc cúng thần  thành hoàng hoăc các cuộc rước đa thần khác.

Ở đây xin góp ý kiến. Không một hành vi nào của quý GM mà không mang tiếng là có  một thái độ chính trị đâu. Khi ĐGM Ngô Quang Kiệt tuyên bố: ”Tôn Giáo là quyền, không phải là ân huệ xin – cho” thì ĐGM mang tiếng chống đối. Khi ĐTGM Nguyễn văn Nhơn kêu gọi giáo dân HN tham dự lễ hội “Mừng ngàn năm Thăng Long” thì ĐTGM mang tiếng ủng hộ, lấy lòng chính quyền.

Vậy xin hãy làm việc và tuyên bố theo lương tâm và nhiệm vụ, không sợ câu nói việc làm của Quý GM có ảnh hưởng thế nào đến chính trị. Mục đích cuộc đời của quý GM không phải là làm đẹp lòng ai, mà là để công bố tin mừng và phục vụ những anh em nhỏ bé nhất của Chúa Giêsu.

3. Các GM trong HĐGMVN muốn tha thứ cho anh em và tội của anh em?

Tha thứ cho anh em là luật buộc. Nếu có anh em nào xúc phạm đến ta, thì ta phải tha thứ. Nếu một người không xúc phạm ta, mà lại xử bất công với anh em khác. Ta khuyên nhủ nạn nhân tha thứ, nhưng nếu ta  không nói phải quấy với người anh em phạm lỗi và nhất là không ngăn chặn họ tái phạm là ta đã lỗi đức bác ái với nạn nhân.

Là cương vị chủ chăn thì việc này càng rõ nét. Là những Ngôn sứ ( quý GM không thể thoái thác nhiệm vụ này) nhiệm vụ bênh vực sự thật, bênh vực công lý, bênh vực những người cô thế, những người không cất tiếng kêu được (vì kêu trời không thấu). Quý vị phải đứng bên công lý, đứng bên sự thật, đứng bên người thấp cổ bé miệng và lên tiếng thay họ, vì họ.

Đọc lại tin mừng ta thấy Chúa tha thứ và nhắc tội nhân: “Ta không kết tội con, hãy ra về và đừng phạm tội nữa”. Xin quý GM hãy cứ tha thứ cho tội nhân, nhưng hãy ghét tội của họ  và ngăn đừng để họ phạm tội nữa (ít nhất là lên tiếng can gián ), nhất là khi  họ phạm đến những anh em  bé nhỏ của Chúa.

4. Các GM trong HĐGMVN muốn sống phúc âm trong lòng dân tộc?

Đây không phải là phát kiến mới, độc quyền của HĐGMVN.

Trong thư chung số 11, Cố Hồng Y Trịnh Như Khuê cũng đã kêu gọi Dân Chúa Yêu Thương Đồng Bào và  thư chung số 3 ngày 1-11-1950 của ngài có câu : “Yêu nước, thời nay người ta nói đến rất nhiều, có khi Anh em không nói nhiều bằng người khác. Chúng ta hãy làm nhiều hơn nói”.

Cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận đã làm một bài thơ về  Tô Quốc, trong đó có câu:

Là người Công Giáo Việt Nam,

Con phải yêu Tổ Quốc gấp bội.

Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con.

Cha mong giòng máu ái quốc,

Sôi trào trong huyết quản con.

Các khái niệm  yêu thương đồng bào, yêu nước, yêu tổ quốc, sống phúc âm trong lòng dân tộc khác nhau về chữ viết, nhưng ý nghĩa chung quy cũng rất gần nhau… Vây sao lại có cách hành xử khác nhau giữa các vị Cố Hồng Y và các vị GM đương thời.

Có thể tìm hiểu theo ngữ nguyên:

Sống phúc âm là sống theo Tin Mừng của Chúa. Tóm gọn là sống kính mến Chúa và thương yêu đồng loại. Nếu muốn gọn thêm nữa thì là yêu thương đồng loại, kể cả người tội lỗi,như cách Chúa yêu.

Dân tộc Việt Nam gồm tất cả người Việt Nam sống trên lãnh thổ nước Việt Nam, không phân biệt sắc dân, không phân biệt chính kiến, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt nam nữ, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt nguồn gốc (gốc Hoa, gốc Miên v.v…) và những người có dính líu đến nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài, mà vẫn còn muốn nhận mình là người Việt.

Trong lòng dân tộc: có nghĩa là ở trong dân tộc, chịu chia vui sẽ buồn, hy vọng, thất vọng, nỗ lực, thất bại, vinh quang, tủi nhục cùng dân tộc. Để dễ hiểu hơn ta có thể liên tưởng đến cụm từ:”sống chung trong nhà”, người sống chung trong nhà chia sẻ hết mọi điều, vui buồn có nhau, hỗ trợ nhau, săn sóc nhau khi bệnh tật, bênh đỡ nhau khi có người đến bắt nạt  người nhà.

Vậy sống phúc âm trong lòng dân tộc là sống với tinh thần yêu thương sẻ chia với dân tộc như Chúa yêu thương. Với cách ví “sống chung trong nhà” chúng tôi liên tưởng đến đời sống lứa đôi, từ đó lại nhớ đến sách Nhã Ca: Chúa yêu thương dân của Ngài đến nỗi Chúa gọi dân Ngài là Hiền Thê. Chúa Giêsu cũng nhận Hội Thánh Công Giáo như vậy.

Vậy khi nhận sống phúc âm giữa lòng dân tộc, GHCGVN như đã kết ước với dân tộc là sẽ lo lắng, yêu thương và sẻ chia mọi nỗi niềm với dân tộc và sẵn sàng hy sinh cho dân tộc như những người bạn đời hy sinh cho nhau.

Tuy nhiên cần có một định nghĩa đúng  về “dân tộc”.

Dân tộc là dân tộc. Dân tộc không phải là một  trong số các thành phần góp thành dân tộc. Ông A là ông A. Bàn tay của ông A không thể là ông A. Bàn tay ông A góp với những bộ phận khác của ông A họp thành ông A. Dân tộc Việt Nam có từ nhiều ngàn năm. Mỗi thời kỳ Dân Tộc Việt Nam lại có những thành phần khác để họp thành. Vì thế không thể nhầm ý chí của một thành phần dân tộc là ý chí của dân tộc. Không thể nói nếu không theo nhóm ông A là không theo dân tộc. Và cũng không thể nói nghe theo lời nhóm ông A là theo dân tộc.

