Thông tin về kế hoạch “đánh bùn sang ao” nguy hiểm cho Giáo hội Công giáo Việt Nam

Tháng Mười 30, 2010

Theo nguồn tin chúng tôi nhận được, một số vị có vai trò trong HĐGMVN đang có kế hoạch để đưa Đức Cha Anton Vũ Huy Chương về Tòa Giám mục Đà Lạt hiện đang trống tòa.

Việc di chuyển, bổ nhiệm các Giám mục là việc của Tòa thánh Vatican. Tuy nhiên, những nhu cầu nhân sự, những báo cáo, đề đạt lại xuất phát từ Giáo hội địa phương mà HĐGMVN là cơ sở. Theo kế hoạch đó, HĐGMVN sẽ đề nghị Tòa Thánh Vatican thuyên chuyển Đức cha Anton Vũ Huy Chương về Tòa Giám mục Đà Lạt nhằm giải quyết hiện tượng không còn uy tín để lãnh đạo giáo phận của Đức Cha Anton Vũ Huy Chương tại Hưng Hóa.

Đọc tiếp »


Thư giáo dân gửi Đức Giám mục GP Hưng Hóa Anton Vũ Huy Chương

Tháng Chín 20, 2010

Kính thưa Đức Cha An-tôn!

Thưa Đức Cha, con xin tự giới thiệu, con là: Maria Lương Kim Hoàn, sinh năm 1968, ở Giáo xứ Yên Hợp. Con viết thư này với tâm tình của một đứa con với người cha – của một con chiên với mục tử, và đặc biệt trong tâm tình của một con dân trong Giáo Hội Việt Nam.

Trước khi viết những dòng chữ này, con đã suy nghĩ và cầu nguyện rất nhiều có nên viết hay không. Vì con nghĩ: chữ nghĩa văn từ của đứa vô học lại quê mùa, dốt nát như con liệu có ai thèm ngó tới không. Nhưng vì quá lo cho sự sống còn của các linh hồn, cho tương lai của giáo phận nên con đã quyết định cầm bút viết thư này gởi tới Đức Cha.

Thưa Đức Cha! Chắc Đức Cha còn nhớ ngày 25/01/2010, con và chú Gioakim Vũ Viết Vị đã về tòa giám mục để gặp Đức Cha. Hai chị em con đi đem theo bao nhiêu tâm tình, bao nhiêu sự gởi gắm của bà con giáo dân, những người thao thức lo cho đoàn chiên của Chúa đang trên bờ vực thẳm của sự bất an … Chúng con muốn đến thưa với Đức Cha nhiều điều chúng con thấy và cảm nhận được. Thực sự chúng con chỉ là những người giáo dân thấp cổ bé họng đâu biết ăn nói … Nhưng dựa vào tinh thần của Công đồng Va-ti-ca-nô II: giáo dân không phải là con nít để cho cha mẹ là giáo sĩ bảo gì mới làm nấy, mà giáo dân chính là lực lượng tiên phong trong công cuộc truyền giáo, được hiệp thông với giáo sĩ … Với tinh thần đó, chúng con đã can đảm lên đường đi gặp Đức Cha bất chấp thời tiết mưa, gió, rét buốt trên chặng đường hơn 170 km với hy vọng CON ĐƯỢC GẶP CHA – CHIÊN GẦY ĐƯỢC GẶP MỤC TỬ NHÂN LÀNH – để tâm sự, để giãi bày những lo âu và sẽ được vỗ về, chăn dắt …

Nhưng sự thật thì hình như hoàn toàn ngược lại, khi gặp Đức Cha, con vừa mới giãi bày được một chút thì … không hiểu vì lý do gì tác động mà Đức Cha tỏ thái độ KHÔNG MẤY NHÂN TỪ VỚI CHÚNG CON. Những đứa con bé nhỏ mới BẬP BẸ BIẾT NÓI, muốn nói thật nhiều … muốn giãi bày thật nhiều … khi gặp phải thái độ và những cử chỉ khua tay múa chân của Đức Cha… tất cả những điều muốn nói, những hy vọng của chúng con tan biến… thay vào đó là sự giật mình… ngơ ngác… run rẩy… thật tội nghiệp cho hai đứa con bé bỏng lần đầu tiên được gặp CHA của mình, chú Vị mặt tái mét, sau khi bước ra khỏi phòng khách của tòa giám mục, miệng nói lắp bắp: chị ơi! hồn vía của em bay hết lên mây rồi…

Thưa Đức Cha! từ sau ngày được gặp Đức Cha về nhà, không đêm nào con ngủ ngon giấc, còn ban ngày con chẳng nhớ công việc của mình phải làm gì? Cứ làm việc nọ sọ việc kia… thậm chí cơm còn chẳng nấu được cho ra hồn mà ăn. Hình ảnh của một người CHA – MỘT VỊ MỤC TỬ ??? mà con được gặp luôn luôn hiện lên trong trí óc con, khiến con phải đặt ra những câu hỏi, hỏi rồi tự trả lời, hỏi rồi để cảm thông, hỏi rồi để cầu nguyện… nhưng tất cả vẫn không làm con hết được những băn khoăn, lo lắng… và con quyết định viết những dòng này để giãi bày những suy nghĩ của con và kính dâng lên Đức Cha.

I. Đức Cha Nổi Cáu Trước Mặt Hai Đứa Con

1. Nếu xét theo tình phụ tử thì:

Cứ cho con là đứa con ngu dốt, nói điều gì đó sai quấy với Đức Cha thì ngài cũng không nên cáu với chúng con. Cũng như con đã làm mẹ của những đứa trẻ, điều tối thiểu trong giáo dục con cũng phải biết là: nếu một đứa con càng ngu dốt thì những người  làm cha làm mẹ càng phải thương nó hơn và phải nhẫn nại, dịu dàng phân tích, bảo ban cho nó hiểu, nếu cáu giận với nó thì chỉ làm cho nó sợ và càng ngu hơn thôi. Chắc chắn nó sẽ không phục và chẳng đứa nào dám đến gần cha mẹ của mình.

2. Nếu xét theo tình mục tử với chiên thì:

Ngày 01/10/2003 con đi dự lễ tấn phong giám mục của Đức Cha, con rất ấn tượng về hình ảnh vị mục tử vác chiên lên vai được in thật to trên phông lễ hôm đó… rồi hình ảnh Đức Cha được trao phó cây gậy… con thầm cảm ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo phận của chúng con đã có một vị MỤC TỬ CẦM GẬY để xua đuổi sói dữ, bảo vệ đoàn chiên… nhưng khi thấy mục tử khua chân, múa tay, khuôn mặt đằng đằng sát khí thì con cảm thấy thật xót xa: MỤC TỬ đã cầm gậy để xua, đập chiên của mình. Con thật cảm thông và cố nghĩ là ngài quá nhiều công việc đến nỗi không đủ bình tĩnh để suy xét mọi điều đúng – sai, nhưng con lại thấy một điều thật nguy hiểm là: Đức Cha là một vị đứng đầu một giáo phận có tới hơn 200 ngàn giáo dân mà ngài lãnh đạo theo kiểu KHÔNG BÌNH TĨNH, hay nói cách khác là áp đảo, thì hỏi rằng đàn chiên mấy lúc nữa sẽ đến hồi tan tác?

3. Những ý kiến của con trong việc thuyên chuyển linh mục sao cho hợp người, hợp cảnh, không để phí đi những tài năng, không để thiệt thòi cho các linh hồn, không để Giáo Hội phải gánh chịu những hậu quả xấu không đáng có… nếu vì những ý kiến đó của con làm Đức Cha nổi cáu thì con thấy thật đáng lo sợ: Giáo Hội mà Chúa Giêsu xây trên nền tảng tình yêu và sự hiệp thông có còn tồn tại nữa không? Hay đã bị các ĐẤNG biến thành một thể chế ĐỘC TÀI, Mục Tử ngồi trên tòa cao phán xuống, chiên ở dưới cứ việc vâng lời, góp ý thì mục tử nổi cáu, áp đảo. Mối tương quan một chiều từ trên xuống theo kiểu CHỦ NÔ ấy thì thử hỏi rằng trong Hội Thánh Chúa có còn tôn trọng nhân quyền? Có còn sự công bằng, dân chủ nữa không ạ? Nếu ngay trong Giáo Hội của Chúa mà không còn những điều đó thì thế giới bao giờ mới vơi đi những đau khổ?

4. Nếu việc chúng con chuyển những nhận định và những lời khen của giáo dân về những tài năng, đức hạnh của cha Thái mà vì điều đó Đức Cha nổi cáu thì… chẳng lẽ Đức Cha lại đang sống lịch sử của Cựu Ước được ghi lại trong sách Samuen chương 18 hay sao? Nếu không thế thì Đức Cha phải thật vui mừng khi mình có một cánh tay nối dài quá đắc lực chứ ạ?

II. Cách Giáo Dục Của Người Cha

1. Khi nghe Đức Cha kể một loạt “TỘI” của cha Thái trước mặt hai đứa mà thực sự Đức Cha chưa rõ danh tính, gốc tích… đặt giả thiết bọn con là lương dân hay nhà báo thì họ sẽ đánh giá thế nào về Giáo Hội Chúa và về tình cha con của Đức Cha? Con giới thiệu con là Hoàn ở Giáo xứ Yên Hợp Đức Cha tin ngay. Sao Đức Cha không gọi điện cho cha xứ con để xác minh thực hư? Con thấy một vị lãnh đạo mà dễ tin như vậy thì sẽ rất dễ “mất nước”. Còn mục tử mà dễ tin như Đức Cha thì có lẽ lúc này trong giáo phận Hưng Hóa đã có biết bao nhiêu sói dữ đang đội lốt cừu để ăn thịt chiên rồi đấy ạ!

2. Khi Đức Cha kể tội cha Thái trước mặt hai con, con thực sự thấy Đức Cha không biết cách giáo dục: xét theo nghĩa thiêng liêng, cha Thái thực sự là con của Đức Cha. Cứ cho là cha Thái có tội thực sự đi, tại sao không dùng tình thương, sự chân thành mà khuyên bảo, mà nâng dạy… đằng này Đức Cha lại dùng chiêu KỂ TỘI con mình trước mặt người khác. Con không hiểu Đức Cha có ý gì? Khi nói tội cha Thái trước mặt một “đứa đàn bà” chưa rõ danh tính; để hạ giá và làm giảm bớt lòng kính trọng của chúng con với cha Thái ư? Đức Cha lỗi Điều Răn thứ tám. Để dạy dỗ cha Thái từ xa qua chúng con ư? Đức Cha không có tình cha.

