Tại GP Hưng Hóa: Dòng Đaminh xử sự như thế nào với linh mục không trung thực?

Tháng Bảy 16, 2010

Thưa quý vị độc giả

Sau khi Nữ Vương Công Lý đăng bài viết: “Giáo lý mới của GP Hưng Hóa: Ai đọc Nữ Vương Công Lý là mắc tội trọng?” chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến. Đa số ý kiến đã tỏ sự ngạc nhiên về một vùng quê giáo dân bị ngăn cản quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin bằng chính các linh mục coi sóc mình là điều hết sức khó hiểu. Cũng có những ý kiến đề nghị kiểm tra lại các thông tin chúng tôi đã loan.

Chúng tôi đã xác minh các vấn đề này bằng những người thật, việc thật. Những người có trách vụ và có địa chỉ hẳn hoi đã khẳng định rằng những thông tin đó cũng như những thông tin chúng tôi đã đưa thời gian qua về Giáo phận Hưng Hóa là có cơ sở.

Chúng tôi cũng đã nhận được bài viết “Đọc Nữ Vương Công Lý là phạm tội trọng?” của Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế nói lên suy nghĩ của mình, một bài viết tỏ sự hiểu biết, khiêm hạ thân ái và cách nhìn nhận sự việc bình tĩnh, hướng đến sự thật.

Sau đó, chúng tôi lại nhận được bài viết thứ 2 của Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế bài viết: “Lại nói chuyện đọc Nữ Vương Công Lý” nội dung bài viết nói rõ những vấn đề đến với ngài sau khi Nữ Vương Công Lý đăng tải bài viết của ngài.

Việc ngài nhận được các phản hồi về bài viết không làm chúng tôi ngạc nhiên. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên, là Cha Giám tỉnh Dòng Đaminh, một dòng tu lớn khi tiếp nhận thông tin về dòng tu mình phụ trách mà tỏ ra rất “hờ hững” như sau: “Cha lấy làm phiền vì có nhiều người gọi dây nói báo tin là tôi đã viết bài đó và kết án hai người anh em của tôi được nêu tên trong bài báo nói trên. Tôi hỏi cha đã đọc bài đó chưa. Cha nói la cha chưa đọc mà mới chỉ nghe phản ứng của người ta thôi”.

Chúng tôi không hiểu cách làm việc của Dòng Đaminh, nếu Cha giám tỉnh chưa đọc, chưa hiểu Linh mục Quế viết gì, chỉ thấy người ta gọi phản ứng vì bài viết “kết án hai người anh em” mà đã lấy làm phiền? Và cách giải quyết là gọi Linh mục Quế mà không kiểm tra xem thực tế?

Phải chăng, đã là linh mục Dòng Đaminh thì không được viết, không được nêu ra những điều chưa ổn mà Cha Giám tỉnh gọi là “kết án người anh em”?

Qua bài viết của linh mục Anre Đỗ Xuân Quế, chúng tôi biết được hai linh mục đã có nói chuyện với linh mục Anre Đỗ Xuân Quế và cho biết là “sự việc không phải như vậy”. Nghĩa là Nữ Vương Công Lý đã nói sai?

Còn hai linh mục thuộc dòng Đaminh là  Phêrô Nguyễn Văn Giang OP và Giuse Nguyễn Kim Cương OP thì đã phản ứng ra sao? Những câu nói trên có thật không hay Nữ Vương Công Lý đã bịa ra?

Mời quý vị đọc hơi dài dòng để chúng tôi nói rõ ràng hơn về vấn đề này.

Sau khi đăng tải bài viết, chúng tôi nhận được hai Email từ hai địa chỉ xưng là của hai linh mục Giang và Cương. Quả thật, nhận hai Email chúng tôi không nghĩ rằng đó là của hai linh mục, dù đã tự xưng ngay từ đầu.

Bức thư của Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP đã gửi đến để phân tích những điều vụn vặt như tôi không phải là chính xứ, tôi là phụ tá Cha Cương… nào là tôi tiếp công an vào sáng 4/7/2010 từ 8-9 giờ sáng chứ không phải là ngày 11/7/2010. Những chi tiết về thời gian tiếp công an và trách vụ này, có thể chúng tôi thông tin chưa chính xác, chúng tôi xin đính chính những chi tiết này:

. – Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang, OP không phải là quản xứ An Thịnh mà là linh mục Phó xứ cho linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương, OP là chính xứ. Điều này chúng tôi đã đính chính trong bài viết “Đọc Nữ Vương Công Lý là phạm tội trọng”

– Linh mục Giang tiếp công an tên là Máy và một cán bộ phòng Nội vụ vào sáng 4/7/2010 chứ không phải sáng 11/7/2010. Thường lệ khi có công an đến, Ban hành giáo ở An Thịnh cùng tiếp, nhưng hôm đó Lm Giang đã tiếp một mình dù Ban hành giáo là ông Tự trực ban sáng hôm đó có mặt. Lý giải điều này, linh mục Giang cho là mới về nên không biết ai là dân, ai là công an(?)

Nhưng điều quan trọng nhất là Cha Giang đã chú ý bắt bẻ những điều đó để che lấp điều chính yếu là chối việc linh mục Giang đã nói tại nhà thờ An Thịnh trước cả ngàn giáo dân. Linh mục Giang nói rằng: “Chẳng lẽ là chỉ có mỗi Nữ Vương Công Lý nghe thấy câu nói trên của tôi, còn cả 1000 giáo dân hôm ấy bị điếc hết”.

Xin thưa là giáo dân đã không điếc, từ những người trẻ khỏe cho đến cụ già thất thập cổ lai hi đã nghe rất rõ lời cha Giang đã nói gì và đã làm gì và tại sao tạo cho họ nhiều bức xúc.

Linh mục Giang cần chi tiết chứng minh. Chúng tôi sẽ đáp ứng linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang OP với những nhân chứng sau. Ông Hải trưởng Ban Hành Giáo xứ An Thịnh và một số giáo dân kể lại câu chuyện như sau:

Trước khi vào cuộc rước, đoàn kèn thổi bài: “như có bác hồ trong ngày vui đại thắng”.

Hôm lễ Mình máu Thánh Chúa, cán bộ xã vào Giáo xứ quê Đức Cha chỗ Bến Thôn, đề nghị Ban Hành giáo treo thêm một lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Tháp chuông nhà thờ. Giáo dân ở đó kịch liệt phản đối rằng nếu Ban Hành giáo treo lên thì họ sẽ bãi Ban Hành giáo, BHG nghe ra nên cũng thôi.

Cuộc rước Đức Mẹ ở xứ Dị Nậu – Giáo phận Hưng Hóa

–  “Con là Trưởng ban hành giáo xứ, cách đây khoảng hơn 1 tháng con quan tâm đến vụ việc người ta hành xử với Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ở HN, con và nhiều người rất bức xúc, chúng con không đồng ý như vậy vì bất công với ngài. Cách đây khoảng hơn 1 tháng, con không nhớ ngày, con gặp cha Giang và trình bày quan điểm khi con đưa bản tin lên bảng tin giáo xứ, ngài không đồng ý và bảo: “Nếu ông đưa lên thì chưa dán xong tôi đã phải về nhà dòng rồi chứ chưa cần Đức Cha Chương đuổi”.

Ngày hôm đó, con và anh Tỵ, chủ tịch HĐGX in một bản nói về cuộc rước ở GX Dị Nậu vì xem đoạn video trên mạng và chúng con không đồng ý và rất bức xúc nên in và dán lên. Trong ngày lễ của Thánh Toma khoảng 10 giờ thì Cha Giang xé đi. Sau Thánh lễ chủ nhật, cha Giang công bố: Trang đó không phải là trang của Giáo hội, vì trang đó không phải của HĐGM nên không được dán, những tin đó là tin rác nên phải quét cho nó sạch. Con cũng bức xúc nhưng không dám nói gì, hôm sau con thông báo với cộng đoàn: Đây là thông tin trên mạng, nếu đúng, nhờ cha Giang giải thích, nếu sai, con xin lỗi Cha Giang và xin lỗi cộng đoàn. Con cũng hứa với cộng đoàn là anh em chúng con sẽ về tận Dị Nậu để tìm ra sự thật.

Hôm sau, con tên Hải, một anh nữa là anh Phúc, một anh nữa là anh Ngọc, cũng đều là Ban Hành giáo xứ về tận Bến Thôn khoảng 9-10 giờ đêm, rồi mời một số người ở Dị Nậu sang nữa thì dân ở đó cũng rất bức xúc và ủng hộ quan điểm trên mạng đã đưa và dân ở đó nói là đúng như thế.

Họ còn kể thêm một số chi tiết nữa như:

– Trước khi vào cuộc rước, đoàn kèn thổi bài: “như có bác hồ trong ngày vui đại thắng”.

– Hôm lễ Mình máu Thánh Chúa, cán bộ xã vào Giáo xứ quê Đức Cha chỗ Bến Thôn, đề nghị Ban Hành giáo treo thêm một lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Tháp chuông nhà thờ. Giáo dân ở đó kịch liệt phản đối rằng nếu Ban Hành giáo treo lên thì họ sẽ bãi Ban Hành giáo, BHG nghe ra nên cũng thôi.

Chúng con về đến chủ nhật tiếp theo, trước khi vào lễ, trước khi cha Giang mặc áo con có vào gặp  Cha và nói “Con xin Cha cho chúng con thưa lại với cộng đoàn là chúng con đã về Dị Nậu và Bến Thôn tìm hiểu và đó là sự thật, cha cho con thông báo lại với cộng đoàn để cộng đoàn biết”. Cha Giang nói: “Cha cấm ông không được nói điều gì”.

Một điều con không ngờ tới là sau Thánh lễ, ngài nói: “Riêng trang Nữ Vương Công Lý, không phải là trang chính thức của Giáo hội, cũng không phải là tin của HĐGMVN. Bây giờ tin của Giáo hội chỉ tin được mỗi trang của HĐGMVN. Còn các trang khác không thể tin được, vì không có địa chỉ, trang này luôn gây rối, chia bè chia cánh và gây mất đoàn kết của Giáo hội, trang này là trang của ma quỷ, của Satan. Hôm đó cha nói là:Ai xem trang đó là mắc tội trọng và phải đi xưng tội”.

Trang Nữ Vương Công Lý những điều đó không có gì là sai. Giáo dân chúng con bây giờ rất bức xúc, chúng con mong nếu có phóng viên của Nữ Vương Công Lý tới giáo xứ An Thịnh, chúng con sẽ họp toàn bộ anh em trong Ban ngành giáo xứ, giáo họ tập trung để trả lời chính xác hơn nữa. Vì nhiều khi con cũng có theo dõi mạng thì có nơi người ta nghi ngờ không chính xác. Con xin nói với lòng thành là những tin đó, trang Nữ Vương Công Lý đưa tin không có gì sai.