Quý GM,  xin quý GM hãy phân biệt kỹ điều này.

Vậy GHCG cần làm gì để sống phúc âm trong lòng dân tộc?

Điều này tưởng rắc rối (vì đang có sự bất đồng trong GHCGVN cũng vì câu hỏi trên)

Thật ra lại khá đơn giản . Theo chúng tôi chỉ cần thay chữ “dân tộc’  vào chữ “người” ở trong điiều luật trọng nhất “mến Chúa yêu người”.

Chúng ta hãy mến Chúa và yêu dân tộc theo như Chúa dạy.

Thử áp dụng luật mến Chúa và yêu dân tộc vào thực tại: Giới luật của Chúa cấm giết người. Trước vấn nạn phá thai tràn lan. Nếu xét về tỷ lệ thì VN hiện đứng hạng nhất thế giới.Trên trang Sức Khỏe và Đời Sống (cơ quan ngôn luận của Bộ Y Tế VN) mỗi năm có từ 1,2 đến 1,6 triệu trường hợp phá thai ở nước ta, chưa kể những phòng phá thai chui. Theo niềm tin của đạo CG thì phá thai là một tội trọng vì giết người một cách đê hèn, giết người không thể tự vệ.

Vậy HĐGMVN đã làm gì? Rõ ràng một bộ phận lớn Dân Tộc bị tước đoạt quyền sống. Nhưng HĐGMVN chưa yêu dân tộc đủ để lên tiếng mạnh mẽ và lên tiếng bền bỉ để ngăn chặn cuộc tàn sát này. HĐGMVN cũng chưa  có nỗ lực để thuyết phục các phụ nữ có thai vì lỡ lầm ngưng việc giết con mình và giúp đỡ họ nếu họ thay đổi ý giết con. Cũng chẳng có nỗ lực nào có tính cách hệ thống, (chẳng hạn cũa  các Tòa GM) để đón nhận xác những nạn nhân bị bức tử này và chôn cất theo nghi lễ Công giáo (chôn xác kẻ chết là một điều được dạy trong “Thương xác bảy mối”). Ở đây chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn nỗ lực của một số LM và tu sĩ DCCT cũng như các anh chị em rất nghèo (về tiền bạc) ở một số địa phương đã cố gắng thuyết phục các thai phụ  không phá thai và giúp đỡ họ trong thời gian thai nghén và cũng nhận xác các thai nhi về chôn từ nhiều năm nay.

Trong kinh “Thương người có mười bốn mối” có: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc và cho khách đỗ nhà. Thực tế ở các địa phương trên cả nước, đã có quá nhiều nông dân bị mất đất canh tác, mất nhà cửa cho các dự án kinh tế, khu du lịch, khu công nghiệp và các dự án sân golf (quá nhiều dự án sân golf). Họ sẽ là những người không có thức ăn, không có nước uống, không có áo quần và cũng không có nhà (họ có được đền bù một  ít tiền, nhưng không đất canh tác, không nghề, không đủ vốn liếng, hết tiền thì họ đi đâu?  Và cả nước sẽ thiệt mất bao nhiêu lương thực  (vì đất canh tác thành sân golf, khu du lịch v.v…). Dân tộc đang gặp cảnh cơ cực như thế, HĐGMVN đã và sẽ làm gì, ngoài mấy dòng góp ý từ mấy năm trước. Nói cho có nói vậy và buông trôi thì sao có thể nói chia ngọt sẻ bùi với dân tộc.

Môi trường sống của dân tộc, an ninh của đất nước đang tốt xấu ra sao? HĐGMVN có ý kiến gì không? Những  người liệt lào, người tù tội trong cộng đoàn Dân Tộc của chúng ta có được an ủi bởi tuyên úy nhà thương, tuyên úy nhà giam hay không? Kinh “thương xác bảy mối” yêu cầu thăm viếng, an ủi những người này, nhưng có bao giờ HĐGMVN đã đặt vấn đề và đòi được lo cho họ…..

Đã thề nguyền sẻ chia, khổ sướng có nhau, sao HĐGMVN  nỡ để Dân Tộc cô đơn một  mình  giữa những khó khăn như vậy.

Đến đây chúng tôi xin được  ngừng bài góp ý vì nếu thêm nữa chúng tôi sẽ sa đà vào việc phê phán lê thê.

Một lần nữa chúng tôi xin lỗi nếu có điều gì thất thố, nhưng xin lặp lại trên đây là những điều được viết từ đáy lòng của một giáo dân Công Giáo Việt Nam và cũng là  một người thuộc Dân Tộc Việt Nam, mong được thấy một HĐGMVN  mạnh mẽ trung thành với  Chúa và sống thật sự hiệp thông với Dân Tộc.

Kính chào Quý GM trong HĐGMVN.

Kính chúc bình an.

An Đức


Góp ý cho Đại hội Dân Chúa: Một số đề nghị cho việc tổ chức Đại Hội Dân Chúa 2010

Tháng Chín 15, 2010

Không ai có thể phủ nhận tình trạng bất đồng quan điểm trầm trọng đang xảy ra trong lòng GHCGVN. Đại Hội Dân Chúa sắp tới là một cơ hội rất tốt để hàn gắn và tìm ra một hướng đi cho GH trong lúc này và tương lai. Vào thời điểm  này ĐH đang được tổ chức và ngày Đại Hội khai mạc đã gần đến.

Tuy GHCGVN có nhiều chuyên viên và nhà tổ chức giàu kinh nghiệm và uyên bác đang ngày đêm tốn hao công sức với mục đích tổ chức thành công Đại Hội này. Nhưng trộm nghĩ với tư cách giáo dân, chúng tôi cũng nên đưa ra một ít ý kiến  đóng góp cho Đại Hội.

Vậy để có được kết quả tốt cho ĐH, chúng ta phải làm gì?

A.Thành phần tham dự: Đây là điểm quan trọng và gần như là quan trọng nhất, quyết định sự thành công của ĐH.

Hiện tại có thể chia ra làm ba khuynh hướng chính trong GHCGVN:

Vì lợi ích của GHCGVN  và vì sự bang giao giữa Toà Thánh và CPVN, cần giữ hòa khí với CP bằng mọi cách.