Năm thánh 2000 con đi hành hương, con nhớ mãi bài giảng này: trước khi làm nghề gì người ta cũng phải học thật kỹ, càng học tốt thì làm nghề càng tốt. Làm bác sĩ phải học ít là 7 năm, giáo viên phải 3 năm. Nghề nào cũng có ngày hưu mà vẫn phải học, vậy mà việc làm cha, làm mẹ phải làm cả đời, không có ngày hưu nhưng có mấy ai học. Con là người không có học, lại có tới 6 đứa con, nhưng khi đứa nào có lỗi thật sự thì điều tối thiểu để giáo dục là con không bao giờ nhắc lỗi của nó trước mặt người khác, càng không bao giờ được phép mạt sát nó trước mặt chị em… vì nếu giáo dục con cái KIỂU như Đức Cha khác nào muốn trù dập nó, không muốn nó ngóc đầu lên, tự nó sẽ bị chìm trong mặc cảm tội lỗi, nó mất danh dự. Làm sao nó có cơ hội để trưởng thành, để phát triển về mọi mặt? Còn chưa nói đến chuyện nó tiêu cực… buông xuôi tất cả… chẳng lẽ ĐẤNG LÀM CHA và LÀM THẦY lại không biết đến điều này sao?

3. Đức Cha nhớ lỗi người khác: khi Đức Cha kể tội của cha Thái, con thấy Đức Cha kể cả đến những tội cách đây 12 năm, mà lúc đó Đức Cha chưa làm Giám mục Giáo phận Hưng Hóa. Vậy mà ngài nhớ và kể tội cha Thái một cách trôi chảy. Con thấy thực sự thương Đức Cha. Ngài đã phải gánh một cái gánh quá nặng, quá mệt mỏi là lo cho phần rỗi của hơn 200 ngàn linh hồn, vậy mà ai đó đã vô tình chất thêm lên vai ngài một cái gánh nặng không đáng có nữa là: NHỚ LỖI của người khác. Giáo phận có 60 linh mục. Linh mục được thánh hiến nhưng vẫn là người và chắc chắn sẽ có những lỗi lầm. Như vậy, Đức Cha sẽ phải nhớ lỗi của 60 linh mục, còn chưa kể những cấp dưới… Thật đáng thương cho Đức Cha phải gánh hai vai quá nặng và khi quá sức chắc chắn một điều là ngài sẽ phải vất bớt một gánh. Sẽ thật vô phúc cho giáo phận Hưng Hóa nếu ngài vất đi cái gánh mà trong đó có các linh hồn. Một điều đáng lo sợ nữa là cái đầu của ngài phải chứa quá nhiều thứ như vậy thì không biết có còn chỗ nào để cho Chúa ở nữa không ạ? Sẽ thật khủng khiếp nếu một Đấng làm đầu Giáo phận, làm chứng cho Chúa mà không có Chúa thì Giáo phận sẽ nằm gọn trong quyền lực của sa-tan mất thôi…!!! Và nếu Thiên Chúa cũng nhớ lỗi của con người như Đức Cha thì chắc chắn thiên đàng sẽ vắng tanh, chỉ có Ba Ngôi Thiên Chúa và may ra Đức Ma-ri-a là con người duy nhất được vào thôi… còn Đấng làm đầu Giáo Hội là thánh Phê-rô cũng có trọng tội đấy ạ.

III. Mục Tử Không Biết Chiên

Khi kết tội cha Thái, Đức Cha đã tìm hiểu chưa? Là Mục Tử, Đức Cha đã thực sự biết chiên của mình chưa ạ? Sau khi Đức Cha kể một loạt tội, con đã suy nghĩ thế này:

1. Đức Cha nói: cha Thái chuyển lên An Thịnh mang cả chổi cùn, rế rách… cứ cho cha Thái là người quá đáng đi, tại sao lúc đó Đức Cha không can thiệp, nếu con là Đức Cha, con sẽ bảo cha Thái để nguyên si những thứ đó lại, lên An Thịnh thiếu gì Đức Cha sẽ cho. Nếu Đức Cha xử như vậy thì cha Thái sẽ kính phục và con cái của ngài sẽ không mất đoàn kết… ngài đã tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể lúc đó chưa?

2. Đức Cha nói: cha Thái đứng trên bục giảng để chửi chính quyền, xúc phạm người thi hành công vụ là vi phạm luật pháp nhà nước. Vậy nếu chính quyền làm đúng mà cha Thái chửi thì con tin họ đã gô cổ và bỏ tù cha Thái lâu rồi. Còn nếu chính quyền làm sai thì tự bản chất đâu còn là chính quyền nữa mà là ngụy quyền. Mà ngụy quyền thì phải vạch mặt chỉ tên để khỏi tốn cơm dân, áo đảng. Loại đó con cũng có quyền chửi, có quyền tố cáo, vạch mặt. Đó là nghĩa vụ của bất cứ ai dám bảo vệ công lý… có thể vì như vậy những người không hiểu lại bảo là chửi chính quyền vì họ chưa định nghĩa được thế nào là chính quyền… đó là con phân tích tội mà Đức Cha kết, gán cho cha Thái. Còn thực sự giáo dân ở vùng Nhân Nghĩa cũ, cũng như An Thịnh, Yên Phú và Đại Phác bây giờ người ta thấy rõ điều này: khi cha Thái chưa tới các xứ này, giáo dân nghèo về mọi mặt, thậm chí còn không biết mình đang là người, suốt ngày chỉ biết cắm đầu, chúi mũi vào bát cơm, manh áo… không biết phẩm giá con người hay nhân quyền là gì? Chỉ cần các BỀ TRÊN phán gì là răm rắp nghe theo, bảo sai cũng phải vâng nếu không sẽ bị phạt: bảo không được đi lễ, không được dạy giáo lý cũng phải nghe. Chúng con không còn biết đâu là đúng sai nữa… khi được cha Thái dạy, chúng con đã biết bảo vệ quyền sống, quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận… Chúng con đã biết đâu là chính quyền, đâu là ngụy quyền. Nhưng một điều quan trọng là giáo xứ quá đông, làm sao linh mục có thể dạy riêng từng người. Vậy, việc đứng trên bục giảng để dạy cho giáo dân biết những điều đó thì kẻ xấu lại bảo là chửi chính quyền. Nhờ cha Thái dạy như thế đã biết bao người được nhờ. Nếu cha Thái cứ cúi đầu lặng thinh thì hỏi rằng đời sống nhân quyền của giáo dân có được như ngày nay không!?

Hơn nữa, con cứ trộm nghĩ rằng, nếu một mai không có ai có đủ can đảm để lên tiếng bênh vực cho công lý, sự thật, bênh vực cho giáo dân thì chắc chắn là người dân chúng con sẽ lại bị chính quyền cai trị về tôn giáo giống như những năm trước đây, khi cha Thái chưa đến với chúng con. Trong khi đó, việc lãnh đạo tôn giáo thuộc về quyền của giáo hội, chứ không phải của chính quyền. Đức Cha có biết rằng, từ ngày có cha Thái lên vùng này, kể cả khi cha Thái không còn là cha xứ của chúng con nữa, thì chúng con vẫn được hưởng nhờ cái uy tín lãnh đạo tinh thần của cha Thái!? Việc chính quyền xen chân vào nội bộ của Giáo xứ, giáo họ đã vì thế mà giảm đi rất nhiều. Rồi mai đây, sự thật sẽ ra sao, chúng con không biết sẽ như thế nào, nhưng chắc Đức Cha cũng chẳng biết gì hơn chúng con, vì Đức Cha đâu có ở trên vùng này với chúng con, để mà cảm thông với những hình thức chèn ép sinh hoạt tôn giáo của chính quyền.

3. Đức Cha nói: cha Thái “choài trổ” đi An Thịnh vì thích đông người: Đức Cha thử hình dung một giáo xứ lúc đó có 26 ngàn giáo dân chỉ có một linh mục, nhà thờ xứ lại nằm tại một giáo họ quá nhỏ bé, chỉ có hơn 40 nóc nhà đi đạo. Mỗi ngày lễ trọng cả xứ tuôn về Nhân Nghĩa, những Thánh Lễ hàng vạn người dự. Địa hình chật hẹp, chỗ để xe không có, chỗ trọ không đủ, giáo dân nằm chen chúc ở các nhà dân không hết nên phải nằm la liệt ở các gốc cây quanh nhà thờ. Vì địa hình đò giang, tàu xe cách trở mà ga Hóp lại là ga phụ, người dưới đi lên, người trên đi xuống phải xuống ga Mậu A cách nhà thờ hơn 10 cây số, giờ giấc phải phụ thuộc tàu bè… đó là còn chưa nói tới những nhu cầu phải phục vụ như ăn uống, bảo vệ, an ninh, đã thế lại liên tục có những lớp học, lớp cầu nguyện… lại phục vụ… Một gánh quá nặng đối với giáo họ sở tại mà giáo xứ Nhân Nghĩa thì quá nhỏ. Phục vụ mãi cũng thấy mệt mỏi, họ còn phải lo cho gia đình nữa chứ… Vì thế, không thiếu cảnh cha xứ đêm đêm phải thức đi quanh nhà thờ để bảo vệ cho giáo dân ngủ… sức đâu nữa để làm mục vụ. Ngược lại, An Thịnh đường liền, giáo dân cũng đông, địa hình thuận lợi, tiện cả tàu xe, giáo dân đi lễ không phải ngủ trọ qua đêm, giáo dân sở tại cũng nhàn, cha xứ cũng bớt đi gánh nặng… Vậy, ở đâu có lợi cho ích chung hơn ạ?

4. Đức Cha nói: cha Thái dạy một mình một chương trình giáo lý mà không dạy theo chương trình của giáo phận. Điều này khi nghe con cũng thấy bức xúc. Con đã đặt ra những câu hỏi về cha Thái và con đã quyết định tìm hiểu theo khả năng của mình: con đã đến các giáo xứ Yên Phú, Đại Phác, An Thịnh hỏi và biết được giáo lý viên của họ đều do giáo phận đào tạo (có danh sách cụ thể), còn học sinh giáo lý cấp 1, 2, 3 thì đều học theo chương trình giáo lý của giáo phận Xuân Lộc. Đức Cha có thể lên gặp bất cứ giáo lý viên hay học sinh nào để xác minh điều này rồi hãy kết tội một linh mục…

5. Đức Cha nói: có một người bảo cha Thái mặc áo trái họ không dám góp ý. Một người trong số 26 ngàn giáo dân thì quả là một tỉ lệ quá nhỏ không đáng kể, vậy mà Đức Cha dựa vào đó để đánh giá, để hạ thấp một linh mục biết từng con chiên, biết chiên cần gì, chiên đói hay no, một mục tử biết nâng dậy từng con chiên. Những điều này cả xứ con đều biết, còn Đức Cha ngài có biết không ạ?