Ông Nguyễn Văn Phúc, một người khác trong Ban Hành giáo Giáo xứ An Thịnh nói: “Anh Hải đã nói là anh sẽ nói lại, vì anh đã đi xem việc đó rất là chính xác, nhưng cha bảo anh Hải là không được nói. Sau khi anh Hải ra rao mấy đôi hôn phối ở nhà thờ thì cha Giang ra nói là: Nữ Vương Công Lý là của ma quỷ, chia rẽ và những người nào xem sẽ mắc tội. Có nghĩa là ngài dùng phép của các ngài để không ai được xem nữa, xem là sẽ mắc tội”.

Cụ Phaolo Nguyễn Văn Viết, 75 tuổi, giáo dân xứ An Thịnh xác nhận: “Cha Giang làm lễ ở Nhà thờ An Thịnh, con đi lễ có nghe nói là Nữ Vương Công Lý không được xem, xem là mắc tội trọng, đã xem là phải đi xưng tội. Con nghe được mấy câu bập bõm như vậy”.

(Mời quý vị độc giả nghe file âm thanh giáo dân và Ban hành giáo xứ An Thịnh nói về sự việc tại đây)
http://www.youtube.com/v/P4FMwtPA18c&hl=en_US&fs=1


Trong khi đó, linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP không phủ nhận lời nói của mình, nhưng giải thích việc cấm giáo dân đọc và lưu trữ các bài viết bởi rằng: “Quý vị cứ thử nghĩ mà xem, một đứa trẻ đang trong thời kỳ bú sữa hay ăn cháo mà bắt nó phải ăn cơm, nuốt thịt thì bản thân nó sẽ ra sao?”

Email của linh mục Nguyễn Kim Cương OP

Email của linh mục Nguyễn Kim Cương OP

Chúng tôi đã gửi hồi đáp đến linh mục Cương và xin cho biết: Linh mục có nói như trong bài viết hay không thì đã không nhận được trả lời. Chúng tôi đã xác minh dữ kiện này, giáo dân và ngay cả Chủ tịch Hội Đồng giáo xứ cũng xác nhận điều linh mục Giuse Nguyễn Kim Cương OP nói là có sự thật, linh mục Cương không chỉ nói ở một Thánh lễ, một nhà thờ mà là nhiều nơi, nhiều Thánh lễ rằng ai cất giữ, tôi sẽ xử lý ngay kể cả linh mục. Chúng tôi đã kiểm chứng thông tin này và được xác nhận là đúng.

Vì vậy điều này chúng tôi không cần chứng minh nhiều.

Chúng tôi không tranh luận vấn đề xem giáo dân như một đứa trẻ đang bú cần cho nó uống sữa hay ăn thịt, nhưng chúng tôi nghĩ giáo dân cũng đã có nhận xét của họ và họ có nhận thức chứ không còn là những “đứa trẻ trong thời kỳ bú mẹ” như linh mục Cương đang nghĩ. Chuyện họ nhận thức tốt hay xấu, cứ đưa đúng sự thật cho họ và họ tự xác định cho mình. Thực tế thì giáo dân Yên Hợp đã trưởng thành nhiều hơn linh mục Cương nghĩ về họ.

Chúng tôi nghĩ rằng, chức trách và nhiệm vụ của linh mục là hướng dẫn đoàn chiên đi đúng đường lối của Thiên Chúa là “đường, là sự thật và là sự sống”. Tại sao các linh mục đã hướng giáo dân đi theo con đường của sự dối trá, sự chết?

Giáo dân cũng đã trưởng thành hơn linh mục tưởng, họ đã đi đến tận nơi, xem tận chỗ để xác minh vụ việc và khi đã xác định đúng sự thật thì các linh mục đã cấm họ không được nói sự thật lên vì: “Nếu ông đưa lên thì chưa dán xong tôi đã phải về nhà dòng rồi chứ chưa cần Đức Cha Chương đuổi”.

Như vậy, qua cách nói của linh mục Giang chúng ta hiểu thêm đường lối của Dòng Đaminh sẵn sàng “trị tội” các linh mục nếu dám nói lên sự thật vì “Chưa cần Đức Cha Chương đuổi” “đã phải về nhà dòng” thì ai có quyền này ngoài nhà dòng Đaminh? Hèn chi Linh mục Anre Đỗ Xuân Quế đã bị Cha Giám tỉnh “lấy làm phiền” khi ngài chưa đọc bài viết xem nội dung là gì.

Hay là chỉ vì được ở lại làm phó xứ, quản xứ ở Giáo phận Hưng Hóa mà các linh mục Dòng Đaminh đã chấp nhận che giấu sự thật và hướng dẫn giáo dân đi theo con đường của sự dối trá và việc kết án vô cớ người khác.

Tệ hơn nữa là họ đã lợi dụng chức sắc của mình để cướp đoạt quyền tự do thông tin, tự do báo chí của giáo dân, những con người vốn đã chịu nhiều đau thương, thiệt thòi với hàng nửa thế kỷ nằm dưới chính sách ngu dân của cộng sản bằng cách bịa ra những “giáo lý mới”.

Vậy lương tâm linh mục và đường hướng giáo lý của các linh mục này đang ở đâu? Họ lãnh đạo, giáo dục giáo dân theo đường hướng nào? Dòng Đaminh là dòng truyền giáo, với những tấm gương này họ định truyền đạo gì cho bà con nơi đây?

Đến đây thiết nghĩ quý vị bạn đọc có thể tự đánh giá cho mình được sự thật ở đâu, chúng tôi nghĩ chừng đó đã là đủ.

Điều cuối cùng muốn nói, là qua hai bức thư của hai linh mục Dòng Đaminh chúng tôi nhận được, thực sự chúng tôi không nghĩ mình đang được nghe những đấng đức cao vọng trọng nhả ngọc phun châu như thế này.

Bức thư của Linh mục Giang viết: “nếu bạn không có kinh phí đi lại thì cứ lên Giáo xứ, tôi sẽ chu cấp đầy đủ, để bạn tìm thấy: “Giáo lý mới của GP Hưng Hóa : Ai đọc Nữ Vương Công lý là mắc tội trọng?” như bạn đã nêu. Còn nếu bạn không lên hoặc không cử người lên tìm hiểu sự thật, thì tôi cũng biết bạn là loại người nào … ???” (Trích thư của Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Giang, OP)

Email của linh mục Nguyễn Văn Giang OP

Email của linh mục Nguyễn Văn Giang OP

Thưa linh mục Giang,

Chúng tôi không có điều kiện để đến xứ của ngài và nếu có, cũng đâu dám phiền đến Linh mục về tiền bạc, kinh phí, dù chúng tôi biết ngài có đủ hoặc thừa khả năng. Nếu ngài có điều kiện chu cấp đầy đủ, xin ngài hãy giúp cho những bà con đang đói khổ ngay trong giáo xứ ngài phụ trách hoặc bà con dân tộc ngay trong vùng ngài để họ bớt khó khăn. Còn chúng tôi là loại người nào ư, thì chính Linh mục đã kết án là ma quỷ và Satan đó thôi.

Còn bức thư của Linh mục Cương là một lá thư khá thân thiện, nhưng thân thiện đến mức chúng tôi khá ngạc nhiên về câu chữ linh mục đã dùng. Chúng tôi không dám đánh giá, vì có thể là thói quen, nhưng với tư cách một linh mục thì đấy là thói quen có hại.

Xin lỗi toàn thể độc giả vì xin trích nguyên văn một đoạn trong bức thư: “Cương ví dụ: sáng nay, có một vị chức sắc kể câu chuyện về một cuộc tranh cãi. Trong câu chuyện đó, có một người đã chửi tục “lồn mẹ mày”. Người nghe lại là kẻ không mấy ưa vị chức sắc kia, nên đã thâu băng, cắt xén và đưa cho một người lành thánh nghe vỏn vẹn chỉ có câu chửi tục. Người lành thánh nghe thấy vậy vô cùng ngỡ ngàng đến độ thất vọng về người chức sắc, vì quả thực đó đúng là giọng của người chức sắc rồi. Vậy theo quý vị làm như vậy đúng hay sai?(Trích thư của Linh mục Nguyễn Kim Cương, OP gửi Nữ Vương Công Lý)

Thưa quý vị độc giả

Câu chuyện này đã làm quý vị mất khá nhiều thời gian, tuy nhiên, đằng sau những sự việc  này là cả một cộng đoàn đang được các linh mục, Giám mục dẫn dắt, dạy dỗ. Chúng tôi hi vọng sẽ đem đến quý vị một phần sự thật ở đây để hiểu những nỗi đau của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà qua đó cần phát huy tất cả sự sám hối, hiệp thông để xây dựng một Giáo hội tốt đẹp, không phải là cái “mả tô vôi”.

Nữ Vương Công Lý


Đức Cha Anton Vũ Huy Chương chưa đọc hết hay cố tình quên?

Tháng Bảy 4, 2010

Lời giải thích khiên cưỡng và thiếu sự thật

Trong bài phỏng vấn đăng trên WHĐ Đức Giám mục Anton Vũ Huy Chương có nhắc đến cuốn hồi ký của Cố Đức GM Phaolo Lê Đắc Trọng và trích dẫn một câu như sau: “Trên đoạn đường kiệu đi ngang, có những bàn thờ gọi là “bái vọng” do dân chúng trong làng làm ra. Đó là một cái bàn, trên đặt Thánh Giá nếu là của bên đạo, hoặc đặt lư hương nếu là của bên lương. Bên nào cũng có người ăn mặc chỉnh tề đứng chực…” (trang 28).

Đây không phải là "Lư hương" mà là Hồ Chí Minh trước Đức Mẹ và Thánh Giá

Ngài trích dẫn điều đó để giải thích việc đưa cờ đỏ sao vàng, tượng Hồ Chí Minh vào bàn thờ trong cuộc rước ở Giáo phận Hưng Hóa là bình thường, rằng “Đây là do lòng thành kính của dân chúng đối với cuộc rước và họ bày tỏ theo cung cách của họ. Nếu họ không có cờ Nước Vatican (mà có người gọi là cờ Toà Thánh), thì trong dịp lễ hội dân gian miền Bắc, người ta thường treo hoặc cầm cờ Tổ quốc”. (Về vấn đề cờ ‘Nước Tòa Thánh’, chúng tôi đã nói ở bài trước).