  1. Vì công lý và vì người bị áp bức, phải đối thoại, nếu cần thì phải giữ thái độ cứng rắn với CP (cứng rắn như kiểu của ĐGM Ngô Quang Kiệt: “Tôn giáo là quyền chứ không phải là xin, cho), nhưng vẫn ôn hòa và bất bạo động.
  2. Đa số thầm lặng, theo truyền thống khiêm nhường của các dòng tu, và đặc tính của con chiên (vâng lời các bề trên, chờ đợi để biết ý Chúa qua các đấng bề trên). Thường không dám bày tỏ ý kiến, ngại đụng chạm.

Cần có sự hiện diện của đại diện của cả  3 khuynh hướng nói trên. Số đại diện của 2 khuynh hướng 1 và 2 cần tương đương về lượng và phẩm.

Nếu thiếu sự có mặt của bất cứ phái nào trong 2 phái này, thì không còn là Đại Hội Dân Chúa nữa, mà chỉ là nửa Đại Hội mà thôi. Mà cái nửa Đại Hội ấy cũng rất tẻ nhạt vì sẽ là một nhóm “ta nói với mình”, cùng với sự hiện diện của nhóm chỉ nghe không nói. Đại hội này sẽ giống những Đại Hội hiếu hỉ, đến hẹn lại lên của các đoàn  thể, tổ chức khác mà chúng ta vẫn chứng kiến.

Chúng tôi đặc biệt ước ao ĐH sẽ có mặt các Đức Cha Ngô Quang Kiệt và Nguyễn văn Nhơn. Hai vị sẽ dự và phát  biểu trước Đại Hội, nếu hai vị phát biểu công khai mọi nỗi niềm uẩn khuất trong tâm hồn hai vị thì, với ơn Chúa, những gánh nặng đau buồn mà hai vị và của toàn Dân Chúa phải chịu từ biến cố thay đổi tại Tòa Giám Mục Hà Nội thời gian gần đây hy vọng sẽ vơi bớt rất nhiều.

B. Điều lệ:

Đại hội tiến hành theo quy định bởi một điều lệ. Điều lệ được soạn thảo để Đại hội được tiến hành trong trật tự, tôn trọng lẫn nhau. Nhưng điều lệ cần không có những điều khoản để loại trừ nhau,bịt miệng nhau, Điều lệ sẽ quy định thế nào để tất cả các đại biểu có thể được phát biểu trong trật tự.

C. Tiến hành Đại Hội:

Đại hội được tiến hành dưới sự chủ tọa của ban chủ tọa Đại Hội.

Ban chủ tọa gồm những vị  có uy tín và công tâm. Không nên chọn trong số các vị có dính líu vào những tranh cãi hiện tại.

Để  ghi chép biên bản cũng cần một ban thư ký có năng lực và vô tư..

Chúng tôi đề nghị trong nghi lễ khai mạc, ban chủ tọa , ban thư ký và các đại biểu tham dự cùng đọc một lời nguyện, xin Chúa  chứng giám cho Đại Hội, mọi người sẽ hứa sẽ tiến hành đại hội một cách trung thực, công bằng,  không vì những mục đích riêng tư, để danh Chúa được cả sáng và mang lại lợi ích cho anh em khó nghèo (đối tượng chính của Tin Mừng).

D. Phát biểu:

Đây là  phần chính, nhưng phần phát biểu chỉ có kết quả nếu có đủ các khuynh hướng tham dự.

Có thể thấy rằng từ lúc xảy ra sự bất đồng trong GH vì những quan điểm khác biệt trong cách cư xử với xã hội nói chung (với chính phủ, với các vấn nạn của dân tộc hiện nay, với các vấn đề tài sản của GH , với những nạn nhân của các xung đột giữa các giáo dân  và chính quyền địa phương) và với nhau (mà tiêu biểu là cách cư xử của HĐGM với Đức Cha Ngô Quang Kiệt, phản ứng của giáo dân giáo phận Hà Nội với Đức Tổng Giám Mục Nguyễn văn Nhơn v.v…) chưa hề có một cuộc gặp gỡ giữa những người anh em  của Chúa Ki tô trong  tâm tình anh em trong nhà. Hai phái lời qua tiếng lại qua các phương tiện truyền thông, qua các trang mạng, qua bục giảng. Nếu tình trạng này kéo dài thì tình hình ngày càng tồi tệ và ”nước càng đục, cò càng béo”

Đây là dịp tốt để các cái đầu nóng dịu lại và nghe nhau nói trực tiếp, để có thể nói chuyện phải quấy với nhau.

Trong cuộc tranh cãi trong gia đình giữa chồng và vợ, muốn hòa giải được là  phải nghe nhau đã, nghe và hiểu quan điểm, lý do việc làm của chồng hay của vợ. Chịu nghe và hiểu thì vấn đề đã được giải quyết phân nửa rồi. Ai đã từng chứng kiến việc can gián hai vợ chồng đang cãi nhau thì thường thấy câu người can gián  nói đại ý: “Yên đi đã, cả hai đứa cứ nói ào ào, chẳng đứa nào chịu nghe đứa nào thế này thì chúng mày cũng bỏ nhau sớm thôi”.

Anh em CG chúng ta cũng đang có nguy cơ ly tán nếu chẳng ai nghe ai như thế này.

Vậy tâm tình của các đại biểu khi đến dự đại hội là phát biểu  và  sốt sắng nghe nhau nói. Nghe để biết cái lý của anh em mình. Chúa Thánh Thần ở đâu đó trong Đại Hội, có thể ở bên hữu, có thể ở bên tả và cũng có thể ở trong số thầm lặng. Vậy hãy nói nhưng hãy lắng nghe.