IV. Đi Đạo Theo Chúa Hay Theo Cha?

Đức Cha giảng trên nhà thờ Sơn Tây ngày 25 tháng 01 năm 2010 rằng: nếu chuyển linh mục mà giáo dân bỏ đạo thì càng phải chuyển đi ngay: theo cách lập luận của Đức Cha thì linh mục đó dạy thế nào để giáo dân theo cha mà không theo Chúa. Ngài đâu có biết rằng chính quyền đã dựa vào cách thuyên chuyển linh mục không cần tính toán của ngài để dọa cho giáo dân bỏ đạo… Cảnh đau lòng này con đã được tận mắt chứng kiến: khi cha Thái lên tới họ Đông An, hàng đoàn giáo dân người dân tộc đến vây quanh cha Thái để xin được ra khỏi đạo một thời gian mặc dù họ nói là rất tin Chúa, không muốn bỏ đạo, nhưng họ sợ, và lý do họ sợ thật đơn giản là chính quyền đến nhà dọa rằng ông cha Thái sắp phải chuyển đi nơi khác rồi không có ai bảo vệ chúng mày đâu… Nhìn nét mặt sợ hãi và ánh mắt chới với của họ lòng con đau như xé. Thú thật, trong lòng con oán hận Đức Cha, con thấy Đức Cha ác quá. Đức Cha nghĩ sao khi chính quyền lấy chính việc thuyên chuyển linh mục để dọa cho giáo dân bỏ đạo, và họ đã thành công khi hàng đoàn người đến xin bỏ đạo (chúng con có ghi hình). Là mục tử mà ngài không biết đến điều này tức là ngài đâu có chút nào hình ảnh của mục tử nhân lành Giêsu, vì mục tử Giêsu có tình yêu bao la, cao cả, Chúa sống gần gũi với đoàn chiên, sống trong lòng đoàn chiên, hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Còn Đức Cha, ngài đang dùng quyền Chúa ban để đứng TRÊN đoàn chiên, đứng NGOÀI và đứng thật xa để mặc cho bao nhiêu sói dữ ăn thịt từng đoàn chiên. Đức Cha còn dám nói một câu thật vô tâm vô tình… không truyền giáo được thì để cho Tin Lành họ truyền (có người làm chứng). Mục tử ơi, ngài có ý gì vậy? Ngài khinh những con chiên kia quá nhỏ bé nghèo hèn đến nỗi không đáng để ngài phải quan tâm đến ư? Hay ngài đã học quá cao siêu đến nỗi vượt qua cả điều căn bản nhất của đạo Chúa là tình yêu rồi?

Chúa ơi, thật bất công khi bao nhiêu con người, bao nhiêu thế hệ đã hy sinh bao nhiêu công lao, mồ hôi, nước mắt để gom về từng con chiên lạc. Vậy mà giờ đây Đức Cha nỡ tâm đưa từng con chiên đó lên giàn thiêu….. nỡ tâm đạp đổ công trình mà bao nhiêu bậc tiền nhân của chúng con đã xây dựng nên bằng xương máu.

“Chức vụ chỉ là để phục vụ, để làm “tôi tớ”, nhưng khuynh hướng thống trị luôn là một cám dỗ đối với người có quyền bính, đây là điều tôi băn khoăn khi lãnh nhận chức vụ”. GM Anton Vũ Huy Chương

V. Thế Nào Là Lịch Sự

Khi hai đứa con hầu chuyện Đức Cha xong là 11 giờ 05, Đức Cha đứng dậy đi ăn cơm, còn hai đứa con ngồi đó một lát rồi đứng dậy ra khỏi phòng khách. Hai đứa con cũng có một cảm giác bị đói meo ngay bên mâm cơm của Đức Cha mình. Hôm đó là ngày tổng kết của Ban hành giáo Giáo phận, mâm đầy mâm vơi người người ăn uống rỉ rả, vậy mà Đức Cha đi ăn cơm không nỡ mời hai đứa chúng con một tiếng, dù là tiếng mời rơi….  Không cần biết chúng nó đói hay no. Thôi con không nói đến tình cha với con nữa mà con nói đến cái tình tối thiểu là tình con người. Khi có khách đến nhà chơi mà gặp bữa dù có quí mến họ hay không thì cũng phải mời, ít nhất là một câu mời xã giao theo phép lịch sự tối thiểu…. Chúng con thấy tủi thân vô cùng. Thưa Đức Cha, thật ra cái dạ dày của chúng con đâu có đói, vì trước khi gặp Đức Cha một giờ, chúng con đã đánh mỗi đứa một tô phở xốt vang to đùng ở cổng TGM. Lúc đó dạ dày của chúng con vẫn còn căng, nhưng lòng chúng con thực sự thấy đói. Đói cái TÌNH CHA – TÌNH NGƯỜI. Chả nhẽ vì chuyện phải gặp gỡ chúng con mà Đức Cha giận đến nỗi mất khôn hay sao? Nếu chỉ vì chuyện nhỏ đó mà đã làm cho ngài giận đến mất hết cả khôn như vậy thì hỏi rằng cả con thuyền lớn là Giáo phận Hưng Hóa Thiên Chúa trao phó cho ngài lèo lái, mà ngài lái trong tình trạng như vậy liệu có về đến bến bình an không ạ?

Còn chuyện này nữa: là mục tử  ngài có cảm nhận gì trong việc này không? Cả năm ngày rộng tháng dài, thiếu gì lúc thuyên chuyển các linh mục mà ngài lại chuyển vào dịp tết để hàng tháng trời nay mười mấy ngàn giáo dân phải đón xuân trong nước mắt. Vùng An Thịnh lúc nào cũng như có đám ma. Ngài làm như vậy có phải là đã vượt quá nhân từ rồi không ạ.

Tóm lại Với một số những điều chúng con thấy ở trên, thì:

ĐỨC CHA, nghĩa là Người Cha Có Đức

GIÁM, nghĩa là xem xét giáo phận

MỤC, nghĩa là chăn dắt đàn chiên

LÃNH ĐẠO, nghĩa là cầm cân nảy mực

Đức Cha hãy nhìn lại xem mình có tiêu chuẩn nào trên đây không ạ?

Còn phần con, mới chỉ một lần được tiếp xúc trực tiếp với Đức Cha và qua những cử chỉ, lời nói và thái độ của Ngài, con có nhận xét như sau: cái gì đầy trong lòng sẽ tràn ra bên ngoài….

Tất cả những điều mà con nhận thấy nơi Đức Cha hôm đó cộng với lời ca thán của những người đã được gặp Đức Cha hôm đó, con có nhận định như sau:

–  Đức tính tối thiểu để làm một con người trong xã hội là công bình và tiết độ, Đức Cha cũng không có thì hỏi rằng là một kitô hữu làm sao dám bỏ mình.

–  Là mục tử ngài đâu xứng đáng vì ngài đâu dám sống chết với con chiên, mà ngược lại ngài đã dùng quyền Chúa trao để ngồi trên tòa cao phán xuống, bắt con chiên phải vâng (mối tương quan một chiều từ trên xuống theo kiểu Chủ – Nô)

–  Là lãnh đạo: ngài cũng chưa đủ khả năng vì qua cách điều hành đại khái, chung chung ấy thì ngài đâu biết công lý là gì ®Ĩ mà tôn trọng con người….

–       Trên đây là những nhận định của con  xuất phát từ trực tiếp cuộc gặp ngày hôm đó. rồi  từ đó con đã đi tìm hiểu và đã phát hiện ra những điều  tệ hại hơn nhưng con không tiên viết lên đây. Thôi để ngài tự xét mình trước Chúa và đoàn chiên…. về trách nhiệm quá lớn lao của mình để kịp sám hối và sửa lại mọi sự. Hoặc nếu ngài thấy mình không gánh vác nổi thì tốt nhất hãy xin nghỉ hưu ăn dưỡng…. Đừng cố chấp để bảo vệ cái chức cao sang mà phá tan đàn chiên như vậy.

Nếu cứ để tiếp tục tình trạng này có người bảo khi đến tòa Chúa phán xét Đức Cha sẽ trả lời với Chúa thế nào. Nhưng con nghĩ khi Đức Cha chưa kịp tính chuyện đến tòa phán xét thì những đàn chiên đã bị tước hết quyền sống sẽ vùng lên tìm sự sống còn cho mình, chính họ sẽ phán xét Đức Cha vì “bần cùng sinh đạo tặc” mà.

Thưa Đức Cha, sự thật thì hay mất lòng. Chắc chắn khi đọc những dòng này Đức Cha sẽ cho con là loại chống cha – chống Chúa – dám xúc phạm đến các Đấng làm Thầy, thật đáng ném xuống hỏa ngục. Nhưng để cứu được các linh hồn thì con sẵn sàng để Đức Cha ném xuống tận đáy hỏa ngục. Nhưng trước khi vào hỏa ngục đời đời, con vẫn yêu cầu Đức Cha một điều thật sự cấp bách đó là: Đức Cha hãy là một Đấng Quân Tử thành tâm nhìn lại con người của mình trước Chúa để sửa lại mọi sự trong ngoài của mình, và sửa lại những điều đã làm sai từ trên xuống dưới cho Giáo phận Hưng Hóa. Nếu không chúng con sẽ phải gửi thư này đến một nơi để kêu cứu thì chắc Đức Cha biết rất rõ. Và trước khi gửi thư này đi sẽ có chữ ký của nhiều người… và con sẽ cho giáo dân biết để họ không còn lầm tưởng về Đức Cha như con.

Thưa Đức Cha, trên đây là một số điều con muốn trải bày và kính dâng lên Đức Cha. Con vẫn luôn luôn kính trọng và cầu nguyện nhiều cho Đức Cha. Con không bao giờ đồng hóa người với tội, con chỉ muốn giúp ngài giũ bỏ những sự không đáng để cho các linh hồn được nhờ. Những điều con viết trên đây nếu có điều gì sai quấy thì con xin được ngài chỉ giáo và lượng tình tha thứ cho đứa con thất học vô lễ này.