ĐC Anton Vũ Huy Chương không chỉ trong bài phỏng vấn mà còn giải thích cho những người thắc mắc với ngài việc này, rằng những lá cờ đỏ sao vàng đó chỉ có trước ngày rước, “còn trong cuộc rước không có cờ”“những bàn thờ đó do dân “bên lương” đặt ra để “bái vọng”… Tiếc thay cho Đức Cha, những hình ảnh cuốn video ghi lại đã bác bỏ điều Đức Cha đã nói, những lá cờ đỏ sao vàng được dương cao sau Thánh Giá tối 8/5/2010 đó là gì nếu không phải là trong cuộc rước? Tượng Hồ Chí Minh đặt trước tượng Đức Mẹ và Thánh giá đó là gì nếu không phải là trong cuộc rước? Ai được phép dùng tượng Đức Mẹ để mang đi lung tung khắp nơi dười cờ đỏ sao vàng? Đây phải chăng là một sự nhục mạ hình tượng Đức Mẹ mà ĐC đang cổ võ?

Những lá cờ đỏ sao vàng sau Thánh Giá này là trong hay ngoài cuộc rước?

Những lá cờ đỏ sao vàng sau Thánh Giá này là trong hay ngoài cuộc rước?

Hình ảnh ĐC Chương và WHĐ đưa ra trong bài phỏng vấn nói rằng cờ đỏ sao vàng chỉ có ngoài cuộc rước có đúng không?

Giáo dân cho chúng tôi biết, trước cuộc rước, giáo dân đã chuẩn bị những lá cờ Hội Thánh, nhưng ĐC Anton Vũ Huy Chương dẹp đi.

Điều này phản ánh một thực tế ở Giáo phận Hưng Hóa, giáo dân Hưng Hóa nói với chúng tôi rằng: “Ở Giáo phận Hưng Hóa, nhiều nhà thờ, nhà nguyện thậm chí không được gắn Thánh giá lên bên ngoài, tuyệt đối cờ vàng trắng không được xuất hiện tại GP Hưng Hóa, ngay cả trong Thánh lễ phong chức Giám mục Phụ tá mới đây”. Kiểm chứng lại, thì đây lại là một sự thật không biết nên buồn hay nên vui. Thực tế có thể Giáo hội không quy định phải treo cờ Hội Thánh, nhưng việc này cũng giống như vào nhà các gia đình công giáo không thấy một ảnh tượng nào của công giáo, nó sẽ thể hiện về hình thức công khai đạo đức của chủ nhà ra sao.

Thánh lễ Tấn phong ĐC Vũ Tất, không một lá cờ Hội Thánh

Toàn cảnh Thánh lễ Thụ phong GM Phụ tá Hưng Hóa

Đọc không hết hay trích không đủ?

Cần phải chỉ ra rằng, Đức Cha Anton Vũ Huy Chương đã khéo trích dẫn lời Đức cố GM Phaolo Lê Đắc Trọng, một GM khiêm tốn và là một chứng nhân lịch sử kiên cường của Giáo hội được mọi người biết đến với tất cả tấm lòng cảm mến để giải thích cho hành động chẳng giống ai ở GP mà ngài khẳng định: “Tôi là ‘chức sắc có trách vụ trong Giáo phận’”.

Vậy nhưng ngài đã đọc không hết cuốn sách của Đức Cha Lê Đắc Trọng hoặc đọc rồi nhưng chỉ để tìm những lời biện bạch cho mình mà thôi. Nếu đọc hết cuốn hồi ký của Đức cố GM, kể cả những khi khó khăn nhất, chưa bao giờ người ta thấy một thái độ khiếp đảm và thỏa hiệp trước Cộng sản về những vấn đề của Giáo hội như cách làm của ĐC Chương hiện nay. Cố GM Phaolo đã quyết tâm gìn giữ những giá trị linh thánh của Giáo hội, chấp nhận khó khăn cho mình để bằng những lời lẽ kiên quyết đấu tranh cho quyền lợi của Giáo hội, những điều này ĐC Chương đã không làm được hoặc có nhiều khi đang làm ngược lại. Chúng tôi có những chứng cứ cụ thể về vấn đề chúng tôi nói ở đây và sẽ đưa ra khi cần thiết.

Trong hồi ký của mình, về chuyện lá cờ trong các cuộc rước, Đức Cố GM viết những lời như sau: “Vào sẩm tối, sau khi đã uy nghi rước qua cả thành phố hoan hỉ, đám rước tập trung lại một cách nhẹ nhàng và nghiêm trang xếp thành hàng trước nhà tạm lớn cuối cùng. Tất cả các bạn trẻ đều ở đó. Nhà thờ được chiếu sáng và trên tháp có treo cờ hiệu Tòa Thánh màu vàng và trắng” (Trích Những câu chuyện về một thời, Tập 3, trang 30).

Và: “Ngày 24-12-1958, chính quyền cho người đến treo cờ, giăng cờ ở trước cửa Nhà thờ Lớn. Dĩ nhiên là cờ Hội Thánh và cờ Quốc gia. Không bàn cho ai trong nhà thờ biết, cứ tự động làm… Để phản ứng lại, Cha xứ Nhà thờ Lớn, Cha Căn cho kéo tất cả các chuông nhà thờ trong vòng một tiếng đồng hồ để báo động. Cờ dây đã được mắc, cha Chính Vinh trong TGM chạy ra. Ngài nóng tính, tự tay giật các dây cờ, trèo lên thang giật các băng cờ trước cửa nhà thờ. Có người phản đối cha, việc lễ tự do tín ngưỡng, ai làm gì thì làm. Cha Vinh bắt chéo hai tay ra đằng sau nói tự do thế này này. Nghĩa là tự do bị trói giật cánh khuỷu. Chuông nhà thờ cứ réo lên, cho đến khi dẹp hết cờ quạt, các băng khẩu hiệu” (Trích sách đã dẫn, trang 148).

Đọc những câu chuyện này, hẳn Đức Cha Anton Vũ Huy Chương sẽ ngẫm lại những điều mình đã nói đúng hay sai với truyền thống giáo hội. Trong lịch sử GHVN dưới thời CS, chưa bao giờ có những cuộc rước để người “bên lương” cầm cờ đỏ sao vàng vào cuộc rước. Chưa bao giờ người Công giáo lại để người ngoài Công giáo mang tượng Đức Mẹ chạy lung tung khắp làng để “cổ động” mà được cho là bình thường. Hẳn những điều này chỉ có ở GP Hưng Hóa mà thôi.

Trước đây, thời kỳ khó khăn nhất dưới bàn tay sắt của chế độ cộng sản Đức cố GM Đinh Đức Trụ, GM Thái Bình cũng đã từng phải chấp nhận hi sinh để giữ gìn bản sắc giáo hội mà không chịu quy phục những điều ngang trái trong thái độ với chính quyền. Câu chuyện sau đây cũng được trích lại từ cuốn hồi ký của cố GM Phaolo Lê Đắc Trọng:

“Trong những dịp lễ hội của nhà nước, nhà nào, cơ quan nào cũng thế, ít nhất cũng phải treo cờ. Ngài không bao giờ treo cờ nhưng có một lần, ngài cho treo cờ một cách đặc biệt. Ngài dựng một cột cờ rất cao, đến hai chục mét, theo kiểu mẫu cột cờ mà các xứ đạo Thái Bình hay Bùi Chu quen dựng vào những dịp lễ lớn. Cột cờ được dựng với hàng chục cây luồng, trên ngọn, ngài cho cắm một lá cờ bằng hai bàn tay. Ngửa mặt lên phải nhìn kỹ mới thấy. Cán bộ nói: “Thật là quá bôi bác”. (Trích Câu chuyện về một thời, Tập 2, tr 194).

Hẳn nhiên, thái độ đó của các Đức GM Miền Bắc đã không được Đức GM Anton Vũ Huy Chương chú ý, ngài chỉ chú ý những điều gì có lợi biện bạch cho những hành động của ngài đang đi ngược đường lối đó mà thôi.

Có phải chăng đó chỉ là thái độ ngày xưa? như Đức HY Mẫn nói rằng: “GH Miền Bắc đang sống thời trước Công đồng”? Xin thưa không phải thế, ngay tại thời điểm 2010 hiện nay vẫn có nhiều nơi bằng mọi cách quyết tâm không đưa cờ đỏ sao vàng làm ảnh hưởng đến tinh thần Thánh lễ Công giáo. Mới đây, khi tổ chức Thánh lễ kỷ niệm 50 năm linh mục của Đức Cha Cao Đình Thuyên – nguyên GM GP Vinh, một đoàn của UBND tỉnh Nghệ An, UBMTTQ… vào chúc mừng, một vị trong Mặt trận nói với linh mục tổ chức buổi lễ: “Ở đây cờ treo nhiều thế mà không có cái cờ Tổ quốc nào cả, đề nghị cho treo thêm cờ đỏ sao vàng”. Linh mục trả lời: “Đây là lễ của Công giáo, những nơi cần treo thì đã treo cờ của Giáo hội rồi, sao treo cờ đỏ sao vàng vào đó được”? Ông cán bộ nói: “Thì hai bên lối đi nhiều chỗ còn có thể treo được”. Trả lời: “Nếu ông thấy cần phải treo hai bên lối đi thì tôi sẽ cho treo, nhưng ông nên nhớ là cờ treo hai bên lối đi là loại cờ được gọi là “cờ phu” nó như những người lính đứng đó chỉ để chào đón khách mà thôi. Khi tôi treo ông không được thắc mắc nhé”. Đến đó vị cán bộ tỉnh Nghệ An đành xua tay: “Thôi thôi, vậy thì thôi đừng treo nữa”.

Và cả khu vực Xã Đoài hôm đó, rợp cờ vàng trắng tung bay từ lá cờ đại đến khắp cả khu vực xung quanh. Hẳn rằng ngồi trên khán đài nhìn xuống hôm đó, Đức Cha Anton Vũ Huy Chương không thể không nhìn thấy.

Cờ Hội Thánh trong quãng trường Thánh lễ ĐC Thuyên - GP Vinh

Quảng trường phía trước mặt khán đài

Từ chỗ này nhìn ra ĐC Chương không thể không thấy và có nghĩ là mình đang lạc vào "Nước Vatican"?

Còn đây là quảng trường TGM Vinh ở Thánh lễ thụ phong Linh mục

Không chỉ trong các lễ hội Công giáo, mà ngay trong các ngày lễ tết truyền thống VN, đi qua các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh… đâu đâu các gia đình công giáo cũng treo cờ Hội Thánh chỗ trang trọng và cao nhất. Họ treo cờ không nghĩ rằng đây là cờ Nước Vatican, cờ Nước Nhật Bản hay Nước Mỹ hoặc Cônggo, họ chỉ nghĩ đơn giản rằng mình là con cái trong Hội Thánh và được lấy làm tự hào khi treo lá cờ đó.