Vì thế xin đa số thầm lặng không thầm lặng nữa. Xin các vị lên  tiếng. không phải lên tiếng can gián theo kiểu “dĩ hòa vi quý”, nhưng để giúp anh em và cả các vị  biết cần ứng xử như thế nào trước những ngổn ngang mà Giáo Hội  và  Dân Tộc đang phải đối đầu. Các vị đã yên lặng quá lâu. Các vị không thể nói “Thưa các anh em, chúng tôi không biết nói thế nào. Nói theo anh A thì anh B giận và ngược lại, vả lại chúng tôi không nắm rõ vấn đề nên không dám có ý kiến”. Các vị đều là thầy và là mẹ của giáo phận, dòng tu, xứ đạo của các vị. Các vị được hưởng ơn của Chúa và GH, được học hành đến nơi đến chốn. Chắc chắn các vị phải hiểu rõ các khúc mắc hơn giáo dân chúng tôi. Vậy xin  nhắc lại các vị có bổn phận phải phát biểu ý kiến trong Đại Hội. Vạn bất đắc dĩ, nếu vì sự sắp đặt nào đó tại Đại Hội chỉ có một phía được nói, thì đa số thầm lặng vẫn có dịp để nói lên lập trường của mình. Sự phân rẽ trong GHCGVN đã xảy ra quá lâu, quý vị không thể ngủ gục lâu hơn để đến nỗi không biết mọi việc xảy ra chung quanh tu viện, nhà xứ và giáo phận của quý vị. Vậy một lần nữa, chúng tôi van nài quý vị hãy lên tiếng để giáo dân chúng tôi biết  thật sự việc gì đang xảy ra và chúng tôi cần làm gì để GH lại đoàn kết và chúng tôi không còn  mặc cảm là chúng tôi thuộc một tập thể vô cảm trước mọi việc xảy ra cho Tôn Giáo mình và Dân Tộc mình.  Nếu đúng là các vị không hiểu rõ về các sóng gió của GH chúng ta, thì đây là dịp tốt để hỏi. Hãy hỏi cho các vị và cho chúng tôi.

Còn đối với các đại biểu được chọn từ giáo dân. Chúng tôi không có cơ hội bầu chọn các vị, nhưng dù sao các vị cũng là đại diện cho khối tuyệt đại đa số trong Giáo Hội: khối các giáo dân. Chúng tôi gửi gấm tình cảm của chúng tôi cho các vị. Chắc  cơ hội để các vị phát biểu tự do trước ĐH sẽ ít hoặc không có. Nhưng hãy tận dụng cơ hội nếu có để  kêu gọi các Đấng Chủ Chăn của chúng ta hãy đoàn kết  với nhau và hãy yêu đoàn chiên của các ngài nhiều hơn. Hãy thương và thông cảm với những vất vả khổ đau của chúng ta  nhiều hơn.  Hãy hy sinh những lợi ich, vinh danh cá nhân, hãy bớt những chuyến đi mục vụ đâu đâu ở nước ngoài, tốn kém thì giờ và tiền bạc, trong lúc giáo hội, giáo phận, giáo xứ  và các điểm truyền giáo xa xôi còn nhiều khó khăn và nhất là còn rất nhiều người nghèo ở bên các chủ chăn.

D. Thời gian tiến hành Đại Hội:

Đại Hội nào thì cũng phải có thời khóa biểu. Tuy nhiên không nên quy định quá chặt. Nếu  cần để bàn luận rốt ráo một vấn đề được xem là hệ trọng, thì nên biểu quyết để thêm thời gian cho vấn đề đó.

E. Thông tin Đại Hội.

Nếu Đại Hội diễn ra như chúng tôi trình bày, có thể có những bài phát biểu rất gay và (nói theo các vị lề phải là) nhạy cảm… tất cả được trình bày với tinh thần tôn trọng sự thật và tôn trọng lẫn nhau. Truyền thông công giáo sẽ biết cần phải đưa những điều gì với tinh thần xây dựng nhất trên cơ sở Sự thật, Công lý và trong đường hướng của Giáo hội. Đó cũng là nét riêng của truyền thông công giáo.

G. Biên bản và  văn kiện cuối (chúng tôi không biết văn kiện này sẽ mang tên gị)

Biên bản và các văn kiện chính thức ( sản phẩm của ĐH) sẽ do ban thư ký ghi chép và thông qua bởi toàn thể. Mọi ý kiến phản bác phải được ghi rõ trong biên bản. Văn kiện chính thức chỉ được công bố sau khi được đa số (tỷ lệ cũa đa số này sẽ do ĐH quyết định trước khi có phần phát biểu) chấp thuận. Cuối mỗi văn kiện sẽ có ghi nhận số thành viên ĐH tham dự và số người đồng ý, số người không đồng ý.

Với cách làm việc khá chặt chẽ và dân chủ như vậy,  sau Đại Hội sẽ không còn tranh cãi về phướng hướng mục vụ trong thời gian tới của GHCGVN nữa, và  Dân Chúa  chỉ còn việc thực hành.”

Như đã nói, những đề nghị cũa chúng tôi ở trên còn có nhiều thiếu sót, nhưng với tâm tình của một người con của Giáo Hội, tôi liều lĩnh đưa ra. Mong được xem xét và cân nhắc. Biết đâu các vị có thể áp dụng được một chút nào đó.

Mấy lời tâm tình riêng gửi Ban tổ chức Đại Hội (các chức sắc và chuyên viên dàn dựng Đại Hội, mà đa số giáo dân chúng tôi cũng chẵng biết là ai).

Một phần sự thành bại của Đại Hội đang nằm trong tay các vị. Nếu thu xếp để có một “Đại Hội thành công mỹ mãn”, toàn thể đại biểu nhất trí, đồng  ý bản đề cương thì cũng dễ. Chỉ việc cấm cửa “tụi nó”. “Đứa” nào không được mời mà đến thì nhờ các đồng chí đưa “nó” ra ngoài vì tội phá rối là xong.

Còn nếu tổ chức một đại hội dân Chúa thật sự, không bị áp lực của người ngoài dân Chúa, không vì để lấy lòng ai thì cần mời mọi  thành phần có quan điểm khác nhau tham dự . Lúc đó mới có sự bàn bạc thẳng thắn và kết quả mới phản chiếu thực trạng của GH và chân lý mới có điều kiện để được cao rao.

Thưa các vị, các vị đang tổ chức Đại Hội Dân Chúa, nếu các vị đóng cửa một số anh em vì họ khác chính kiến với ai đó và để làm theo ý dàn xếp của ai đó thì các vị tổ chức một Đại Hội Cấm Cửa Một Số Dân Chúa, viết gọn là Đại Hội Cấm Cửa Dân Chúa. Cái này chúng tôi nói thầm vào tai các vị: “Coi chừng trong số những người bị cấm cửa lại có cả  Anh Lớn Giê su của chúng ta đó. Ngày xưa Anh Giê su cũng giống những anh em bị cấm cửa ở chỗ các nhà quý tộc, biệt phái, giáo sĩ và chính quyền ghi Anh vào sổ đen và đã đem thủ tiêu Anh. Các vị chắc thuộc Tin Mừng hơn chúng tôi chứ nhỉ”.