Người kính thư

Maria Lương Kim Hoàn

Số điện thoại của con: 01682468…


ĐGM Hưng Hóa trả lời báo Công giáo và Dân tộc: “Khi bày tỏ tình yêu qua việc đối thoại, mình có thể cảm nhận được sự hiệp thông”

Tháng Chín 20, 2010

Đầu tháng Đức Mẹ Mân Côi năm 2003, Giáo phận Hưng Hoá sau 11 năm trống toà  đã có ĐGM Chính toà trông coi: Đức cha Antôn Vũ Huy Chương (ĐGM.VHC). Sau 5 năm gầy dựng lại giáo phận, vị chủ chăn gốc Hưng Hoá nhưng đến từ Giáo phận Cần Thơ đã có dịp nhìn lại chặng đường đã qua…

BBT xin giới thiệu bài phỏng vấn Đức Giám mục Antôn Vũ Huy Chương của Lê Hữu Tuấn, đã được đăng trên Báo DGvDT số 1678.

CGvDT: Kính thưa Đức cha, như vậy là đã tròn 5 năm Đức cha được Toà Thánh đặt làm Giám mục Giáo phận Hưng Hoá. Ngày mới được bổ nhiệm, trong lần đầu tiên trả lời phỏng vấn CGvDT, Đức cha đã tâm sự: “Một trong những khó khăn đối với tôi lúc này có lẽ là phải thích nghi với hoàn cảnh mới”. Sau 5 năm, chắc là lo lắng này đã vơi đi nhiều?

ĐGM.VHC: Trước hết, xin cám ơn Ban Biên tập báo Công giáo và Dân tộc đã nhớ đến ngày tôi thụ phong giám mục cách đây 5 năm. Thời gian qua đi thật mau. Lúc đầu tôi nghĩ đến một trong những khó khăn là phải lo thích nghi với hoàn cảnh mới, nhưng nhìn lại 5 năm qua thì lúc nào cũng có cái mới để mà lo! Có người hỏi tôi: “Đức Cha đã quen với Hưng Hoá chưa?”. Tôi trả lời: “Không quen cũng phải quen!”. Có lúc tự nhiên tôi nghĩ rằng: “Khi được Toà Thánh hỏi ý kiến trước khi bổ nhiệm, tiếc là mình đã nhận lời làm giám mục”. Nhưng rồi tôi lại thầm thưa: “Xin Vâng” như khẩu hiệu tôi đã chọn từ ban đầu. Thế đấy!

CGvDT: Chúng con còn nhớ, khi Đức cha được tấn phong giám mục, thống kê của Giáo phận Hưng Hoá về nhân sự là: “Số giáo dân khoảng 200.000, số linh mục là 24. Giáo phận có 35 đại chủng sinh, 100 tu sĩ, 32 giáo xứ, 43 “chuẩn xứ”, 410 họ đạo”… Còn bây giờ, tình hình nhân sự ở Hưng Hoá là thế nào, thưa Đức cha?

ĐGM.VHC: Về tình hình nhân sự ở Hưng Hoá hiện nay: Số giáo dân là 217.000 trong tổng số dân là 6.881.000, số linh mục là 55 (có một linh mục Dòng Đa Minh). Giáo phận hiện có 40 chủng sinh tại Đại Chủng viện Hà Nội, 162 nữ tu Dòng Mến Thánh Giá (chỉ có một Dòng duy nhất), 75 giáo xứ, 498 giáo họ.  Hiện có 5 linh mục đang tu nghiệp nước ngoài, còn 50 vị ở nhà, vẫn chưa đủ để mỗi xứ có một linh mục. Hy vọng giữa năm 2009, giáo phận chúng tôi sẽ có thêm 7 tân linh mục. Số ứng sinh linh mục và tu sĩ còn rất đông. Tạ ơn Chúa. Cánh đồng truyền giáo ở Hưng Hoá thật bao la bát ngát. Đúng là lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít.

CGvDT: Giáo phận Hưng Hoá được xem là giáo phận lớn nhất nước về mặt diện tích (khoảng 50.000 cây số vuông), nằm trên địa bàn 10 tỉnh miền Tây Bắc Việt Nam: Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu, trong đó 9 tỉnh là vùng đồi núi, lại có đông đảo đồng bào các dân tộc. Sau một chặng đường dài nhìn lại, Đức cha cảm nhận được điều gì?

ĐGM.VHC: Về mặt diện tích thì lớn thật đấy, nhưng toàn đồi núi thôi, kinh tế khó phát triển, nhất là ở vùng đồng bào các dân tộc ít người. Giáo dân ở Lai Châu cách xa Toà Giám mục nhất, khoảng 700 cây số. Trong những năm qua, đời sống nhân dân tuy đã được nâng cao hơn trước nhờ phương hướng đổi mới về kinh tế và đường sá được tu bổ, nhưng ở những vùng nông thôn sâu, dân chúng còn vất vả lắm, nhiều người trẻ phải đi kiếm sống tại các đô thị. Đó là điều tôi trăn trở nhưng lại vượt quá tầm tay của mình! Riêng về công việc mục vụ thuộc chức năng giám mục, trong 2 năm đầu, tôi đã đi thăm được khoảng 400 họ đạo lớn nhỏ tại 7 tỉnh. Mãi đến năm 2006, khi được chính quyền 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu tiếp, tôi mới có dịp đi thăm giáo dân trong 3 tỉnh này là những tỉnh hiện có khoảng 5.000 giáo dân nhưng chưa có nhà thờ và linh mục thường trực. Đầu năm 2008 vừa qua, khi lên thăm lại giáo dân ở đây, tôi nhận thấy việc sinh hoạt tôn giáo được dễ dàng hơn tại các nhà tư mà tôi đã đăng ký từ năm 2006. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng chính quyền tại 3 tỉnh trên từng bước sẽ hiểu biết hơn nữa về nhu cầu tôn giáo của một bộ phận công dân trong tỉnh để tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo được bình thường như ở các tỉnh khác. Trong 2 năm qua, một linh mục rất bận công việc tại 2 giáo xứ Sơn Tây và Hoà Bình, nhưng cứ 2 tuần một lần, chưa kể những lần đi kẻ liệt, phải vất vả vượt 300 cây số để đến với giáo dân Sơn La được một ngày. Một linh mục khác từ SaPa phải đi 80 cây số mới đến Lai Châu, rồi đi thêm 200 cây số nữa mới đến Điện Biên, để phục vụ nhu cầu tôn giáo chính đáng của bà con giáo dân. Nói chung, những linh mục nhiệt tình tông đồ thì dù có vất vả vẫn thấy rất hạnh phúc.

CGvDT: Khi được Toà Thánh bổ nhiệm làm thành viên mới của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức cha đã có một tâm sự khá chân thành và được nhiều người đồng tình, chia sẻ, đó là câu: “Chức vụ chỉ là để phục vụ, để làm “tôi tớ”, nhưng khuynh hướng thống trị luôn là một cám dỗ đối với người có quyền bính, đây là điều tôi băn khoăn khi lãnh nhận chức vụ”. Phải chăng, vì nhìn thấy trước được khuynh hướng đáng lo ngại này nên trong cương vị chủ chăn của giáo phận, Đức cha đã xây dựng được một đại gia đình Hưng Hoá đầy thân tình, bình đẳng và mọi người đều tôn trọng, thương yêu nhau…, như nhận xét của nhiều linh mục và giáo dân trong giáo phận của Đức cha hiện nay?

ĐGM.VHC: Đó là điều tôi ước mong. Ước gì được như vậy! Bây giờ tôi thấy mình dễ nóng tính hơn lúc ban đầu mới về giáo phận; dường như từ vô thức có lúc trồi lên ý nghĩ mình “là người có quyền bính” nên đã “sa chước cám dỗ” rồi chăng?! Tôi càng ngày càng phải “chống trả chước cám dỗ” đó nhiều hơn!

CGvDT: Cũng trong bài trả lời phỏng vấn CGvDT cách đây 5 năm, Đức cha cho biết rất quan tâm đến tinh thần Tông huấn Giáo Hội tại Á châu là “hiệp thông nhờ đối thoại vừa là khởi điểm, vừa là phương thức, vừa là đích điểm của việc Phúc Âm hoá”. Trong thời gian qua, ở Giáo phận Hưng Hoá, hình như tinh thần này đã được Đức cha vận dụng uyển chuyển và đã gặt hái được một số kết quả?

“Chức vụ chỉ là để phục vụ, để làm “tôi tớ”, nhưng khuynh hướng thống trị luôn là một cám dỗ đối với người có quyền bính, đây là điều tôi băn khoăn khi lãnh nhận chức vụ”. GM Anton Vũ Huy Chương

ĐGM.VHC: Định hướng là như thế, nhưng thực tế không phải dễ, vì hiệp thông và đối thoại cần nhẫn nại và từ bỏ mình nhiều lắm. Tôi nghĩ ai cũng có nhu cầu “yêu”“được yêu”; vì thế, khi mình bày tỏ tình yêu qua việc đối thoại, mình có thể cảm nhận được sự hiệp thông, cho dù chưa có được sự hiệp nhất. “Hiệp thông nhờ đối thoại như khởi điểm và phương thức” là chủ trương của Giáo Hội mà chính Thiên Chúa đã thực hiện, đặc biệt nhờ Đức Giêsu Kitô, nhưng tiến đến “đích điểm” là việc của Chúa Thánh Thần mà mình cộng tác vào. Nói theo kiểu dân gian, kết quả là nhờ “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”.

CGvDT: Đâu là những điểm làm Đức cha hài lòng và đâu là những trăn trở còn tồn đọng ở Đức cha đối với giáo phận Hưng Hoá?