Lá cờ vàng trắng của Hội Thánh đã đi vào thơ ca:

Lá cờ vàng trắng đưa tay yêu vẫy mãi
Trên cột cờ ngốt gió cạnh lầu chuông”

(Trích Hạnh phúc Người Công giáo – LM Võ Thanh Tâm)

Những tưởng, qua những chứng nhân của Giáo hội Miền Bắc sống đạo giữa lang sói và đau khổ mấy chục năm, các GM như Đức Cha Vũ Huy Chương sẽ nhìn thấy được tinh thần của họ quyết tâm hiệp nhất với giáo hội hoàn vũ, với Tòa Thánh… Nhưng không, 7 năm qua kể từ ngày ngài làm Giám mục Hưng Hóa đến nay, Giáo phận đã phải chấp nhận nhiều điều không thể hiểu nổi ban đầu, nhưng đến nay thì mọi người đã hiểu rằng họ đang có một Giám mục được điều khiển bởi một bàn tay nào đó mà đi ngược lại nguyện vọng và ý chí của giáo dân.

Về thái độ với chính quyền CS luôn tìm cách để bóp chẹt Giáo hội Công giáo, Đức Cố GM Phaolo Lê Đắc Trọng có nói đến Cố GM Đinh Đức Trụ như sau: “Một lần khác, tỉnh ủy Thái Bình tỏ thiện chí muốn mời ngài dự cuộc tiếp tân. Ngài chỉ dùng xe đạp. Hôm nay, ngài lại đèo ông trùm ở một xứ đi theo, đến nơi, ngài bắt tay các quan khách xong, chủ khách có vẻ rất mừng rỡ, nhất là về phía chủ, vì tỉnh ủy hoặc UB chưa hề có cuộc gặp gỡ, nhất là gặp gỡ trong một cuộc tiếp tân có sự hiện diện của ngài, còn ngài sau khi tay bắt mặt mừng, ngài cầm lá đơn của ông trùm, xin cho cha mới về làm lễ ở xứ mình. Ủy ban chấp thuận ký ngay, giao cho ông trùm. Thế là ngài nói với ông trùm: chào các vị chứ, không ở thêm 1 phút nào để liên hoan. Mọi người chưng hửng, không kịp chỉ bằng lời nói, thì thầm với nhau: “Thật là bất lịch sự”. (Trích Những câu chuyện về một thời, Tập 2, tr 195).

Nhưng, đó là vị GM “bất lịch sự” với chính quyền CS, còn với Đức GM Vũ Huy Chương thì ngược lại, ngài rất ưu ái và lịch sự với chính quyền, công an… Những khi có lễ hội Công giáo như đợt Giới trẻ TGPHN tập trung vừa qua, dù chính quyền đã đồng ý để cho thuê sân vận động Phú Thọ, nhưng rồi cuối cùng lại đổi ý chuyển vào Đền Hùng cho vắng vẻ… Hết cuộc tập trung đó, các linh mục và giáo dân Hưng Hóa cũng thấy xấu hổ khi Đức Cha phải đi cảm ơn các cấp chính quyền từ nhỏ nhất đến lớn nhất như đã ban một ân huệ lớn lao cho ngài.

Trong các dịp lễ, tết, ngài đã hết sức vất vả bươn bả không phải đến với giáo dân mà vì phải đi khắp các UBND các tỉnh để chúc mừng và được đưa lên TV. Tại GP Hưng Hóa, có nhiều nơi trong GP mấy chục năm không những giáo dân chưa thấy Đức Giám mục của mình, mà ngay cả cha xứ cũng chưa bao giờ đến vì “chưa xin được phép của chính quyền”. Đặc biệt ngài luôn quan tâm khi đến các giáo xứ có linh mục kiên cường, có giáo dân anh dũng, nhiều lần ngài đứng trên bục giảng nói xấu linh mục không thương tiếc vì “Linh mục gì mà lại đi nói xấu chính quyền”(!) chỉ vì linh mục đó dám tố cáo chính quyền nhũng lạm và bạo lực với giáo dân, giúp đỡ giáo dân biết mình có quyền gì được pháp luật cho phép.

Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Hà Nội cất công đến thăm ĐC Chương

Mới đây, trong dịp lễ Tấn phong Đức GM Phụ tá Gioan Maria Vũ Tất (15/6/2010), một cán bộ công an phụ trách tôn giáo tỉnh miền núi xa xôi xuống dự lễ, đêm nằm ở khách sạn rồi vẫn cứ gọi điện kêu nóng. Việc được báo với Đức Cha Chương, ngài đã cho mang tiền đến cả đêm để thuê chỗ trong một khách sạn khác xịn hơn cho viên công an này. Giáo dân vẫn râm ran bàn tán chi tiết này đến hôm nay nhưng chắc Đức Cha không biết, hoặc ngài cho rằng chuyện đó là đương nhiên? Giáo dân đã hiểu được mối thâm tình giữa Đức Cha và công an như thế nào. Vì sao như vậy, chắc phải có dịp khác chúng tôi nói đến điều này.

Cũng không phải ngẫu nhiên, Noel 2009 vừa qua, Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBNDTP Hà Nội đã cất công lên tận Sơn Tây để chúc mừng ĐC Vũ Huy Chương với những lời tốt đẹp và “Giám mục Vũ Huy Chương bày tỏ xúc động khi đón nhận sự quan tâm của lãnh đạo TP. Ông cho biết, sẽ làm hết sức mình để các linh mục ở giáo tỉnh Hà Nội cũng như giáo phận Hưng Hoá phát huy những điều như Chủ tịch UBND TP mong muốn” (trích từ tin của báo chí nhà nước).

Còn Phạm Quang Nghị, BT Thành ủy thì đến thăm Lm Dương Phú Oanh (thuộc Lm đoàn Hưng Hóa) chủ tịch UBĐK Công giáo Hà Nội

Cũng dịp đó, Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị cũng vượt đường xa đến một giáo xứ của GP Hưng Hóa để chúc mừng vị linh mục quốc doanh Dương Phú Oanh thuộc đoàn linh mục Hưng Hóa, chủ tịch cái gọi là “Ủy ban Đoàn kết công giáo TP Hà Nội”. Những điều này giáo dân không lạ, thậm chí giáo dân Cần Kiệm, nơi linh mục Oanh quản xứ, đã phải phẫn uất kêu lên: “Linh mục gì mà cứ như cán bộ, cũng được o bế, cấp xe cộ đàng hoàng và làm việc cho nhà nước nhiều hơn nhà Chúa. Thậm chí, dù đang nằm viện vẫn bươn bả về tiếp Phạm Quang Nghị, nhưng khi đi tĩnh tâm thì kêu ốm”… Nhưng điều đó Đức Cha Chương không biết?

Tạm kết

Những lời chứng của Đức Cố GM Phaolo Lê Đắc Trọng được mọi tín hữu đón nhận trân trọng như những tài liệu quý giá của một đấng bậc đã chấp nhận hi sinh bảo vệ giáo hội cách mạnh mẽ trong một thời kỳ dài GHVN đặt dưới gọng kìm sắt của bạo lực khát máu vô thần.

Nhiều người coi đó như những bài học, những tấm gương để noi theo quyết bảo vệ GH luôn hiệp nhất, yêu thương đúng đường lối của Chúa và xứng đáng với các vị tiền nhân đã hi sinh cả mạng sống mình chứng tỏ tinh thần Đức Tin.

Tiếc rằng vẫn có những người muốn dựa vào đó để biện bạch, che giấu những việc làm không chính đáng của mình mà không soi lại chính mình khi có nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên tiếp bước con đường kiên trung và bất khuất của giáo dân Miền Bắc.

Thời gian qua qua những sự kiện liên quan trực tiếp đến GH Miền Bắc và cả nước đã chứng minh những vấn nạn có thật trong Giáo hội, đó là sự thiếu hiệp thông, thiếu thái độ đúng mực cần thiết, thỏa hiệp với sự ác, với bất công, bạo lực và bỏ qua số phận những người nghèo khó, đau khổ… đi ngược đường hướng của Hội Thánh Chúa. Điều này đã dẫn đến những lo lắng, thất vọng của nhiều giáo dân, tu sĩ… lần đầu tiên sự thật đã được kêu gọi phải lên tiếng và những tiếng nói phản ứng đã cất lên mạnh mẽ.

GP Hưng Hóa cũng là mô hình thu nhỏ của vấn nạn này, ở đó có một ĐGM uy quyền nhưng thiếu uy dũng, ở đó có một ĐGM thiếu tình hiệp thông, nhiều khi thỏa hiệp với sự ác, với bạo quyền mà không bênh vực lẽ phải, người công chính, người nghèo…

Ở đó có một ĐGM chấp nhận một chế độ xin – cho và không muốn nghe những lời góp ý. Cũng ở đó giáo dân thấy rõ và hiểu rằng Giáo phận đang được điều hành không phải bởi một Đức Giám mục với ý Chúa Thánh linh soi sáng, mà là một chức sắc được công an chỉ đạo và chính quyền sai khiến. Hiện nay, chính sách cai trị của cộng sản là: “Hèn với giặc, hung hãn với dân” thì ở GP này, cách thực hiện của ĐGM cũng đang đi theo đường lối đó.

Và cũng ở đó, những lời lẽ đẹp đẽ của Kinh Thánh: “Thiên Chúa đã giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí. Trái lại, chúng tôi khước từ những hành động ám muội, đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng chẳng xuyên tạc lời Thiên Chúa; nhưng chúng tôi giãi bày sự thật” (2 Cr 4, 1-2) thì ĐGM vẫn dùng một cách trơn tru để biện bạch cho sự thỏa hiệp của mình mà không tự vấn lương tâm.

Nữ Vương Công Lý


Ai chống lại Giáo hội Công giáo

Tháng Bảy 1, 2010

”Kitô hữu công giáo” có bổn phận xây dựng Giáo Hội Tông Truyền và phải chịu trách nhiệm với lương tâm, với tha nhân, và nhất là với Đấng có Quyền Bính Tối Cao là Thiên Chúa về ba chức năng: ”tư tế, ngôn sứ, quân vương” là ”thánh hóa” mìnhngười đồng Đạo để thắng Xatan, hiển trị với Chúa và mở mang Nước Ngài khắp nơi như lời nguyện trong Kinh Lạy Cha. Vì vậy, nhiều Ki-tô hữu trong và ngoài Nước đã, đang và sẽ còn góp ý thẳng thắn, bằng cách này hay khác, với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về tư cáchkhả năng Ngôn Sứ của các Ngài giữa lòng Dân Tộc vì, hơn ai hết, các Ngài là Mục Tử có nhiệm vụ tiên phong làm ”chứng nhân đi công bố Tin Mừng”!