Với việc tổ chức Đại Hội Dân Chúa, chúng ta vẫn mong muốn Chúa Thánh Thần tác động đến Đại Hội. Nếu các vị  chọn lựa phe ta, phe nó và loại  phe nó ra thì các vị muốn  Ý Chúa Thánh Thần giống  ý các vị, như khi các vị vào cửa hàng tự chọn và chọn món hàng  hợp ý. Muốn Chúa Thánh Thần hiện diện thì phải để Ngài Tự Do chứ, Ngài là Gió, là Hơi Thở, là Lưỡi Lửa, là Chim Câu  mà, gò bó Ngài thế nào được.

Chúc các vị có lựa chọn chính xác.

Xin Chúa ở cùng tất cả chúng ta.

An Đức


Góp ý cho Đại hội Dân Chúa: Một số đề nghị cho việc tổ chức Đại Hội Dân Chúa 2010

Tháng Chín 15, 2010

Không ai có thể phủ nhận tình trạng bất đồng quan điểm trầm trọng đang xảy ra trong lòng GHCGVN. Đại Hội Dân Chúa sắp tới là một cơ hội rất tốt để hàn gắn và tìm ra một hướng đi cho GH trong lúc này và tương lai. Vào thời điểm  này ĐH đang được tổ chức và ngày Đại Hội khai mạc đã gần đến.

Tuy GHCGVN có nhiều chuyên viên và nhà tổ chức giàu kinh nghiệm và uyên bác đang ngày đêm tốn hao công sức với mục đích tổ chức thành công Đại Hội này. Nhưng trộm nghĩ với tư cách giáo dân, chúng tôi cũng nên đưa ra một ít ý kiến  đóng góp cho Đại Hội.

Vậy để có được kết quả tốt cho ĐH, chúng ta phải làm gì?

A.Thành phần tham dự: Đây là điểm quan trọng và gần như là quan trọng nhất, quyết định sự thành công của ĐH.

Hiện tại có thể chia ra làm ba khuynh hướng chính trong GHCGVN:

Vì lợi ích của GHCGVN  và vì sự bang giao giữa Toà Thánh và CPVN, cần giữ hòa khí với CP bằng mọi cách.

  1. Vì công lý và vì người bị áp bức, phải đối thoại, nếu cần thì phải giữ thái độ cứng rắn với CP (cứng rắn như kiểu của ĐGM Ngô Quang Kiệt: “Tôn giáo là quyền chứ không phải là xin, cho), nhưng vẫn ôn hòa và bất bạo động.
  2. Đa số thầm lặng, theo truyền thống khiêm nhường của các dòng tu, và đặc tính của con chiên (vâng lời các bề trên, chờ đợi để biết ý Chúa qua các đấng bề trên). Thường không dám bày tỏ ý kiến, ngại đụng chạm.

Cần có sự hiện diện của đại diện của cả  3 khuynh hướng nói trên. Số đại diện của 2 khuynh hướng 1 và 2 cần tương đương về lượng và phẩm.

Nếu thiếu sự có mặt của bất cứ phái nào trong 2 phái này, thì không còn là Đại Hội Dân Chúa nữa, mà chỉ là nửa Đại Hội mà thôi. Mà cái nửa Đại Hội ấy cũng rất tẻ nhạt vì sẽ là một nhóm “ta nói với mình”, cùng với sự hiện diện của nhóm chỉ nghe không nói. Đại hội này sẽ giống những Đại Hội hiếu hỉ, đến hẹn lại lên của các đoàn  thể, tổ chức khác mà chúng ta vẫn chứng kiến.

Chúng tôi đặc biệt ước ao ĐH sẽ có mặt các Đức Cha Ngô Quang Kiệt và Nguyễn văn Nhơn. Hai vị sẽ dự và phát  biểu trước Đại Hội, nếu hai vị phát biểu công khai mọi nỗi niềm uẩn khuất trong tâm hồn hai vị thì, với ơn Chúa, những gánh nặng đau buồn mà hai vị và của toàn Dân Chúa phải chịu từ biến cố thay đổi tại Tòa Giám Mục Hà Nội thời gian gần đây hy vọng sẽ vơi bớt rất nhiều.

B. Điều lệ:

Đại hội tiến hành theo quy định bởi một điều lệ. Điều lệ được soạn thảo để Đại hội được tiến hành trong trật tự, tôn trọng lẫn nhau. Nhưng điều lệ cần không có những điều khoản để loại trừ nhau,bịt miệng nhau, Điều lệ sẽ quy định thế nào để tất cả các đại biểu có thể được phát biểu trong trật tự.

C. Tiến hành Đại Hội:

Đại hội được tiến hành dưới sự chủ tọa của ban chủ tọa Đại Hội.

Ban chủ tọa gồm những vị  có uy tín và công tâm. Không nên chọn trong số các vị có dính líu vào những tranh cãi hiện tại.

Để  ghi chép biên bản cũng cần một ban thư ký có năng lực và vô tư..

Chúng tôi đề nghị trong nghi lễ khai mạc, ban chủ tọa , ban thư ký và các đại biểu tham dự cùng đọc một lời nguyện, xin Chúa  chứng giám cho Đại Hội, mọi người sẽ hứa sẽ tiến hành đại hội một cách trung thực, công bằng,  không vì những mục đích riêng tư, để danh Chúa được cả sáng và mang lại lợi ích cho anh em khó nghèo (đối tượng chính của Tin Mừng).

D. Phát biểu:

Đây là  phần chính, nhưng phần phát biểu chỉ có kết quả nếu có đủ các khuynh hướng tham dự.

Có thể thấy rằng từ lúc xảy ra sự bất đồng trong GH vì những quan điểm khác biệt trong cách cư xử với xã hội nói chung (với chính phủ, với các vấn nạn của dân tộc hiện nay, với các vấn đề tài sản của GH , với những nạn nhân của các xung đột giữa các giáo dân  và chính quyền địa phương) và với nhau (mà tiêu biểu là cách cư xử của HĐGM với Đức Cha Ngô Quang Kiệt, phản ứng của giáo dân giáo phận Hà Nội với Đức Tổng Giám Mục Nguyễn văn Nhơn v.v…) chưa hề có một cuộc gặp gỡ giữa những người anh em  của Chúa Ki tô trong  tâm tình anh em trong nhà. Hai phái lời qua tiếng lại qua các phương tiện truyền thông, qua các trang mạng, qua bục giảng. Nếu tình trạng này kéo dài thì tình hình ngày càng tồi tệ và ”nước càng đục, cò càng béo”

Đây là dịp tốt để các cái đầu nóng dịu lại và nghe nhau nói trực tiếp, để có thể nói chuyện phải quấy với nhau.