ĐGM.VHC: Trong năm đầu tiên, có người gặp tôi hỏi thăm rằng: “Đã xây dựng được công trình nào chưa?”. Tôi thấy cũng sốt ruột, vì khi đi thăm hầu hết các họ đạo tại Giáo phận Hưng Hoá, tôi ghi nhận có 270 nơi chưa có nhà thờ, khoảng 100 nhà thờ xuống cấp cần xây sửa; Toà Giám mục thì không đủ chỗ đáp ứng các sinh hoạt chung, vì được xây dựng năm 1990 khi chỉ có 17 linh mục và ít khi giáo dân có thể quy tụ về; tu viện Mến Thánh giá cách đây 50 năm đủ chỗ cho 24 nữ tu lúc đó, nay thì số nữ tu và ứng sinh tăng lên, đã trở nên chật trội và xuống cấp trầm trọng… Nhưng chúng tôi đã thống nhất với nhau để ưu tiên lo việc đào tạo nhân sự sau thời gian 11 năm “trống toà”. Vì thế trong 5 năm qua, giáo phận đầu tư vào việc tổ chức những khoá thường huấn cho các linh mục, tu sĩ, những khóa huấn luyện giáo lý viên, ban hành giáo, thừa tác viên phụng vụ và người phụ trách thánh nhạc, thánh ca… Tuy nhiên, mỗi năm cũng cố gắng xin kinh phí để xây sửa mươi nhà thờ lớn nhỏ mà vẫn thiếu hụt. Năm nay, chúng tôi bắt đầu lo xây dựng tu viện Mến Thánh Giá cạnh Nhà thờ Chính toà, cách nơi ở hiện nay 4 cây số. Năm tới dự tính đại tu “nhà tràng” (Tiểu Chủng viện) Hà Thạch tại tỉnh Phú Thọ để làm trung tâm mục vụ, nơi sinh hoạt chung cho các linh mục và giáo dân. Toà Giám mục vẫn ở thành phố Sơn Tây, nay thuộc Thủ đô Hà Nội, chỉ cần tu sửa ít thôi để được sử dụng như “trụ sở hành chính” của giáo phận.

Khi những giáo dân bị "Giới nghiêm" của chủ tịch phường trong đêm Noel, thì tờ Công giáo và Dân tộc bịa về "Niềm vui trên núi rừng Tây Bắc"

CGvDT: Làm giám mục ở một giáo phận có nhiều nét văn hoá khác biệt, do giáo dân sống từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến vùng cao, với nhiều dân tộc anh em như Mông, Mường, Thái, Dao…, có lẽ Đức cha có nhiều kỷ niệm đáng nhớ?

ĐGM.VHC: Vâng, kỷ niệm thì nhiều lắm! Có lần tôi đi ngựa lên núi thăm bà con giáo dân H’Mông tại tỉnh Yên Bái, sau 2 ngày làm việc mục vụ, một ông trong Ban hành giáo hỏi tôi: “Đức Cha có đi tắm không ?”. Tôi hỏi: “Tắm ở đâu?”. Ông trả lời đơn sơ: “Mời Đức Cha xuống suối tắm”. Tôi đành “để dành” về nhà tắm vậy! Họ dễ thương và chân thành lắm. Vị Giám mục đầu tiên của Giáo phận Hưng Hoá, Đức Cha Ramond Lộc, đã nghỉ hưu và qua đời tại SaPa với người dân tộc H’Mông và được an táng tại đó.

CGvDT: Xin hết lòng cảm ơn Đức cha đã cho độc giả CGvDT biết một số thông tin về Giáo phận Hưng Hoá hiện nay.

LÊ HỮU TUẤN thực hiện


Truyền thông Công giáo và những đóng góp cho Giáo hội tại tỉnh Sơn La

Tháng Tám 22, 2010

Ngày 15/8/2010 vừa qua – Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, Đức Giám mục Phụ tá giáo phận Hưng Hóa, Gioan Maria Vũ Tất, đã tới các cộng đoàn công giáo tại tỉnh Sơn La, cử hành bí tích Thêm sức cho các cháu thiếu nhi thuộc các cộng đòan và các giáo điểm của tỉnh Sơn La.

Cũng trong dịp này, chính quyền tỉnh Sơn La đã chính thức công nhận và cho phép các linh mục giáo phận Hưng Hóa tới làm việc mục vụ tại các cộng đoàn.

Đây quả là một tín hiệu vui cho các Kitô hữu đang làm ăn sinh sống tại tỉnh Sơn La và các tỉnh Tây Bắc – vùng đất vốn được mệnh danh là “Vùng trắng về Tôn giáo”.

Giáo dân Sơn La: theo số liệu không chính thức gồm khoảng hơn 2000 tín hữu người Kinh đến từ các tỉnh miền xuôi lên Sơn La làm ăn sinh sống và 1800 anh chị em tín hữu người H’Mông tự tìm đến với Giáo Hội sau khi nghe các chương trình truyền thanh bằng tiếng H’Mông của Đài Chân Lý Á Châu.

Có thể nói rằng, thành quả mà giáo dân Sơn La đạt được hôm nay, là do ơn Chúa, do sự can trường mạnh mẽ của các tín hữu Chúa Kitô tại nơi đây. Bên cạnh đó, thành công ấy còn có phần đóng góp không nhỏ của truyền thông công giáo. Chính truyền thông công giáo, trong những thời khắc quan trọng và khắc nghiệt nhất, đã nhanh chóng truyền đi khắp thế giới tiếng kêu cứu của những giáo dân Sơn La can trường đang bị bạo quyền bách hại.

Muốn hiểu rõ những đóng góp ấy, có lẽ cần phải lần giở lại những trang sử hào hùng mà cộng đoàn công giáo Sơn La đã trải qua, nhất là trong những năm gần đây.

Các cộng đoàn công giáo Sơn La ban đầu được hình thành từ những nhóm nhỏ các giáo dân tự tìm đến với nhau vào các dịp lễ lớn của Giáo Hội. Địa điểm sinh hoạt là tại các tư gia. Sau một thời gian âm thầm hoạt động, khoảng thời gian những năm 2002 – 2003, các nhóm giáo dân bắt đầu công khai sinh hoạt mỗi ngày một thường xuyên hơn.

Sự xuất hiện công khai, rầm rộ của các cộng đoàn Công giáo Sơn La đã khiến chính quyền Sơn La – một chính quyền luôn tự hào về thành tích “vùng đất trắng tôn giáo” lấy làm khó chịu và họ đã tìm mọi cách kể cả bần tiện nhất để ngăn chặn sự phát triển của Giáo hội tại nơi đây. Kể từ đây, cuộc thương khó của các giáo dân tại Sơn La bắt đầu. Nhiều người bị công an gọi hỏi, tra khảo. Nhiều gia đình bị làm khó nhất là về vấn đề kinh tế. Các buổi sinh hoạt cộng đoàn liên tục phải di dời. Các cháu nhỏ khi tới trường bị thầy cô, bạn bè khích bác với những lời lẽ miệt thị và mỗi cuối năm học thường bị đánh hạ hạnh kiểm.

Cao trào của các đợt bách hại là Noel 2008, với “lệnh giới nghiêm” của Chủ tịch UBND phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La.

Có thể nói rằng, ngay từ thời điểm năm 2004, khi chính quyền Sơn La tìm mọi cách ngăn cản các tín hữu tham gia cầu nguyện nhóm tại các gia đình, thì truyền thông công giáo đã có những đóng góp tích cực nhằm giảm thiểu những bách hại có thể xảy ra với các tín hữu.

Chính truyền thông công giáo, với những bài viết sắc bén, những hình ảnh ấn tượng, những thông tin nóng bỏng, kịp thời đã nhanh chóng truyền ra khắp thế giới những đau khổ mà anh chị em tín hữu công giáo Sơn La phải chịu, giúp mọi người hiểu rõ hơn tình cảnh của các giáo dân tại các tỉnh Tây Bắc, đặc biệt là tại tỉnh Sơn La; nhờ đó mà, phái đoàn của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, trong chuyến viếng thăm và làm việc tại tỉnh Sơn La (tháng 5/2009) đã có được những dữ liệu, những cơ sở cần thiết, khẳng định chính quyền Sơn La đã vi phạm quyền tự do tôn giáo một cách có hệ thống.

Ai cũng biết, sau cuộc viếng thăm này của Phái đoàn Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, chính quyền Sơn La bắt đầu quá trình cởi trói cho các Cộng đoàn Kitô giáo nơi đây, để rồi tới hôm nay, các cộng đoàn đã chính thức được chính quyền Sơn La công nhận và cho được tự do sinh hoạt.

Có thể nói rằng, nhìn lại những bước tiến ngoạn mục của các cộng đoàn Công giáo Sơn La, ngoài ơn Chúa và sự tác động của Chúa Thánh Linh, thì sự can trường, kiên nhẫn, hy sinh của các tín hữu đã là nền tảng không đổi, tạo nên những thành công tốt đẹp như hôm nay.

Chính thái độ can đảm, không chịu khuất phục trước bạo quyền và niềm tin vào Chúa đã giúp các tín hữu vững vàng trước những thời khắc khó khăn tạo nên những bước ngoặt quyết định, quan trọng cho tiến trình hình thành và phát triển của các cộng đoàn công giáo Sơn La.

Đối với chính quyền Sơn La, một chính quyền luôn tự hào về  một “vùng đất trắng tôn giáo”, thì việc chủ trương đối thoại quả là điều tức cười. Trong thực tế, những thành quả hôm nay mà giáo dân Sơn La đạt được, không có bất cứ dấu ấn nào của việc “đối thoại do các đấng bậc chủ trương” mà thực tế là do tác động của truyền thông công giáo, cộng với sự can đảm, dám đứng lên đương đầu của các tín hữu công giáo nơi đây. Chính họ – các giáo dân công giáo Sơn La, chứ không ai khác, đã tạo nên chỗ đứng cho mình ngay trong lòng một chế độ tự cho mình là chuyên chính nhưng luôn chèn ép và cố tình triệt hạ các tôn giáo.

22/8/2010

Gioan Nguyễn Thạch Hà


Chủ chăn và Truyền thông Công giáo

Tháng Bảy 31, 2010

Khi một người bơi lội sẩy chân, phải uống quá nhiều nước, anh ta càng la càng sặc, càng giãy giụa càng chìm. Do đó người ta khuyên, khi ta lỡ sẩy chân dưới nước, cứ bình tĩnh giữ thăng bằng và chờ người cứu. Nếu không ai cứu thì hãy vin vào cành cây hay bất cứ vật gì có sẵn để nương vào đó mà bơi.

Thế nhưng những lời khuyên ấy cũng chỉ là ứng phó lúc đã sẩy chân. Có một lời khuyên quí giá hơn: đi đứng cẩn trọng, hành xử chừng mực để khỏi sẩy chân.