Ấy là ”Tin Mừng về Hồng Ân của Chúa cho người nghèo khó, người bị tù đày, người đui mù, người bị áp bức!” Tin Mừng cũng chính là  ”Đạo” hay là ”Đường về Thiên Quốc” mà Chúa Giê-su đã chỉ cho người giàu có: ”Bán hết của cải, lấy tiền cho người nghèo, và sẽ có một kho tàng trên trời, rồi đến theo Ta.” Chàng thanh niên giàu có này không nhận ra ”cái nghèo xơ, nghèo xác” về Tin Mừng nơi tâm hồn mình vì tiếc của! Việt Nam ”Ta” chỉ có hơn sáu triệu người công giáo trong tổng số gần chín mươi triệu dân thì quả là một trong những nước nghèo nhất thế giới về Lời Chúa! Nhiều Ngài Mục Tử Việt Nam chưa mạnh dạn làm theo lời dạy của Thánh Phao-lô: ”Trong (ơn) khôn ngoan, hãy đi đến người ngoài. – In sapientia ambulate ad eos qui foris sunt. Ơn ‘Khôn Ngoan” của Thánh Linh khác với sự ”khôn khéo” không thật lòng”con cái thế gian khôn lanh hơn con cái Sự Sáng!” của Dale Carnégie trong ”Đắc Nhân Tâm” vẫn còn là cuốn ”Best Seller” bởi vì ”con cái thế gian khôn lanh hơn con cái Sự Sáng!”

Điều thật đáng buồn là ”người lên tiếng góp ý vì yêu Giáo Hội” thì lại bị chụp mũ là ”phỉ báng các Đấng thay mặt Chúa cùng các Đấng làm Thầy, chống Cha, chống Chúa, chống Giáo Hội! Cũng vì ”Bác Ái, Từ Bi, tình nghĩa đồng bào và lòng yêu Nước nồng nàn” mà bà con đã lên tiếng phê phán cụ thể thành phần làm gương mù trong Công Giáo thì lại bị hiểu lầm là ”cố tình phá Đạo”! Đáng ra chúng ta phải cảm ơn Kitô hữu ngoài Công Giáo (Chính Thống Giáo và Tin Lành), bà con Bên Lương hay là đồng bào đã chỉ cho chúng ta thấy được khuyết điểm của mình.

Để chứng minh điều vừa nói là có tình, có lý, tôi xin nêu lên các danh ngôn sau đây: a) của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan XXIII: ”Ai phê bình, thậm chí chỉ trích tôi, người ấy là bạn. Còn ai tâng bốc tôi, người ấy là thù! b) của Thánh Hiền: ”Gạo bỏ vào cối, có đâm, có giã, có sứt, có mẻ, có nát, mới trắng tựa bông!” c) của Sainte-Beuve: ”Đối với tôi, được phê bình là điều thú vị để biết tư tưởng của người khác, chứ không phải là để khống chế các tư tưởng ấy.” d) của Heinrich Heine: ”Người muốn được khen là người coi trọng lời phê bình.” e) của Abbé Prévost: ”Không nhất thiết tác giả hiểu được ngay những gì mình viết. Người phê bình sẽ đảm nhận việc giải thích cho tác giả những điều ông ta đã viết.” g) Erik Satie: ”Mọi lời phê bình đều có tác dụng.” như lời nhận định của Đức Cha Nguyễn Chí Linh: ”Đó là điểm tích cực!”

Kinh Mùa Chay Thánh cũng dạy như sau: ”Con xin Đức Chúa Giêsu hôm nay, cùng hằng ngày, cùng trọn đời con, cho linh hồn con, cùng lòng mình con, cùng mọi sự ý con, cùng cha mẹ, anh em, bạn hữu thân thích con, con lại xin cho kẻ nghịch cùng con đặng mọi sự lành.”

”Kẻ nghịch” tức là người ”chẳng thuận với ý của mình”! Mà đã cầu nguyện cho họ thì họ không phải là Xatan chống phá Giáo Hội! Chẳng ai cầu nguyện cho Xatan vì nó đã bị phạt đời đời, mà còn nuôi ảo tưởng sẽ ngồi trên Ngai của Thiên Chúa! (Ysaya 13, 11-15) Còn Cộng Sản thì vô thần, coi Tôn Giáo là thuốc phiện, đã cho viết vào Thánh Giá hàng chữ: ”Ma túy! Hãy tránh xa!” Cho nên họ vô tình kết bạn với Xatan! Họ không bao giờ chống, mà lại ”để yên” hay là ”gài bẫy” cho Mục Tử và con chiên tha hồ sa ngã! Nhưng người có Tín Ngưỡng và Việt Đạo thì thấy mình cần phải góp ý cho đồng bào, trong đó có Kitô hữu và Đảng viên cộng sản vì họ quan niệm: ”Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ! Một người làm xấu, cả bậu mang nhơ!” Tôi đau một ngón tay là toàn thân tôi đau! Tôi có tội, tức là đau phần hồn thì Chúa Giêsu là Đầu của Hội Thánh và Hội Thánh là Thân Mình Mầu Nhiệm của Ngài cũng đau theo! Người Bên Lương thấy nỗi đau của đồng bào tin Đạo Chúa thì ”họ” cũng xót xa theo nghĩa Từ Bi! Chúng ta cũng chạnh lòng với Tôn Giáo Bạn theo nghĩa Bác Ái! Góp ý cho đồng loại, tức là muốn người khác cũng sống ngay lành mà được phúc! Hạnh phúc chính là cảm giác khi ta chạnh lòng thương, kính trọng và chiêm ngưỡng nỗi đau của người khác! Chạnh lòng mà không ra tay cứu giúp khi mình có khả năng thì là bất nhân! Cho nên, không được phép gọi người phê bình, chỉ trích Giáo Hội là thành phần ”phá Giáo Hội” nếu như người ta nói đúng! Định danh không tốt cho ”người làm ơn” là lỗi bác ái và đức công bằng! Còn đối với người công giáo thì Giáo Hội được ví như Con Thuyền giữa biển khơi đầy sóng gió. Giáo Hoàng như là Thuyền Trưởng, Hoa Tiêu; giáo dân như là thủy thủ của Con Thuyền ”Giáo Hội”. Chính vì thế, bài hát ”Lạy Mẹ là Ngôi Sao Sáng” (Sao Biển) dạy chúng ta cầu xin như sau: ”Sóng va tứ bề! Thuyền con sắp hòng chìm theo nước xuôi dòng! Thân lạy Nữ Vương! Mẹ thấu tình con! Giúp con yên hàn chèo, bơi, bát, cạy! Mẹ thương đến con cùng!”

Rõ ràng ”Thuyền Trưởng Giáo Hoàng” rất cần ”cộng tác viên” là Mục Tử, là  giáo dân! Tất cả phải ra sức ”chèo, chống, bơi, bát, cạy, tát nước…” thì Mẹ Hằng Cứu Giúp mới nhậm lời nài van của mình! Trong Con Thuyền Giáo Hội Việt Nam cũng vậy: Mục Tử như là người giữ mái chèo; giáo dân như người giữ mái dầm (chầm). Đôi bên cùng ra sức, chống đỡ nhau để đưa ”Con Thuyền Giáo Hội địa phương lướt nhanh” như tục ngữ Việt Nam có dạy: ”Buông tay dầm, cầm tay chèo!” vì ”cả hai” đều quan trọng, giúp thuyền tiến lên! Công dân yếu thì vận Nước điêu linh! Giáo dân mạnh thì Danh Cha cả sáng! Vì thế mà Sách Giáo Lý khẳng định như sau: ”Giáo dân ở tuyến đầu của Giáo Hội!” Bởi vì họ được ”trang bị” bằng Sức Mạnh vô biên của Thánh Linh để bảo vệ Thành Trì của Giáo Hội, tức là đánh tan được ba thù: Ma quỷ, thế ”gian”, xác thịt như lời ca nhập Lễ: Tứ vi dịch thù vây hãm! Lo gì! Có Chúa trong Thành: Dịch thù tan nát hết! Chúa trong lòng ta! Lo lắng gì! Hồn tôi ơi!

Cho nên, xét cho cùng, cái mũ ”chống Giáo Hội” chụp lên đầu những Kitô hữu kính sợ Chúa chính là thành kiến ”cản mũi kỳ đà” chức năng tư tế, ngôn sứ, quân vương của Hàng Giáo Dân bởi vì thành kiến ấy lại phá Đạo ác liệt hơn cả Xatan, bởi vì Xatan rất ghét những người công chính! Vậy thì nên hiểu ba chữ ”chống Giáo Hội” theo nghĩa tích cực là ”nâng đỡ, giúp đỡ, chống đỡ Giáo Hội”. Ngoài chữ ”đỡ”, người mình còn dùng chữ ”chống” như sau: ”lấy cột tre, cây gỗ để chống buồng chuối, giàn bí…; cột chống mái nhà…” Chúng ta chỉ ”chống đỡ” Mục Tử và con chiên nào có quan điểm và việc làm ngược với Lời Chúa dạy. Chúng ta cộng tác trong việc chống Con Thuyền Giáo Hội Việt Nam đi đúng hướng với Giáo Hội Hoàn Vũ bởi vì chúng ta thương Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, bởi vì Giáo Hội phải vinh Danh Chúa giữa mọi người!

Maisen xin Chúa chỉ cho ông ta thấy vinh quang của Ngài thì Ngài trả lời như sau: ”Ta sẽ cho ngang qua trước mặt con tất cả sự tốt lành của Ta và Ta sẽ kêu Danh Chúa trước mặt con; Ta sẽ đoái thương người nào thương Ta, và Ta sẽ xót thương người nào thương xót Ta.” (X. Hành 33, 19)

Thương xót Giáo Hội chính là thương xót Chúa! Người ”chống” là cầm sào mà ”thọc, tì” thật mạnh vào vật cứng để đẩy thuyền, ghe, bè, xuồng…đi tới! Giáo dân sử dụng SÀO ĐỨC TIN, ”bám, tựa” vào Lời Chúa để cùng với Mục Tử CHỐNG THUYỀN GIÁO HỘI ra khơi! Vâng Lời Thầy Chí Thánh, giáo dân có tội tình gì trong việc góp ý khi thấy Mục Tử chưa, thậm chí có khi là không ”kết hợp chặt chẽ” với Cây Nho là Thầy? Con cái thấy nhà mình bị dột, đứng khoanh tay mà nhìn, rồi để ”mặc kệ nó”, là bất hiếu, vô ơn với đấng sinh thành, dưỡng dục. Thấy Giáo Hội Việt Nam đã có tuổi đời hằng mấy trăm năm, chỉ ”chiếm” tỷ lệ quá thấp vì nhiều lý do, trong đó lỗi lầm của Mục Tử và con chiên cũng là nguyên nhân chính ngăn cản Nước Cha trị đến, mà giáo dân khác không lên tiếng góp ý xây dựng thì có nghĩa là đồng tình, là vô trách nhiệm, hay là nhân danh chủ nghĩa ”mặc kệ” (mackéïsme, Mackeïsmus) cho khỏi bị rầy rà, khỏi mang tiếng ”phá Đạo”!