Trong cuộc tranh cãi trong gia đình giữa chồng và vợ, muốn hòa giải được là  phải nghe nhau đã, nghe và hiểu quan điểm, lý do việc làm của chồng hay của vợ. Chịu nghe và hiểu thì vấn đề đã được giải quyết phân nửa rồi. Ai đã từng chứng kiến việc can gián hai vợ chồng đang cãi nhau thì thường thấy câu người can gián  nói đại ý: “Yên đi đã, cả hai đứa cứ nói ào ào, chẳng đứa nào chịu nghe đứa nào thế này thì chúng mày cũng bỏ nhau sớm thôi”.

Anh em CG chúng ta cũng đang có nguy cơ ly tán nếu chẳng ai nghe ai như thế này.

Vậy tâm tình của các đại biểu khi đến dự đại hội là phát biểu  và  sốt sắng nghe nhau nói. Nghe để biết cái lý của anh em mình. Chúa Thánh Thần ở đâu đó trong Đại Hội, có thể ở bên hữu, có thể ở bên tả và cũng có thể ở trong số thầm lặng. Vậy hãy nói nhưng hãy lắng nghe.

Vì thế xin đa số thầm lặng không thầm lặng nữa. Xin các vị lên  tiếng. không phải lên tiếng can gián theo kiểu “dĩ hòa vi quý”, nhưng để giúp anh em và cả các vị  biết cần ứng xử như thế nào trước những ngổn ngang mà Giáo Hội  và  Dân Tộc đang phải đối đầu. Các vị đã yên lặng quá lâu. Các vị không thể nói “Thưa các anh em, chúng tôi không biết nói thế nào. Nói theo anh A thì anh B giận và ngược lại, vả lại chúng tôi không nắm rõ vấn đề nên không dám có ý kiến”. Các vị đều là thầy và là mẹ của giáo phận, dòng tu, xứ đạo của các vị. Các vị được hưởng ơn của Chúa và GH, được học hành đến nơi đến chốn. Chắc chắn các vị phải hiểu rõ các khúc mắc hơn giáo dân chúng tôi. Vậy xin  nhắc lại các vị có bổn phận phải phát biểu ý kiến trong Đại Hội. Vạn bất đắc dĩ, nếu vì sự sắp đặt nào đó tại Đại Hội chỉ có một phía được nói, thì đa số thầm lặng vẫn có dịp để nói lên lập trường của mình. Sự phân rẽ trong GHCGVN đã xảy ra quá lâu, quý vị không thể ngủ gục lâu hơn để đến nỗi không biết mọi việc xảy ra chung quanh tu viện, nhà xứ và giáo phận của quý vị. Vậy một lần nữa, chúng tôi van nài quý vị hãy lên tiếng để giáo dân chúng tôi biết  thật sự việc gì đang xảy ra và chúng tôi cần làm gì để GH lại đoàn kết và chúng tôi không còn  mặc cảm là chúng tôi thuộc một tập thể vô cảm trước mọi việc xảy ra cho Tôn Giáo mình và Dân Tộc mình.  Nếu đúng là các vị không hiểu rõ về các sóng gió của GH chúng ta, thì đây là dịp tốt để hỏi. Hãy hỏi cho các vị và cho chúng tôi.

Còn đối với các đại biểu được chọn từ giáo dân. Chúng tôi không có cơ hội bầu chọn các vị, nhưng dù sao các vị cũng là đại diện cho khối tuyệt đại đa số trong Giáo Hội: khối các giáo dân. Chúng tôi gửi gấm tình cảm của chúng tôi cho các vị. Chắc  cơ hội để các vị phát biểu tự do trước ĐH sẽ ít hoặc không có. Nhưng hãy tận dụng cơ hội nếu có để  kêu gọi các Đấng Chủ Chăn của chúng ta hãy đoàn kết  với nhau và hãy yêu đoàn chiên của các ngài nhiều hơn. Hãy thương và thông cảm với những vất vả khổ đau của chúng ta  nhiều hơn.  Hãy hy sinh những lợi ich, vinh danh cá nhân, hãy bớt những chuyến đi mục vụ đâu đâu ở nước ngoài, tốn kém thì giờ và tiền bạc, trong lúc giáo hội, giáo phận, giáo xứ  và các điểm truyền giáo xa xôi còn nhiều khó khăn và nhất là còn rất nhiều người nghèo ở bên các chủ chăn.

D. Thời gian tiến hành Đại Hội:

Đại Hội nào thì cũng phải có thời khóa biểu. Tuy nhiên không nên quy định quá chặt. Nếu  cần để bàn luận rốt ráo một vấn đề được xem là hệ trọng, thì nên biểu quyết để thêm thời gian cho vấn đề đó.

E. Thông tin Đại Hội.

Nếu Đại Hội diễn ra như chúng tôi trình bày, có thể có những bài phát biểu rất gay và (nói theo các vị lề phải là) nhạy cảm… tất cả được trình bày với tinh thần tôn trọng sự thật và tôn trọng lẫn nhau. Truyền thông công giáo sẽ biết cần phải đưa những điều gì với tinh thần xây dựng nhất trên cơ sở Sự thật, Công lý và trong đường hướng của Giáo hội. Đó cũng là nét riêng của truyền thông công giáo.

G. Biên bản và  văn kiện cuối (chúng tôi không biết văn kiện này sẽ mang tên gị)

Biên bản và các văn kiện chính thức ( sản phẩm của ĐH) sẽ do ban thư ký ghi chép và thông qua bởi toàn thể. Mọi ý kiến phản bác phải được ghi rõ trong biên bản. Văn kiện chính thức chỉ được công bố sau khi được đa số (tỷ lệ cũa đa số này sẽ do ĐH quyết định trước khi có phần phát biểu) chấp thuận. Cuối mỗi văn kiện sẽ có ghi nhận số thành viên ĐH tham dự và số người đồng ý, số người không đồng ý.

Với cách làm việc khá chặt chẽ và dân chủ như vậy,  sau Đại Hội sẽ không còn tranh cãi về phướng hướng mục vụ trong thời gian tới của GHCGVN nữa, và  Dân Chúa  chỉ còn việc thực hành.”