Trong vài năm qua, nhiều chủ chăn nhân hậu và anh dũng xuất hiện như chứng cứ hùng hồn của lời Chúa giao phó: “Hãy chăn chiên của Thầy”. Nhưng đồng thời, một số chủ chăn – vì gì khó ai đoán được – đã tuyên bố hớ hênh rồi bị cuốn vào cơn lốc. Hoảng hốt, các ngài làm hai việc lẽ ra không nên làm: bào chữa bằng mọi cách và kết án truyền thông.

Thiên Chúa tự bản tính Ngài là truyền thông và Giáo Hội lữ hành cũng chia sẻ bản tính truyền thông cao cả ấy. Và do vậy mà Giáo Hội, xét như toàn thể, là phải truyền thông, không thể câm miệng, bởi vì tự hành vi câm miệng đã là đáng quở trách. Isaia còn nặng lời với những mục tử câm lặng, và Đức Thánh Cha Benedicto XVI trong tác phẩm Muối Cho Đời đã nhấn mạnh lại điều ấy. Vì lời lẽ chỉ trích các mục tử câm rất nặng nề, chúng tôi đã từng trích và xin không nhắc lại nữa (xem Isaia 56, 10; 57, 1-2; Muối Cho Đời, bản dịch trang 85).

Và khi chủ chăn ngậm miệng thì các thành phần dân Chúa phải la lên. Nếu con người không nói thì đá cũng phải mở miệng loan báo Công Lý. Chúa Giêsu đã dạy như thế.

Tuy nhiên, điều làm cho dân Chúa bàng hoàng là gần đây một số mục tử đã im lặng trước bất công lại còn dị ứng với truyền thông, nếu không muốn nói là “căm tức” truyền thông Công giáo. Có lẽ các ngài chỉ chấp nhận loại truyền thông nhai lại hay truyền thông chẳng có lề (dù giấy đã rách) kiểu Công giáo và Dân tộc (xin mở ngoặc nói thêm khi nhắc đến báo này: tôi đã gặp mấy người viết cho báo này không dám nhận mình là người của báo!).

Đó là chưa kể một số website “chính thức” trong Giáo Hội Việt nam không hề nói lên tiếng nói của Công Lý và hoàn toàn làm ngơ trước những cảnh đời.

Truyền thông Công giáo thời gian qua đã từng bị một số mục tử la mắng. Các vị cho rằng “thông tin không chính xác”, “người viết vô danh”, và là “bóng ma”. Có ông thì còn đặt ra điều răn mới: Thứ mười một chớ đọc tin website nọ website kia! Nhưng nếu ngồi một mình trước mặt Chúa, có thể các vị cảm thấy hối hận vì lỡ đi quá xa (hoặc bị kéo đi quá xa).

Cho đến bây giờ lượng người đọc đông đảo chưa thấy các website trên đưa sai tin nào. Người viết bài có thể vô danh xét về mặt chức quyền trong Hội Thánh, nhưng người viết vẫn là những giám mục, linh mục hết lòng vì Hội Thánh, những giáo dân nhiệt thành với công cuộc canh tân Hội Thánh, và cả những người ngoài Công giáo nhưng yêu mến Công Lý. Mà ai yêu mến Công Lý thì dù vô danh cũng vẫn có thể nói tiếng nói Công Lý.

Cũng xin đừng gọi các website là bóng ma. Mới đây có một chủ chăn gửi thư cho Hội Đồng Giám Mục gọi website nọ là bóng ma. Báo chí lề phải của nhà nước thì có ghi tên tổng biên tập với ban bệ đàng hoàng, nhưng xét về nhiều mặt, chưa hẳn lề nào đã là lể đúng luật giao thông xét như lương tri con người. Nhưng có những website vì lý do an toàn mà tạm thời không cho biết ai chủ trương. Điều này ai cũng phải hiểu vì sao. Nhưng chắc chắn họ không là bóng ma, bởi lẽ ma sao nói sự thật, ma sao đòi công lý, ma sao lại mời gọi nguyện cầu cho quê hương (chẳng khác gì ma sơ!)

Có một chuyện động trời hơn. Khi truyền thông Công giáo đưa tin về cái chết oan uổng của một giáo dân, một vị mục tử đã trưng bằng chứng là gia đình nạn nhân phản đối truyền thông, bảo là truyền thông sai lạc. Nhưng theo những thông tin chúng tôi vừa nhận được, vị mục tử ấy đã “làm công tác tư tưởng” để gia đình viết thư theo ý vị ấy. (Chúng tôi đã có bằng chứng). Rồi người ta còn bảo rằng hình trong bài không phải là hình của nạn nhân. Thật ra hình ảnh chỉ là để minh họa, và hình trong bài ấy là của một nạn nhân khác cũng chung số phận. Vậy đó hoàn toàn không phải là sai sự thật.

Sự kiện Giáo Hội Việt Nam xin lỗi mọi người ở Sở Kiện đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đàng sau những lời xin lỗi phải là nỗ lực vươn lên để các vị chủ chăn đồng hành thật sự với dân Chúa, chứ không phải là lời hô hào đồng hành với ai khác, nhất là đồng hành với những kẻ đang cố gắng kéo dân Chúa đi ngược lại với Tin Mừng của Chúa Kytô.

Người tín hữu Việt nam mấy trăm năm đọc hoài mà ít hiểu thế nào là người chăn thuê như Chúa Giêsu nói. Bây giờ trong xã hội này chúng ta thấy rõ có những vị được người ta thuê chăn chiên. Các vị được thuê để cho dân Chúa ăn loại cỏ nhân tạo, uống nước ô nhiễm và đón những làn gió vương mùi tử khí. Nhưng chắc chắn Thánh Giá Chúa sẽ xua tan các nguồn chết chóc đó.

Trẻ em đôi khi chơi trò mê tín là cầu cơ. Có một điều đáng chú ý là nếu ai đeo Thánh giá thì không cầu cơ được vì quỉ run sợ. Giáo dân Việt nam kính mong các chủ chăn đừng nói theo ai cả, đừng chịu áp lực của ai. Thánh Giá Chúa sẽ bênh đỡ các vị mà.

Xin đừng coi truyền thông như cơn lũ. Thật ra truyền thông Công Giáo tiếp tục sứ mạng Chúa giao, làm nguồn nước mát cho thế gian trong lành. Nhưng nếu con người sẩy chân và vùng vẫy thì có thể bị ngộp nước.

Cách đơn giản nhất để chấp nhận truyền thông Công giáo là sống trong ánh sáng.

Gioan Lê Quang Vinh


Nói người ngẫm ta

Tháng Bảy 22, 2010

Thoáng nhìn vào xã hội ta thấy nền kinh tế kiệt quệ vừa mới lóp ngóp bò dậy sau cú suy thoái chí mạng, văn hóa mỗi ngày một thiên về những chuyện nhảm nhí. Những đổ vỡ các giá trị truyền thống hoặc khai thác tình dục, rồi những vấn đề an ninh xã hội, ô nhiễm môi trường, kiến thiết đô thị, thôn xóm thật nhếch nhác, rồi thêm mấy vụ “bô xít”, bán rừng đầu nguồn, để các quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam cho mấy anh hai Tầu gậm nhấm… như một tổng thể để “chào mừng cho nghìn năm Thăng long”!

Vòng hào quang lấp lánh của nó là tham nhũng và hối lộ tràn lan mọi ngóc ngách của cơ chế xã hội, những vụ cưỡng chế đất nông nghiệp, chèn ép các nông dân, giải tỏa nhà của dân nghèo thành thị mang tính cách côn đồ, bất nhân; những vụ xúc phạm tới những mảnh đất luôn được coi là “thánh thiêng” như các cơ sở tôn giáo, chùa chiền, nghĩa trang… một cách công nhiên và trâng tráo, thách thức cả đạo lý dân tộc vốn được cha ông gìn giữ hàng ngàn năm như của gia bảo. Thêm vào bức tranh “vân cẩu” ấy là sự cổ vũ mãnh liệt cho việc phá thai, vi phạm nghiêm trọng các quyền căn bản, quyền tự do, nhân phẩm và lương tâm con người, ngang nhiên thách thức cả dư luận thế giới, những người yêu hòa bình, công lý và tự do.

Tất cả những điều đó nói lên sự bất lực đến “nhũn cả người”của chế độ chính trị này, cứ luôn bị động, loay hoay chắp vá, làm “được chăng hay chớ” bằng bất cứ phương tiện nào có trong tay, dù đó là gian dối, là tàn nhẫn, là ác độc. Các cụ ta nói chí phải: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Nguồn gốc của mọi rối ren, mọi tội ác trong xã hội hôm nay là đó. Ngay cả những vấn đề nhức nhối trong Giáo hội mà Nữ Vương Công Lý trong thời gian đề cập có phải “hạ tắc loạn vì thượng bất minh”?

Nếu nhà cầm quyền là những kẻ vốn đã không có căn bản nhân bản và đạo đức, cũng không dám nói lên sự thật về cái xấu tự bản chất của mình khiến cho toàn xã hội hiện tại phải điêu đứng trong cơn khốn quẫn mịt mù, lại còn tham vọng muốn xây dựng một mô hình “giáo dân tốt là công dân tốt” để lòe bịp những “thằng cu tý”, thì ta hiểu được những động thái “bài bản” kể từ sự kiện Tòa Khâm sứ cho đến Cồn dầu, từ “sự kiện Đức TGM Ngô Quang Kiệt cho đến anh Tôma Nguyễn Năm hôm nay cũng chỉ có thế.

Nhưng xen vào đó, vấn đề cốt lõi đang được đề cập đến, là “sạch hóa và bạch hóa” trong hàng ngũ Giáo hội, một Giáo hội mà bản chất là sự thật và đứng về phía sự thật. Một Giáo hội đang cố không để mình bị lây nhiễm tinh thần thế gian gian tà độc ác, đến độ lạnh lùng và dửng dưng với nỗi đau của giáo hữu và những người người nghèo đang bị bạo quyền áp bức. Phải giống như Chúa Kitô trong nhân tính thánh thiện, đạo đức, không sợ nói lên tiếng nói của sự thật trước thần quyền và thế quyền: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Vì tôi đến để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Như thế cho khỏe, chẳng cần chi đến thứ “giáo dân tốt là công dân tốt’.