Tình mến là ”thước đo lòng người”! Alphonse Kaar phát biểu: ”Tình yêu là cuộc đi săn mà thợ săn phải để cho thú săn theo mình.” Sau khi phạm tội ”tày trời” là chối Chúa tới ba lần, rồi hiểu được ý nghĩa khổ nạn, sự chết và việc phục sinh của Chúa, Phêrô cũng được Ngài ”vặn hỏi” tới ba lần: ”Con có mến Ta không?” Chúa như là Thợ Săn; còn Phêrô như là thú săn chạy theo Thợ Săn tuyệt vời! Cho nên ông buồn khi được Chúa hỏi tới lần thứ ba để rồi phải xác tín như sau: ”Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự. Chúa biết con mến Chúa!”

Lòng mến chẳng những đã cứu Phêrô khỏi tội chối Thầy, mà còn là ”tiêu chuẩn số một” để  ông được Chúa chọn làm Giáo Hoàng Tiên Khởi, tức là Chủ Chăn Đàn Chiên là Giáo Hội của Chúa! Léonard de Vinci nói: ”Càng nhận biết thì càng yêu.” Thật vậy, được Chúa trả lời cho câu hỏi ”Thưa Chúa, Chúa đi đâu? – Quo vadis, Domine?”, Phêrô làm theo Lời Chúa là trở về Roma, xin ”được đóng đinh, mà đầu lộn ngược” để làm vinh Danh Thầy bởi vì ông đã quán triệt Sứ Mạng Cứu Rỗi mà Thầy truyền lại cho mình! Ý nghĩa của Sứ Mạng ấy đã được ghi lại trong Thánh Ca, theo Tin Mừng Thánh Gioan 15,13 như sau: ”Còn tình yêu nào cao quý hơn là tình yêu người liều mạng sống vì người mình yêu!” Ở đoạn khác, Thánh nhân còn ghi lại Lời Chúa dạy thế này: ”Ta ban cho các con một điều răn mới: Hãy yêu mến nhau. Ta đã yêu các con như thể nào thì các con hãy yêu mến nhau như vậy. Theo dấu này, mọi người sẽ nhận ra các con là môn đệ của Ta: Đó là các con có tình thương mến nhau.” (Gioan 13,34-35) Mà đã thương thì phải sửa lỗi cho người mình thương!

Hồi còn bé, tôi được nghe kể chuyện thế này: Khi đến tuổi già, Thánh Gioan chỉ lặp đi, lặp lại bài giảng ngắn gọn như sau: ”Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen. Các con hãy yêu thương nhau. Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.” Bài giảng nghe hoài, chán tai, nhưng đó là ”linh hồn” của Giáo Hội! Cho nên người không có Đức Mến thì ”nguy hiểm” hơn cả Xatan bởi vì ”họ” ích kỷ và kiêu ngạo, mà lại ở ngay trong lòng Giáo Hội! Chính họ còn tệ hơn cỏ lùng mọc chung với lúa bởi vì ”nhất cự ly, nhì cường độ”! Câu ”Gần mực thì đen” nói lên sự tác hại của gương xấu! Còn câu ”Gần đèn thì sáng” nói về ảnh hưởng tốt của gương lành! Nhưng ”đèn” không có ”lửa”, không ”cháy” rực lòng mến thì ”sáng” làm sao được? Chính Chúa Giêsu đã cảnh báo người lớn như sau: ”Ai là cớ vấp phạm cho một trong những đứa trẻ này đang tin Ta thì thà buộc cối đá xay vào cổ nó và quăng nó xuống biển còn hơn.” (Marcô, 9, 42) Chúa còn dạy: ”Các con là muối đất. Nếu muối mà nhạt thì lấy gì làm nó mặn lại? Nó chẳng còn ích gì, chỉ đem đổ ra ngoài cho người ta dẫm đạp. Các con là ánh sáng thế gian… Ánh sáng của các con phải chói lọi trước mặt người đời ngõ hầu họ thấy việc lành các con làm mà tôn vinh Cha các con ở trên trời.” (Mathêô, 5, 13-16) Chúa dùng chữ ”chói lọi” khác với ”leo lét”!

Chúng ta thường đọc: ”Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con đặng biết việc phải làm, cùng khi làm, xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh, mỗi việc chúng con từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.” Trong Cựu Ước, Ysaya 60, 19 nói về Thiên Chúa là Ánh Sáng như sau: ”Ngươi sẽ không cần nhờ mặt trời soi chiếu ban ngày, ngươi sẽ không cần nhờ vầng trăng soi chiếu ban đêm. Chúa sẽ là ánh sáng cho ngươi muôn đời. Chúa sẽ là vinh quang của ngươi.” (Thánh Ca Việt) Còn Khải Huyền thì viết: ”Và Thành không cần mặt trời, mặt trăng soi chiếu vì vinh quang Thiên Chúa chói lọi trên Thành; và đèn soi trên Thành là Chiên Con.”

Người cộng sản vô thần không tin có Đấng Hóa Công vì chẳng biết gì về Ngài, tức là ”vô tri!” Mà ”vô tri” thì ”bất mộ!” Đã ”bất mộ Đạo mà họ coi là thuốc phiện” thì việc phải phá Đạo là chuyện đương nhiên! Nhưng người đã tin, đã biết rõ Xatan là ai, mà còn ”làm lợi” cho nó bằng cách này hay cách khác, bằng lời lẽ ngụy biện dối trá vì tư lợi, chức quyền, danh vọng, tức là chẳng tuân giữ Mười Điều Răn nên cũng lờ đi việc người cộng sản đang xúc phạm đến Mười Điều Răn thì những người đó đáng ”bị phạt nặng hơn mà chớ!” bởi vì không thực hiện chức năng tư tế, ngôn sứ, quân vương giữa lòng Dân Tộc!

Ngày xưa, đi chân không, mà Mục Tử đến tận những nơi không được an toàn, vùng đèo heo hút gió, xa xôi, xa thẳm, xaxa, mà lại đi gần! Nơi xa dễ đến là những nước có cuộc sống xa hoa, xa phí, có nhiều xa xỉ phẩm! Nhiều VỊ có đôi chân khỏe, mà cứ ru rú ở nhà, trong ”khuôn viên” của mình, chỉ muốn ngồi yên trên xa-lông thành ra xa lìa con chiên là xa rời thực tế! Lời rao giảng của các NGÀI tưởng chừng được lan xa, nhưng lại trở thành xa vời, xa cách với lòng người! (Xin xem VietCatholic: ”Ưu Tư Truyền Giáo tại một vùng ở Việt Nam” và ”Suy tư về nghịch lý trong vùng đất truyền giáo”.) tít! Còn ngày nay, nhiều VỊ có phương tiện để được đi xa, mà lại đi gần! Nơi xa dễ đến là những nước có cuộc sống xa hoa, xa phí, có nhiều xa xỉ phẩm! Nhiều VỊ có đôi chân khỏe, mà cứ ru rú ở nhà, trong ”khuôn viên” của mình, chỉ muốn ngồi yên trên xa-lông thành ra xa lìa con chiên là xa rời thực tế! Lời rao giảng của các NGÀI tưởng chừng được lan xa, nhưng lại trở thành xa vời, xa cách với lòng người! (Xin xem VietCatholic: ”Ưu Tư Truyền Giáo tại một vùng ở Việt Nam” và ”Suy tư về nghịch lý trong vùng đất truyền giáo”.)

Sống dưới chế độ tự xưng là ”lương tri của thời đại, đỉnh cao của trí tuệ”, người yêu Nước, thương Nòi mà ”thẳng thắn, thành thật, thiết tha thì thường thành thiếu thốn, thua thiệt thê thảm!” Còn ai ”lách luồn, len lỏi, lương lẹo, lạy lục, liếm láp lại lên lương lẹ làng!” Xin hiểu Lời Chúa: Nước TA không thuộc về thế gian này!cho đúng nghĩa là: ”Quyền Năng của Ta không bởi loài người, không có bạo lực bất nhân trong Nước Ta!” Và xin đừng quên câu tiếp theo: ”Ta là Vua như ông đã nói! Vì thế Ta đã sinh ra, đã đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật.” (Gioan 18, 36, 37) Ước gì Dân Chúa cứ an tâm, mạnh dạn làm theo Lời Ngài dạy: ”Hãy nói có, có, không, không. Thêm thắt điều là do Ác Tà!” (Math. 5, 37) Xin Chúa ”trả công” cho những người có lòng ngay:

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM!

Đaminh Phan văn Phước (Düsseldorf, 01.7. 2010)


GP Hưng Hóa: Lang Thíp, gian nan con đường đem Tin Mừng cứu rỗi các linh hồn

Tháng Sáu 4, 2010

“Nơi núi không cây, nơi sông không nước” sau mấy chục năm theo lời kêu gọi phá rừng.

Chúng tôi đến ga Bảo Hà trên tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai vào đêm, trời đổ một trận mưa nhẹ hạt làm không khí dễ chịu hơn đôi chút.

Đã khá nhiều lần qua lại nơi đây khi bằng ô tô, khi bằng tàu hỏa, nhưng chưa dừng lại nơi đây lần nào, trong tôi vẫn mang ấn tượng về một câu chuyện được đọc từ thời thơ bé, khi mà “cả nước ra trận” “ra ngõ gặp anh hùng”.

Câu chuyện kể về người tuần đường trên tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Câu nói “Cọp Bảo Hà, ma Trái Hút” cũng từ câu chuyện này xâm nhập vào tôi. Chuyện kể rằng buổi sáng người ta đi tuần đường, thấy da và xác cọp bị tàu kẹt chết trên đường ray mới biết rằng hàng đêm cọp ra ngủ ở đường tàu hỏa nên tàu chạy qua cán phải. Câu chuyện đó nhằm nói lên rằng có những người tuần đường không kể gian nguy để cho đoàn tàu vận hành suôn sẻ phục vụ tiền tuyến giữa khu rừng thiêng nước độc này.

Không rõ câu chuyện đó có thật hay không, nhưng ít nhất là nói lên được điều này: Khi đó khu vực này vẫn là khu vực rừng thiêng nước độc và cây cối um tùm bí hiểm.

Chúng tôi xuống ga Bảo Hà, người chở xe máy đưa chúng tôi đến nhà thờ Lang Thíp cách ga độ chừng mươi cây số mà nhiều khi thót tim, xe nhảy chồm chồm trên bờ sông con đường nhỏ nhoi bám theo đường tàu hỏa. Con đường càng làm cho người đi cảm giác ghê người hơn khi bên cạnh là bờ sông dốc đứng sâu thăm thẳm vì nước cạn kiệt. Sau một trận mưa hồi đêm, nhưng dòng sông vẫn trơ cạn đáy nổi lên những bãi đá bên dòng nước đỏ đục ngầu.