Như đã nói, những đề nghị cũa chúng tôi ở trên còn có nhiều thiếu sót, nhưng với tâm tình của một người con của Giáo Hội, tôi liều lĩnh đưa ra. Mong được xem xét và cân nhắc. Biết đâu các vị có thể áp dụng được một chút nào đó.

Mấy lời tâm tình riêng gửi Ban tổ chức Đại Hội (các chức sắc và chuyên viên dàn dựng Đại Hội, mà đa số giáo dân chúng tôi cũng chẵng biết là ai).

Một phần sự thành bại của Đại Hội đang nằm trong tay các vị. Nếu thu xếp để có một “Đại Hội thành công mỹ mãn”, toàn thể đại biểu nhất trí, đồng  ý bản đề cương thì cũng dễ. Chỉ việc cấm cửa “tụi nó”. “Đứa” nào không được mời mà đến thì nhờ các đồng chí đưa “nó” ra ngoài vì tội phá rối là xong.

Còn nếu tổ chức một đại hội dân Chúa thật sự, không bị áp lực của người ngoài dân Chúa, không vì để lấy lòng ai thì cần mời mọi  thành phần có quan điểm khác nhau tham dự . Lúc đó mới có sự bàn bạc thẳng thắn và kết quả mới phản chiếu thực trạng của GH và chân lý mới có điều kiện để được cao rao.

Thưa các vị, các vị đang tổ chức Đại Hội Dân Chúa, nếu các vị đóng cửa một số anh em vì họ khác chính kiến với ai đó và để làm theo ý dàn xếp của ai đó thì các vị tổ chức một Đại Hội Cấm Cửa Một Số Dân Chúa, viết gọn là Đại Hội Cấm Cửa Dân Chúa. Cái này chúng tôi nói thầm vào tai các vị: “Coi chừng trong số những người bị cấm cửa lại có cả  Anh Lớn Giê su của chúng ta đó. Ngày xưa Anh Giê su cũng giống những anh em bị cấm cửa ở chỗ các nhà quý tộc, biệt phái, giáo sĩ và chính quyền ghi Anh vào sổ đen và đã đem thủ tiêu Anh. Các vị chắc thuộc Tin Mừng hơn chúng tôi chứ nhỉ”.

Với việc tổ chức Đại Hội Dân Chúa, chúng ta vẫn mong muốn Chúa Thánh Thần tác động đến Đại Hội. Nếu các vị  chọn lựa phe ta, phe nó và loại  phe nó ra thì các vị muốn  Ý Chúa Thánh Thần giống  ý các vị, như khi các vị vào cửa hàng tự chọn và chọn món hàng  hợp ý. Muốn Chúa Thánh Thần hiện diện thì phải để Ngài Tự Do chứ, Ngài là Gió, là Hơi Thở, là Lưỡi Lửa, là Chim Câu  mà, gò bó Ngài thế nào được.

Chúc các vị có lựa chọn chính xác.

Xin Chúa ở cùng tất cả chúng ta.

An Đức


Đại Hội Dân Chúa Và Những Sự Thật “Thực”

Tháng Chín 13, 2010

Nói đến Đại Hội Dân Chúa người ta phải nghĩ ngay đến một hội nghị có qui mô lớn, được phổ biến rộng rãi giúp mọi thành phần Dân chúa hiểu được tầm mức quan trọng để tích cực hưởng ứng cũng như biết phải làm gì cùng nhau để đưa Đại hội đến thành công. Tiếc rằng cho đến nay chẳng có mấy người giáo dân Việt Nam nghe nói đến sự kiện trọng đại này nói chi đến việc biết phải làm gì để đóng góp cho Đại hội.

Lẽ ra Ban tổ chức Đại hội phải soạn thảo một tài liệu thật chi tiết và hướng dẫn cụ thể từng giai đoạn để mọi thành phần Dân Chúa có thể theo đó mà thực hiện từng bước mà tiến vào Đại hội. Thế nhưng cho đến nay chỉ còn hơn hai tháng nữa đã đến ngày khai mạc Đại hội nhưng Ban tổ chức đã chẳng làm gì ngoại trừ cho phổ biến một Thư Ngỏ nói chung chung hồi tháng 4/2008 và một văn bản có tựa đề “Đại Hội Dân Chúa Việt Nam từ 21 đến 25 tháng 11-2010” được coi là  tài liệu nói về  việc tổ  chức Đại hội mới được phổ biến hồi trung tuần tháng 8-2010 vừa qua. Nhưng văn bản dài không qúa hai trang giấy này cũng chỉ được viết rất sơ lược vỏn vẹn trong ba mục: Chủ đề, Đại biểu và Chương trình.

Qua văn bản này người ta thấy Ban tổ chức đã tỏ ra qúa chú trọng đến chỗ ăn chỗ ở, thậm chí còn ghi rõ “Ban Tổ Chức lo bố trí chỗ ăn ở cho các Thư ký và tài xế của các đại biểu”. Trong khi đó thì công việc vô cùng cần thiết là hướng đẫn để giáo dân có ý niệm rõ ràng và  biết phải chuẩn bị như thế nào để tham gia vào Đại hội thì lại chỉ được viết qúa sơ sài Đề nghị mỗi giáo phận tổ chức cho mỗi thành phần giáo sĩ, giáo dân học hỏi, góp ý cho bản thiết kế ngôi nhà chung, đồng thời bầu đại biểu dự Đại Hội Dân Chúa với nhiệm vụ chuyển các ý kiến đến Đại Hội”.

Bất cứ một buổi học tập hay hội thảo nào cho dù lớn hay nhỏ cũng đều phải có tài liệu hướng dẫn để người tham dự có thể theo đó mà học hỏi, mổ xẻ, tham gia ý kiến. Thế mà cả một Đại Hội Dân Chúa lại không có lấy một tài liệu hướng dẫn, chỉ nói khơi khơi thì người giáo dân biết đường nào mà mò, biết dựa vào đâu để mà học hỏi, suy nghĩ và góp ý? Người gíao dân biết bầu đại biểu như thế nào? Theo tiêu chuẩn nào? Dường như  người  ta chỉ chỉ chú trọng bề ngoài nhằm khoa trương chứ không hề có thực tâm muốn thu được hoa trái trong kỳ Đại hội này.