Cái “mô hình” này biến thái từ sự thất bại thê thảm của lý tưởng xây dựng một xã hội và kinh tế, một nền văn hóa và luân lý không hề có bóng dáng của Thiên Chúa và lề luật của Người. “Vật cùng, tắc biến”. Khi vô thần không còn tính thuyết phục, thời sự và hiệu quả thì việc “ngẫu thần hóa”“đa thần giáo” được chủ trương và quảng bá như một chính sách hòng cứu nguy vị thế “lãnh đạo và lương tâm thời đại” của chế độ cầm quyền, cũng như cái phao đã từng được tuyên truyền và áp dụng đại trà trước đây là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”. Phải chăng những câu chuyện “buồn” đang xẩy ra trong Giáo hội là “con chú con bác” với nhau? Ấy là hệ lụy tất yếu của “Sự kiện Ngô Quang Kiệt”?

Khi vị trí độc đáo và độc lập của Giáo hội không được tuân thủ và gìn giữ, mà tuân thủ thế nào được vì có “những bàn tay lông lá” thọc sâu vào nội tình hòng chi phối Giáo hội đi theo hướng chỉ đạo của nó, cũng như việc bị nó nắm “thóp” đến độ phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” mà cúc cung tận tụy với những chủ nhân ông mới này? Những vụ việc của giáo phận Hưng hóa, Đà nẵng có phải là những dấu hiệu “lộ thiên” cho thấy bên trong nó còn có cả một hầm mỏ của thứ tinh thần bạc nhược, thỏa hiệp, mua chuộc, trao đổi…? Nhưng điều chắc chắn, một sự thật đang được phơi bày là “Thượng bất minh, hạ tắc loạn”.

Alivecho


Tại GP Hưng Hóa: Dòng Đaminh xử sự như thế nào với linh mục không trung thực?

Tháng Bảy 16, 2010

Thưa quý vị độc giả

Sau khi Nữ Vương Công Lý đăng bài viết: “Giáo lý mới của GP Hưng Hóa: Ai đọc Nữ Vương Công Lý là mắc tội trọng?” chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến. Đa số ý kiến đã tỏ sự ngạc nhiên về một vùng quê giáo dân bị ngăn cản quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin bằng chính các linh mục coi sóc mình là điều hết sức khó hiểu. Cũng có những ý kiến đề nghị kiểm tra lại các thông tin chúng tôi đã loan.

Chúng tôi đã xác minh các vấn đề này bằng những người thật, việc thật. Những người có trách vụ và có địa chỉ hẳn hoi đã khẳng định rằng những thông tin đó cũng như những thông tin chúng tôi đã đưa thời gian qua về Giáo phận Hưng Hóa là có cơ sở.

Chúng tôi cũng đã nhận được bài viết “Đọc Nữ Vương Công Lý là phạm tội trọng?” của Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế nói lên suy nghĩ của mình, một bài viết tỏ sự hiểu biết, khiêm hạ thân ái và cách nhìn nhận sự việc bình tĩnh, hướng đến sự thật.

Sau đó, chúng tôi lại nhận được bài viết thứ 2 của Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế bài viết: “Lại nói chuyện đọc Nữ Vương Công Lý” nội dung bài viết nói rõ những vấn đề đến với ngài sau khi Nữ Vương Công Lý đăng tải bài viết của ngài.

Việc ngài nhận được các phản hồi về bài viết không làm chúng tôi ngạc nhiên. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên, là Cha Giám tỉnh Dòng Đaminh, một dòng tu lớn khi tiếp nhận thông tin về dòng tu mình phụ trách mà tỏ ra rất “hờ hững” như sau: “Cha lấy làm phiền vì có nhiều người gọi dây nói báo tin là tôi đã viết bài đó và kết án hai người anh em của tôi được nêu tên trong bài báo nói trên. Tôi hỏi cha đã đọc bài đó chưa. Cha nói la cha chưa đọc mà mới chỉ nghe phản ứng của người ta thôi”.

Chúng tôi không hiểu cách làm việc của Dòng Đaminh, nếu Cha giám tỉnh chưa đọc, chưa hiểu Linh mục Quế viết gì, chỉ thấy người ta gọi phản ứng vì bài viết “kết án hai người anh em” mà đã lấy làm phiền? Và cách giải quyết là gọi Linh mục Quế mà không kiểm tra xem thực tế?

Phải chăng, đã là linh mục Dòng Đaminh thì không được viết, không được nêu ra những điều chưa ổn mà Cha Giám tỉnh gọi là “kết án người anh em”?

Qua bài viết của linh mục Anre Đỗ Xuân Quế, chúng tôi biết được hai linh mục đã có nói chuyện với linh mục Anre Đỗ Xuân Quế và cho biết là “sự việc không phải như vậy”. Nghĩa là Nữ Vương Công Lý đã nói sai?

Còn hai linh mục thuộc dòng Đaminh là  Phêrô Nguyễn Văn Giang OP và Giuse Nguyễn Kim Cương OP thì đã phản ứng ra sao? Những câu nói trên có thật không hay Nữ Vương Công Lý đã bịa ra?

Mời quý vị đọc hơi dài dòng để chúng tôi nói rõ ràng hơn về vấn đề này.

Sau khi đăng tải bài viết, chúng tôi nhận được hai Email từ hai địa chỉ xưng là của hai linh mục Giang và Cương. Quả thật, nhận hai Email chúng tôi không nghĩ rằng đó là của hai linh mục, dù đã tự xưng ngay từ đầu.

Bức thư của Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP đã gửi đến để phân tích những điều vụn vặt như tôi không phải là chính xứ, tôi là phụ tá Cha Cương… nào là tôi tiếp công an vào sáng 4/7/2010 từ 8-9 giờ sáng chứ không phải là ngày 11/7/2010. Những chi tiết về thời gian tiếp công an và trách vụ này, có thể chúng tôi thông tin chưa chính xác, chúng tôi xin đính chính những chi tiết này:

. – Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang, OP không phải là quản xứ An Thịnh mà là linh mục Phó xứ cho linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương, OP là chính xứ. Điều này chúng tôi đã đính chính trong bài viết “Đọc Nữ Vương Công Lý là phạm tội trọng”

– Linh mục Giang tiếp công an tên là Máy và một cán bộ phòng Nội vụ vào sáng 4/7/2010 chứ không phải sáng 11/7/2010. Thường lệ khi có công an đến, Ban hành giáo ở An Thịnh cùng tiếp, nhưng hôm đó Lm Giang đã tiếp một mình dù Ban hành giáo là ông Tự trực ban sáng hôm đó có mặt. Lý giải điều này, linh mục Giang cho là mới về nên không biết ai là dân, ai là công an(?)

Nhưng điều quan trọng nhất là Cha Giang đã chú ý bắt bẻ những điều đó để che lấp điều chính yếu là chối việc linh mục Giang đã nói tại nhà thờ An Thịnh trước cả ngàn giáo dân. Linh mục Giang nói rằng: “Chẳng lẽ là chỉ có mỗi Nữ Vương Công Lý nghe thấy câu nói trên của tôi, còn cả 1000 giáo dân hôm ấy bị điếc hết”.

Xin thưa là giáo dân đã không điếc, từ những người trẻ khỏe cho đến cụ già thất thập cổ lai hi đã nghe rất rõ lời cha Giang đã nói gì và đã làm gì và tại sao tạo cho họ nhiều bức xúc.

Linh mục Giang cần chi tiết chứng minh. Chúng tôi sẽ đáp ứng linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP với những nhân chứng sau. Ông Hải trưởng Ban Hành Giáo xứ An Thịnh và một số giáo dân kể lại câu chuyện như sau:

Trước khi vào cuộc rước, đoàn kèn thổi bài: “như có bác hồ trong ngày vui đại thắng”.

Hôm lễ Mình máu Thánh Chúa, cán bộ xã vào Giáo xứ quê Đức Cha chỗ Bến Thôn, đề nghị Ban Hành giáo treo thêm một lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Tháp chuông nhà thờ. Giáo dân ở đó kịch liệt phản đối rằng nếu Ban Hành giáo treo lên thì họ sẽ bãi Ban Hành giáo, BHG nghe ra nên cũng thôi.

Cuộc rước Đức Mẹ ở xứ Dị Nậu – Giáo phận Hưng Hóa

–  “Con là Trưởng ban hành giáo xứ, cách đây khoảng hơn 1 tháng con quan tâm đến vụ việc người ta hành xử với Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ở HN, con và nhiều người rất bức xúc, chúng con không đồng ý như vậy vì bất công với ngài. Cách đây khoảng hơn 1 tháng, con không nhớ ngày, con gặp cha Giang và trình bày quan điểm khi con đưa bản tin lên bảng tin giáo xứ, ngài không đồng ý và bảo: “Nếu ông đưa lên thì chưa dán xong tôi đã phải về nhà dòng rồi chứ chưa cần Đức Cha Chương đuổi”.

Ngày hôm đó, con và anh Tỵ, chủ tịch HĐGX in một bản nói về cuộc rước ở GX Dị Nậu vì xem đoạn video trên mạng và chúng con không đồng ý và rất bức xúc nên in và dán lên. Trong ngày lễ của Thánh Toma khoảng 10 giờ thì Cha Giang xé đi. Sau Thánh lễ chủ nhật, cha Giang công bố: Trang đó không phải là trang của Giáo hội, vì trang đó không phải của HĐGM nên không được dán, những tin đó là tin rác nên phải quét cho nó sạch. Con cũng bức xúc nhưng không dám nói gì, hôm sau con thông báo với cộng đoàn: Đây là thông tin trên mạng, nếu đúng, nhờ cha Giang giải thích, nếu sai, con xin lỗi Cha Giang và xin lỗi cộng đoàn. Con cũng hứa với cộng đoàn là anh em chúng con sẽ về tận Dị Nậu để tìm ra sự thật.

Hôm sau, con tên Hải, một anh nữa là anh Phúc, một anh nữa là anh Ngọc, cũng đều là Ban Hành giáo xứ về tận Bến Thôn khoảng 9-10 giờ đêm, rồi mời một số người ở Dị Nậu sang nữa thì dân ở đó cũng rất bức xúc và ủng hộ quan điểm trên mạng đã đưa và dân ở đó nói là đúng như thế.

Họ còn kể thêm một số chi tiết nữa như:

– Trước khi vào cuộc rước, đoàn kèn thổi bài: “như có bác hồ trong ngày vui đại thắng”.

– Hôm lễ Mình máu Thánh Chúa, cán bộ xã vào Giáo xứ quê Đức Cha chỗ Bến Thôn, đề nghị Ban Hành giáo treo thêm một lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Tháp chuông nhà thờ. Giáo dân ở đó kịch liệt phản đối rằng nếu Ban Hành giáo treo lên thì họ sẽ bãi Ban Hành giáo, BHG nghe ra nên cũng thôi.