Nơi núi không câyNơi núi không cây

Trong cả ngày rong ruổi sau đó, chúng tôi không tìm đâu ra một cánh rừng già, tất cả là đồi trọc và nắng khét, loang lổ vài ba đám nương người dân tộc đang gieo trồng như tấm áo vá trăm ngàn mảnh tuyệt nhiên không thấy bóng dáng một khu rừng nào còn sót lại để gọi là nguyên sinh.

Đúng là sau mấy chục năm nghe lời hô hào, kêu gọi của đảng và nhà nước, rằng “nghe rừng lắm đất lên đây với rừng” rằng “theo bước ta đất mừng reo xanh mượt. cất cao lên ánh lửa yêu đời, khúc ca mừng đất vỡ thênh thang“… và bao nhiêu ca từ hô hào “tiến sâu vào rừng” khác nhau.

Kết quả cho đến nay, hầu hết khu vực này rừng đã trôi vào dĩ vãng. Câu chuyện cọp, ma cũng từ đó trở vào truyền thuyết tự bao giờ.

Nơi sông không nướcNơi sông không nưc

Lang Thíp, nhọc nhằn họ đạo lẻ loi cô tịch

Tiếp chúng tôi tại ngôi nhà tranh mà có thể gọi là nhà xứ, một số giáo dân cho chúng tôi biết: Giáo họ có khoảng 400 người có đạo từ các vùng xa xôi đến đây sinh sống mấy chục năm nay. Ngoài ra còn có khoảng 500 giáo dân người dân tộc thiểu số trước đây đã rửa tội, nhưng sau một thời gian không có người chăm sóc, một số đã chuyển sang theo đạo Tin Lành. Số còn lại hầu như không có Thánh lễ đã lâu nên sự đạo mai một, kết hợp với sự khắc nghiệt của đời sống và canh chừng, kiểm soát của công an, chính quyền… nên nhiều nơi trở lại như vùng trắng.

Cách đây mấy tháng, linh mục Thái trở lại quản nhiệm nhà thờ Giáo họ này, lại bắt đầu công việc tái truyền giáo lại cho khu vực. Khi chúng tôi đến Lm Thái đang chuẩn bị cho chuyến hành trình vào bản người dân tộc, vài chiếc xe máy đã sẵn sàng, túi du lịch mang theo ảnh, tượng và một số dụng cụ đến thăm người thiểu số. Thấy chúng tôi ngỏ ý được đi theo, Linh mục Thái đồng ý và gọi thêm mấy chiếc xe máy nữa. Tất cả cùng nhau chuẩn bị lên bản.

Nhà thờ Lang ThipNhà thờ Lang Thip

Con đường lên bản của người H’Mông ở đây cũng nét chung như những con đường lên bản khác mà chúng tôi đã từng đi, người H’Mông luôn sống trên những đỉnh núi cao cheo leo và hiểm trở, đặc tính dân tộc của họ là như vậy, những con đường đến với họ đều vô cùng gian nan đòi hỏi sự gan dạ và kiên nhẫn.

Bản Hang Gấu, một bản H'Mông ở Lang ThípBản Hang Gấu, một bản H’Mông ở Lang Thíp

Chúng tôi đi qua thôn Thíp Đạo để tới Liên Sơn, một khu vực có mấy gia đình công giáo nhưng nay một số đã bỏ sang Tin Lành. Năm 2003, linh mục Thái đã đến vùng này giúp đỡ họ nhiều trong cuộc sống, Ngài tổ chức cho họ cuộc sống văn minh hơn bắt đầu từ nguồn nước, trồng cây Quế. Trước hết, Ngài cho xây một chiếc bể nước khá lớn trên đỉnh đồi đủ dùng cho cả bản, hệ thống nước sau khi được lọc theo đường ống nước được lắp đặt chuyển về cho từng gia đình sinh hoạt thoải mái, phần còn lại để tưới ruộng, tưới cây. Đến nay, sau 7 năm hệ thống đó vẫn an toàn và sử dụng hiệu quả nhằm tránh cho đồng bào nơi đây những căn bệnh truyền nhiễm, bệnh tiêu hóa…

Bàn thờ gia đình người H'MôngBàn thờ gia đình người H’Mông

Đón chúng tôi tại nhà, Vàng Seo Dìn  cho biết: Nhờ những năm đó có hệ thống nước, đời sống đồng bào không kể lương giáo nơi đây đỡ khó khăn nhiều, nhiều gia đình đỡ ốm đau bệnh tật và chăm lo sản xuất hơn.

Nhưng những năm sau đó Ngài không có dịp trở lại nơi này, một số đã bỏ Công Giáo sang Tin Lành. Khi được hỏi vì sao lại thế, họ cho biết bởi vì theo Tin Lành đỡ phức tạp hơn cho họ. Một số còn được yêu cầu phải cúng ma và người ta còn tuyển thầy cúng tại chỗ cho bản.

Nhiều gia đình công giáo nhưng nay đã trở lại phong tục cúng của mình và được khuyến khích, việc học giáo lý, đọc kinh nguyện dần dần trở nên xa lạ. Hạt giống tin mừng đã gieo trồng nhưng không được chăm sóc, tưới tắm nên dần dần thui chột là vậy.

Cho đến bây giờ, khi Lm Thái trở lại bản, một số người lại muốn trở về theo Công giáo, nhưng cán bộ vào tận từng nhà bảo rằng nếu đã theo Tin Lành thì cứ theo tin lành, không được theo theo Công giáo nữa.

Trẻ em H'Mông ở Lang ThipTrẻ em H’Mông ở Lang Thip

Nghe giáo dân nơi đây kể chuyện đã qua mà tôi cứ nghĩ như mình đang sống trong những năm 60 của thế kỷ trước. Những giáo dân H’Mông của Giáo họ Lang Thíp muốn đi lễ phải đi ra tàu xuôi khoảng 50-60 km về Giáo xứ An Thịnh, ở đó họ được tặng, cho hoặc mua sách vở, tượng ảnh… nhưng ra về đến ga tàu hoặc trên tàu lập tức bị lục túi lấy bằng hết. Có những gia đình được tặng sách vở, tượng ảnh… cất vào bồ thóc, cất trên gác bếp hoặc bất cứ chỗ nào cũng bị công an vào lục soát thu kỳ được thì thôi.

Gia tài người H'Mông trong ngôi bếpGia tài người H’Mông trong ngôi bếp

Việc tham dự Thánh lễ phải đi đường núi, vất vả hàng mấy chục km mới đến được nhà thờ giữa sự vây ráp quan tâm thường xuyên của các cán bộ, công an, nhiều người đã nản chí, cộng thêm tình cảnh không có các chủ chăn biết chăm lo cho họ, nên việc vào rồi ra là chuyện không mấy xa nhau.

Khi chúng tôi đến cả bản vắng tanh vì mùa gieo hạt nên phải đi làm. Vào một gia đình, một đoàn trẻ con bằng đầu nhau đứng núp sau khe cửa nhìn khách, tài sản cả gia đình không thấy gì ngoài mấy tải ngô đặt ở góc nhà, bếp lạnh tanh. Chủ nhà đang đeo tay lên ngực do bị rắn hổ cắn mấy hôm nay không đi làm được.

Và phòng khách của họVà phòng khách của họ

Thăm mấy gia đình khác trong bản cũng vậy, chúng tôi chỉ gặp gỡ được dăm ba người rồi chia tay.

Rời bản Liên Sơn, chúng tôi cùng nhau theo Linh mục Thái vào bản Hang Gấu, đây là một trong năm bản người dân tộc của xã Lang Thíp huyện Văn Yên. Con đường thật quả gian nan hơn chúng tôi tưởng, nhiều đoạn phải xuống dắt bộ vì chỉ sợ sểnh chân là xuống vực, mà vực ở đây lại không có nước, không có cây nên việc giữ được “linh hồn không ra khỏi xác” là điều khó khăn.

Gieo neo cuộc sống người dân H'Mông trên rẻo caoGieo neo cuộc sống người dân H’Mông trên rẻo cao

Giáo dân đi với chúng tôi cho biết: Những con đường này là những con đường “tự phát” của các hộ dân, của các bản mà hình thành nên được đâu hay đó, xã hội, chính quyền chưa can thiệp. Chúng tôi đùa nhau rằng thì ra đây là những con đường “không can thiệp nội bộ” của nhân dân.

Bên những khu đồi trọc là các đám người dân đang đổi công đi làm nương, khung cảnh nhìn thật vui mắt. Bên những ngọn đồi dốc đứng, người phụ nữ H’Mông cheo leo gieo hạt. Cuộc đời họ cũng cheo leo như cây ngô bên sườn dốc.

Gian nan con đường truyền giáoGian nan con đường truyền giáo

Bản Hang Gấu, một bản người H’Mông thuộc xã Lang Thíp mà khi đến đó, chắc chỉ có thể đi được xe máy khi trời nắng như hôm nay, trời mưa chỉ có nước đi bộ cũng không xong. Con đường xa xôi cheo leo đó, Linh mục Thái đã đi bao lần con đường này để đem Tin Mừng đến cho họ. “Không chỉ có bản này, những bản khác xa xôi hơn còn cheo leo hơn nữa nhưng Cha Thái vẫn không quản ngại đến với giáo dân, Hình như Cha có một tình yêu nào đó mãnh liệt với công việc truyền giáo. Các ông chưa biết chứ hồi trước khi cha xứ vào đây, thế nào cũng có dăm bảy người lạ mặt đi theo đằng sao thám thính và quan sát. Nhưng rồi họ thấy việc làm của Cha chẳng có gì sai trái và tình cảm giáo dân dành cho cha thế nào thì họ cũng thôi” một giáo dân đi theo chúng tôi nói.

Quả là con đường gieo neo và hiểm trở đầy nguy hiểm, nhưng con đường đó là con đường cách đây đã gần chục năm, Linh mục đã vượt qua để những người dân ở bản H’Mông này biết đến Chúa, và giờ đây khi trở lại những người dân lam lũ này cũng là mối quan tâm của linh mục Thái không chỉ ở truyền đạo, dạy giáo lý cho họ mà hướng dẫn họ cách ăn ở vệ sinh, cách sống và biết cái quyền của mình.

Nhà người H'Mông ở bản Hang GấuNhà người H’Mông ở bản Hang Gấu

Cả bản nằm trong dạng xác xơ nghèo đói, những trẻ em lấm láp chơi thơ thẩn xung quanh những mái nhà che tạm hoặc bên những con suối cạn, nhiều đứa không có quần áo. Cái nghèo đói ở đây thì đã rõ, nhưng cái nghèo đói ở đây được chính quyền quan niệm rất “lạ”. “Những hộ nào nghèo đến đâu thì nghèo, nhưng nếu theo đạo, thì không bao giờ được tiêu chuẩn nhận là hộ nghèo nên không được hỗ trợ theo chính sách nhà nước” – Một giáo dân nói với chúng tôi.