Trong Thư Ngỏ gửi các thành phần Dân Chúa Việt Nam, ĐHY Phạm Minh Mẫn người đứng đầu công tác tổ chức Đại Hội Dân Chúa viết không phải riêng tôi, song là tất cả mọi thành phần Dân Chúa VN, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, đều có quyền và trách nhiệm tham gia vào công việc xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô trên đất nước VN”. Trong Thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam gửi Cộng đồng Dân Chúa trước đó cũng nhấn mạnh Đại hội này quy tụ các đại diện của mọi thành phần Dân Chúa để cùng với hàng giáo phẩm cầu nguyện, suy tư, trao đổi, nhằm xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô trên quê hương Việt Nam, một Giáo Hội hiệp thông và tham gia, một Giáo Hội hiện diện vì loài người, một Giáo Hội ước muốn chu toàn sứ vụ yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trong môi trường mình đang sống.

Thế nhưng nhìn vào các thành phần tham dự Đại hội không thấy có một Đại biểu nào đến từ các cộng đồng Công giáo Việt Nam ở hải ngoại. Không lẽ giáo dân Việt Nam ở hải ngoại không còn liên hệ gì đến giáo hội Việt Nam nên không được phép góp phần vào công việc “gia cố, phục chế, canh tân ngôi nhà chung” đã qúa rệu rã, mục nát? Nếu thực sự Giáo dân Việt Nam ở hải ngoại không có chỗ đứng trong lòng Giáo hội quê hương thì Hội Đồng Gíam Mục lập ra “Ủy ban Mục vụ Di dân” làm gì? Sao không dẹp quách cái ủy ban này đi cho rồi?

Nói về Đại biểu cũng còn nhiều điều bất hợp lý chẳng hạn như về Đại biểu các Dòng tu. Theo Danh sách Đại biểu các Dòng tu sẽ tham dự Đại Hội Dân Chúa Năm Thánh 2010 do linh mục Vũ Quang Trung, Giám tỉnh Dòng Tên Việt Nam củng là Chủ tịch Liên Hiệp Bề Trên Thượng Cấp Việt Nam phổ biến, người ta thấy thiếu vắng đại diện của một vài Dòng trong đó có Dòng Chúa Cứu Thế là một Dòng tu lớn đang hoạt động rộng rãi tại Việt Nam. Sự thiếu vắng này khiến cho dư luận xôn xao và bất bình. Chẳng lẽ Dòng Chúa Cứu Thế không phải là thành phần Dân Chúa?

Từ sự việc khó hiểu này đã dẫn đến rất nhiều nghi vấn và suy đóan.  Có người nghĩ chắc là vì linh mục Chân Tín mới viết và cho phổ biến bài tham luận làm bẽ mặt nhóm người đang cổ võ cho thái độ “câm nín và cúi đầu” nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức cố TGM Nguyễn Văn Bình nên Dòng Chúa Cứu Thế đã bị loại ra khỏi Đại Hội. Chẳng lẽ sự thật là như vậy? Linh mục Chân Tín là linh mục Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế là Dòng Chúa Cứu Thế sao lại có thể “Giận cá chém thớt” một cách vô lý như vậy? Trong Thư Ngỏ, người đứng đầu công tác Tổ chức Đại Hội Dân Chúa đã từng kêu gọi phát huy lòng từ bi bao dung đối với những ai bất đồng, bất hoà, thù nghịch với mình. Chỉ có “thói đời” mới hẹp hòi, cư xử theo cách của tiểu nhân chứ cùng là anh em trong một nhà, cùng là Dân Chúa với nhau sao lại có thể “Cạn tầu ráo máng” với nhau như vậy? Đại Hội Dân Chúa chứ đâu phải là chốn võ đài để mà loại trừ đối thủ.

Thật ra thì còn nhiều lý do khác nữa chẳng hạn như việc Dòng Chúa Cứu Thế đã đứng về phía người cô thế, đã làm bao nhiêu việc để bênh vực Sự thật và Công lý. Đã bao nhiêu lần Dòng Chúa Cứu Thế lên tiếng tố cáo hay cảnh báo về những âm mưu hại dân hại nước  làm cho bọn bạo quyền trức giận đến căm gan tím ruột chỉ mong có cơ hội để trả thù. Người ta vẫn còn nhớ cách đây không lâu, trong phiên họp vòng hai giữa phái đoàn của Việt Nam và Vatican, phái đoàn của Việt Nam đã nêu ra một đòi hỏi vô cùng phi lý là yêu cầu Vatican cấm Dòng Chúa Cứu Thế hoạt động tại Việt Nam. Dĩ nhiên đòi hỏi trịch thượng và phi lý này đã bị phái đoàn Tòa Thánh thẳng thừng bác bỏ. Để rửa nỗi nhục này làm sao bọn bạo quyền không nghĩ đến nhóm quốc doanh núp sau Ban Tổ chức Đại Hội Dân Chúa để “Mượn gío bẻ măng” nhân cơ hội này để loại trừ Dòng Chúa Cứu Thế khỏi Đại Hội. Đây cũng còn có thể là phát súng mở đầu cho một cuộc tấn kích nhằm triệt hạ Dòng Chúa Cứu Thế. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các cha Dòng Chúa Cứu Thế được luôn vững tâm và cũng xin Chúa đưa tay ngăn chặn những  âm mưu thâm độc của “thói đời” trần thế.

Một điểm đáng chú ý khác là  trong số khách mời đến dự Đại Hội, Ban tổ chức có mời Đại diện các HĐGM được coi là đã lo mục vụ di dân cho các cộng đồng CGVN hải ngoại như Đức, Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã lai, Campuchia, Thái Lan… Đối với những HĐGM ở các quốc gia khác thì không nói làm gì, riêng HĐGM của giáo hội Trung Hoa,  một giáo hội quốc doanh mà hầu hết các Giám mục được tấn phong bất cần ý kiến của Tòa Thánh. Khi Ban Tổ chức mời đại diện của một giáo hội bất phục tùng Đức Thánh Cha mà  lại ngồi chính ình trên hàng ghế quan khách trong Đại Hội Dân Chúa Việt Nam hẳn là Ban Tổ chức muốn phát ra một tín hiệu qua việc làm này?Tín hiệu này có ý nghĩa gì những ai từng theo dõi những diễn biến gần đây thì đều biết rõ.

Với những sự thật “thực” vừa nêu trên người ta e ngại rằng Đại Hội Dân Chúa sắp tới sẽ  chẳng đi đến đâu mà chỉ làm cho căn nhà Giáo hội Việt Nam vốn đã xiêu  vẹo lại càng thêm xiêu vẹo.

Lại Thế Lãng

Vermont-USA