Chúng con về đến chủ nhật tiếp theo, trước khi vào lễ, trước khi cha Giang mặc áo con có vào gặp  Cha và nói “Con xin Cha cho chúng con thưa lại với cộng đoàn là chúng con đã về Dị Nậu và Bến Thôn tìm hiểu và đó là sự thật, cha cho con thông báo lại với cộng đoàn để cộng đoàn biết”. Cha Giang nói: “Cha cấm ông không được nói điều gì”.

Một điều con không ngờ tới là sau Thánh lễ, ngài nói: “Riêng trang Nữ Vương Công Lý, không phải là trang chính thức của Giáo hội, cũng không phải là tin của HĐGMVN. Bây giờ tin của Giáo hội chỉ tin được mỗi trang của HĐGMVN. Còn các trang khác không thể tin được, vì không có địa chỉ, trang này luôn gây rối, chia bè chia cánh và gây mất đoàn kết của Giáo hội, trang này là trang của ma quỷ, của Satan. Hôm đó cha nói là:Ai xem trang đó là mắc tội trọng và phải đi xưng tội”.

Trang Nữ Vương Công Lý những điều đó không có gì là sai. Giáo dân chúng con bây giờ rất bức xúc, chúng con mong nếu có phóng viên của Nữ Vương Công Lý tới giáo xứ An Thịnh, chúng con sẽ họp toàn bộ anh em trong Ban ngành giáo xứ, giáo họ tập trung để trả lời chính xác hơn nữa. Vì nhiều khi con cũng có theo dõi mạng thì có nơi người ta nghi ngờ không chính xác. Con xin nói với lòng thành là những tin đó, trang Nữ Vương Công Lý đưa tin không có gì sai.

Ông Nguyễn Văn Phúc, một người khác trong Ban Hành giáo Giáo xứ An Thịnh nói: “Anh Hải đã nói là anh sẽ nói lại, vì anh đã đi xem việc đó rất là chính xác, nhưng cha bảo anh Hải là không được nói. Sau khi anh Hải ra rao mấy đôi hôn phối ở nhà thờ thì cha Giang ra nói là: Nữ Vương Công Lý là của ma quỷ, chia rẽ và những người nào xem sẽ mắc tội. Có nghĩa là ngài dùng phép của các ngài để không ai được xem nữa, xem là sẽ mắc tội”.

Cụ Phaolo Nguyễn Văn Viết, 75 tuổi, giáo dân xứ An Thịnh xác nhận: “Cha Giang làm lễ ở Nhà thờ An Thịnh, con đi lễ có nghe nói là Nữ Vương Công Lý không được xem, xem là mắc tội trọng, đã xem là phải đi xưng tội. Con nghe được mấy câu bập bõm như vậy”.

(Mời quý vị độc giả nghe file âm thanh giáo dân và Ban hành giáo xứ An Thịnh nói về sự việc tại đây)
http://www.youtube.com/v/P4FMwtPA18c&hl=en_US&fs=1


Trong khi đó, linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP không phủ nhận lời nói của mình, nhưng giải thích việc cấm giáo dân đọc và lưu trữ các bài viết bởi rằng: “Quý vị cứ thử nghĩ mà xem, một đứa trẻ đang trong thời kỳ bú sữa hay ăn cháo mà bắt nó phải ăn cơm, nuốt thịt thì bản thân nó sẽ ra sao?”

Email của linh mục Nguyễn Kim Cương OP

Email của linh mục Nguyễn Kim Cương OP

Chúng tôi đã gửi hồi đáp đến linh mục Cương và xin cho biết: Linh mục có nói như trong bài viết hay không thì đã không nhận được trả lời. Chúng tôi đã xác minh dữ kiện này, giáo dân và ngay cả Chủ tịch Hội Đồng giáo xứ cũng xác nhận điều linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP nói là có sự thật, linh mục Cương không chỉ nói ở một Thánh lễ, một nhà thờ mà là nhiều nơi, nhiều Thánh lễ rằng ai cất giữ, tôi sẽ xử lý ngay kể cả linh mục. Chúng tôi đã kiểm chứng thông tin này và được xác nhận là đúng.

Vì vậy điều này chúng tôi không cần chứng minh nhiều.

Chúng tôi không tranh luận vấn đề xem giáo dân như một đứa trẻ đang bú cần cho nó uống sữa hay ăn thịt, nhưng chúng tôi nghĩ giáo dân cũng đã có nhận xét của họ và họ có nhận thức chứ không còn là những “đứa trẻ trong thời kỳ bú mẹ” như linh mục Cương đang nghĩ. Chuyện họ nhận thức tốt hay xấu, cứ đưa đúng sự thật cho họ và họ tự xác định cho mình. Thực tế thì giáo dân Yên Hợp đã trưởng thành nhiều hơn linh mục Cương nghĩ về họ.

Chúng tôi nghĩ rằng, chức trách và nhiệm vụ của linh mục là hướng dẫn đoàn chiên đi đúng đường lối của Thiên Chúa là “đường, là sự thật và là sự sống”. Tại sao các linh mục đã hướng giáo dân đi theo con đường của sự dối trá, sự chết?

Giáo dân cũng đã trưởng thành hơn linh mục tưởng, họ đã đi đến tận nơi, xem tận chỗ để xác minh vụ việc và khi đã xác định đúng sự thật thì các linh mục đã cấm họ không được nói sự thật lên vì: “Nếu ông đưa lên thì chưa dán xong tôi đã phải về nhà dòng rồi chứ chưa cần Đức Cha Chương đuổi”.

Như vậy, qua cách nói của linh mục Giang chúng ta hiểu thêm đường lối của Dòng Đaminh sẵn sàng “trị tội” các linh mục nếu dám nói lên sự thật vì “Chưa cần Đức Cha Chương đuổi” “đã phải về nhà dòng” thì ai có quyền này ngoài nhà dòng Đaminh? Hèn chi Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế đã bị Cha Giám tỉnh “lấy làm phiền” khi ngài chưa đọc bài viết xem nội dung là gì.

Hay là chỉ vì được ở lại làm phó xứ, quản xứ ở Giáo phận Hưng Hóa mà các linh mục Dòng Đaminh đã chấp nhận che giấu sự thật và hướng dẫn giáo dân đi theo con đường của sự dối trá và việc kết án vô cớ người khác.

Tệ hơn nữa là họ đã lợi dụng chức sắc của mình để cướp đoạt quyền tự do thông tin, tự do báo chí của giáo dân, những con người vốn đã chịu nhiều đau thương, thiệt thòi với hàng nửa thế kỷ nằm dưới chính sách ngu dân của cộng sản bằng cách bịa ra những “giáo lý mới”.

Vậy lương tâm linh mục và đường hướng giáo lý của các linh mục này đang ở đâu? Họ lãnh đạo, giáo dục giáo dân theo đường hướng nào? Dòng Đaminh là dòng truyền giáo, với những tấm gương này họ định truyền đạo gì cho bà con nơi đây?

Đến đây thiết nghĩ quý vị bạn đọc có thể tự đánh giá cho mình được sự thật ở đâu, chúng tôi nghĩ chừng đó đã là đủ.

Điều cuối cùng muốn nói, là qua hai bức thư của hai linh mục Dòng Đaminh chúng tôi nhận được, thực sự chúng tôi không nghĩ mình đang được nghe những đấng đức cao vọng trọng nhả ngọc phun châu như thế này.

Bức thư của Linh mục Giang viết: “nếu bạn không có kinh phí đi lại thì cứ lên Giáo xứ, tôi sẽ chu cấp đầy đủ, để bạn tìm thấy: “Giáo lý mới của GP Hưng Hóa : Ai đọc Nữ Vương Công lý là mắc tội trọng?” như bạn đã nêu. Còn nếu bạn không lên hoặc không cử người lên tìm hiểu sự thật, thì tôi cũng biết bạn là loại người nào … ???” (Trích thư của Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang, OP)

Email của linh mục Nguyễn Văn Giang OP

Email của linh mục Nguyễn Văn Giang OP

Thưa linh mục Giang,

Chúng tôi không có điều kiện để đến xứ của ngài và nếu có, cũng đâu dám phiền đến Linh mục về tiền bạc, kinh phí, dù chúng tôi biết ngài có đủ hoặc thừa khả năng. Nếu ngài có điều kiện chu cấp đầy đủ, xin ngài hãy giúp cho những bà con đang đói khổ ngay trong giáo xứ ngài phụ trách hoặc bà con dân tộc ngay trong vùng ngài để họ bớt khó khăn. Còn chúng tôi là loại người nào ư, thì chính Linh mục đã kết án là ma quỷ và Satan đó thôi.

Còn bức thư của Linh mục Cương là một lá thư khá thân thiện, nhưng thân thiện đến mức chúng tôi khá ngạc nhiên về câu chữ linh mục đã dùng. Chúng tôi không dám đánh giá, vì có thể là thói quen, nhưng với tư cách một linh mục thì đấy là thói quen có hại.

Xin lỗi toàn thể độc giả vì xin trích nguyên văn một đoạn trong bức thư: “Cương ví dụ: sáng nay, có một vị chức sắc kể câu chuyện về một cuộc tranh cãi. Trong câu chuyện đó, có một người đã chửi tục “lồn mẹ mày”. Người nghe lại là kẻ không mấy ưa vị chức sắc kia, nên đã thâu băng, cắt xén và đưa cho một người lành thánh nghe vỏn vẹn chỉ có câu chửi tục. Người lành thánh nghe thấy vậy vô cùng ngỡ ngàng đến độ thất vọng về người chức sắc, vì quả thực đó đúng là giọng của người chức sắc rồi. Vậy theo quý vị làm như vậy đúng hay sai?(Trích thư của Linh mục Nguyễn Kim Cương, OP gửi Nữ Vương Công Lý)

Thưa quý vị độc giả

Câu chuyện này đã làm quý vị mất khá nhiều thời gian, tuy nhiên, đằng sau những sự việc  này là cả một cộng đoàn đang được các linh mục, Giám mục dẫn dắt, dạy dỗ. Chúng tôi hi vọng sẽ đem đến quý vị một phần sự thật ở đây để hiểu những nỗi đau của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà qua đó cần phát huy tất cả sự sám hối, hiệp thông để xây dựng một Giáo hội tốt đẹp, không phải là cái “mả tô vôi”.

Nữ Vương Công Lý