Cuộc sống nơi đây của bà con người dân tộc đang lầm lũi và vất vả, nhất là với giáo dân, cần lắm những bàn tay, những tấm lòng nhân ái đến với họ, nâng đỡ họ cả cuộc sống tinh thần và cật chất. Những sự chia sẻ đó chính là để thực hiện tám mối phúc trong đạo chúng ta: “Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc…”

Khi chúng tôi đến  Hang Gấu vợ chồng Giàng Seo Lú đang xẻ cột để dựng cái chòi máy xát gạo phục vụ bà con. Chở tôi về thăm ngôi nhà của anh, anh kể rằng ở đây, thỉnh thoảng cán bộ nó lại xuống hỏi về việc bà con theo đạo như thế nào, có cúng ông bà không… đời sống bà con còn vất vả lắm, nhà nào cũng đông con học hành khó khăn lắm vì nhà nào cũng nghèo.

Được tin linh mục đến thăm, bà con phấn khởi và cảm động, những người có thể thông tin được, họ gọi nhau về ngay dù cả bản đang mùa gieo hạt. Những hình ảnh nâng niu các em bé người dân tộc lem luốc của linh mục Thái, chúng tôi hiểu những tình cảm của vị linh mục này dành cho họ thật tâm và lớn lao biết nhường nào mới có thể vượt qua được những khó khăn lớn lao đó để đến với họ.

Cả xã Lang Thíp có gần 6.500 nhân khẩu, nay vẫn còn 40% được nhà nước xếp vào dạng nghèo đói, tất nhiên nếu con số giáo dân cũng được tính, hẳn là tỷ lệ sẽ cao hơn nhiều.

Nhìn đời sống đồng bào nơi đây, chúng tôi hiểu rằng để đến với họ không chỉ là lời nói suông, không chỉ là sự rao giảng mà điều cần nhất là lòng yêu thương thật sự của một tâm hồn dấn thân theo Đức Kitô.

Vị linh mục say mê rao giảng Tin Mừng và bênh vực những người đau khổ

Tạm biệt hai bản người dân tộc, chúng tôi về theo con đường khác thì trời cũng đã đổ về chiều. Con đường dài hơn đưa chúng tôi ra đường cái trong cái nắng khá gay gắt. Để lại sau lưng những bản làng dân tộc và những day dứt về cuộc sống, niềm tin của họ.

Nhà xứ họ Lang ThípNhà xứ họ Lang Thíp

Ngôi nhà nguyện Lang Thíp là một ngôi nhà nhỏ, khung cảnh xung quanh vừa được tôn tạo còn mới nguyên, chứng tỏ nơi này vốn là một nơi đèo heo hút gió ít người lui tới. Một cái lán lợp lá cọ, làm bằng tre không vách che đặt bên cạnh một ngôi nhà lợp tranh khác làm nơi cho linh mục ở. Ngôi nhà nguyện mới được tu sửa lại bằng cách nối thêm chút cánh gà để có chỗ che mưa tạt ngang. Nhưng khi mưa đổ xuống, hành lang vẫn nước nhỏ giọt tong tong.

Gặp chúng tôi ở nhà xứ là các giáo dân ở xứ cũ của Ngài, nơi Ngài đã từng phục vụ trước đây. Khi Ngài “được” chuyển lên Lang Thíp, trước cảnh tan hoang của nơi này với chỉ mấy trăm giáo dân trong giáo họ đã nhiều năm không có Thánh lễ, nhiều giáo dân từ xứ cũ đã đến đây giúp đỡ Giáo họ xây dựng cơ sở vật chất.

Nhà khách họ Lang ThípNhà khách họ Lang Thíp

Ngôi nhà mới làm xong chỉ hết có 10 ngày, quả là một tiến độ kỷ lục trong điều kiện khó khăn về mọi mặt từ vật chất đến tinh thần khi mà chính quyền liên tục vào lập biên bản, đình chỉ xây dựng. Nhìn những đoàn người say mê xây dựng góp công tặng của cho nơi mới đến của Linh mục cũ của họ, chúng tôi thấy được tình cảm, sự mến yêu của giáo dân đối với Linh mục F.X Nguyễn Văn Thái thật sâu sắc và sống động. Có những giáo dân ngài đã coi sóc cách đây cả chục năm vẫn tìm đến nơi Ngài đang sống để chia sẻ với giáo dân ở đây.

Nói chuyện với chúng tôi, một giáo dân cho biết: “Cha Thái là người đã chăm sóc xứ đạo Nhân Nghĩa (Hóp) và đã ra đi từ lâu. Kể từ khi Ngài về đó, chúng tôi được thấy một vị mục tử nhân lành biết chăm lo cho chúng tôi hơn cả bản thân mình. Chính nhờ Cha, chúng tôi mới biết được mình có những quyền gì của con người, chính nhờ Cha, chúng tôi mới biết mình phải tự bảo vệ mình bằng luật pháp, lên án cái xấu, cái dở và nhân lên những sự tốt đẹp của cuộc sống đạo đức xã hội. Cha đã xa chúng tôi từ lâu, nhưng chúng tôi vẫn luôn thấy như Ngài luôn bên cạnh bênh vực và nâng đỡ chúng tôi.

Đặc biệt, từ nhỏ đến giờ chúng tôi đã gặp nhiều linh mục, nhưng có thể nói là chưa có linh mục nào say mê với việc truyền giáo, sự cứu rỗi các linh hồn và làm việc hiệu quả như Cha Thái. Chúng tôi đến đây với Cha khi có những khó khăn vì khi chúng tôi có khó khăn, bất cứ khi nào cha cũng ở bên chúng tôi để giúp đỡ và bênh vực”.

Những bước chân truyền giáo Những bước chân truyền giáo

Việc truyền giáo cho người dân tộc có những đặc thù mà không phải ai cũng có thể dễ dàng làm được. Trước hết đó là sự tận tâm và có sự yêu mến đặc biệt với những thân phận đói nghèo và hèn kém trong xã hội, những người dân tộc đơn sơ ấy vẫn phân biệt rất rõ những ai đã bênh vực và yêu mến họ thật sự.

Vừa qua, sau khi Ngài đổi nơi ở và phục vụ, có những bản làng đã được lãnh nhận ơn Thánh Tẩy bổng nhiên đùng đùng đua nhau đem Thánh Giá trả lại và nộp cho chính quyền. Khi giáo dân hỏi lại mới biết: “Công an, cán bộ vào nói với chúng tao rằng ông Thái đã bị đuổi đi nên không ai bênh vực cho chúng mày nữa đâu, nếu không bỏ đạo, trả Thánh Giá thì chúng mày sẽ không sống được, vì vậy chúng tao sợ lắm”. Cả bản mấy chục người, giờ chỉ còn một người còn giữ đạo. Đó là điều day dứt và đau xót hiện lên rõ ràng trong con mắt giáo dân ở đây (Sự việc xẩy ra ở bản Khe Voi xã Đông an – huyện Văn Yên – tỉnh Yên Bái và ở Mỏ Vàng).

Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết Linh mục Thái cũng là linh mục đã luôn bênh vực cho giáo dân và những người nghèo khổ, bị chèn ép. Ngài luôn là nơi dựa vững chắc của giáo dân và những người bất hạnh trước những sự lộng hành, tham nhũng và oan khuất của họ. Đặc biệt những năm qua, khi các sự kiện liên quan đến giáo hội trong nước, ngài đã lên tiếng mạnh mẽ vạch trần sự dối trá, lừa bịp của hệ thống truyền thông.

Qua những sự kiện như Tòa Khâm sứ, Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Tòa… trong khi cả Giáo phận Hưng Hóa “im lặng đáng sợ”, thì luôn luôn có những đoàn giáo dân nơi linh mục Thái coi sóc đến hiệp thông sau khi nhận được các thông tin qua mạng internet. Nhiều cuộc cầu nguyện đã liên tục được tổ chức cho các nơi bị bách hại. Phiên tòa xử 8 giáo dân Thái Hà, hàng chục giáo dân An Thịnh, Nhân Nghĩa đã xuống hiệp thông tận tòa án. Biến cố Đồng Chiêm xảy ra, những giáo dân nơi đây liên tục nhận được thông tin và đến tận nơi hiệp thông.

Khi những thông tin về khai thác bauxite Tây Nguyên được đưa lên mạng, một phong trào rầm rộ ký tên phản đối từ Nam ra Bắc… Tôi ngạc nhiên vì có một giáo xứ với  mấy hàng trăm chữ ký tận miền Yên Bái, hóa ra đó là các giáo xứ An Thịnh, Nhân Nghĩa, Đại Phác – Yên Phú do linh mục Thái coi sóc.

Những sự hiệp thông mạnh mẽ đó đã làm nức lòng giáo dân khắp nơi, họ được sống cuộc sống hiệp nhất của mình, được cất lên tiếng nói của mình với anh em nơi đau khổ theo đúng đường lối của Chúa: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Nhưng chính những sự nhiệt tâm của linh mục và Giáo dân nơi đó đã đem đến cho họ nhiều hệ lụy và khó khăn. Nhiều biện pháp, nhiều ngón đòn đã được sử dụng với họ. Trong đó có không ít những điều bất ngờ đến phi lý và khó hiểu. Cách đây 3 tháng Linh mục Fx. Nguyễn Văn Thái, nguyên linh mục  quản nhiệm Giáo xứ An Thịnh – Đại Phác – Yên Phú  với khoảng 13.000 giáo dân, được chuyển về “quản nhiệm nhà thờ Lang Thíp với quyền hạn theo giáo luật quy định cho một quản nhiệm nhà thờ (Xem GL. Điều 556-563). Điều này làm rất nhiều từ giáo dân cho đến linh mục ngỡ ngàng(?).

Đến nơi mới, Linh mục lại bắt tay xây dựng lại từ đầu một cơ sở tái truyền giáo ở đây.

Câu chuyện về vị linh mục này và tinh thần giáo dân nơi đây, chúng tôi sẽ nói đến kỹ hơn vào dịp khác.

Rời Lang Thíp trong một đêm mưa, chúng tôi thật xúc động khi những giáo dân, những người già cả đã vượt qua cả mấy cây số đường rừng bằng đi bộ để đến nhà thờ xem lễ dưới trời mưa và đường sá lầy lội và sự yêu mến chia sẻ sau Thánh lễ của những giáo dân này ngay tại “nhà xứ”.

Tạm biệt Lang Thíp, những chiếc xe máy của giáo dân đưa chúng tôi chúng tôi lên ga Bảo Hà về xuôi trên con đường cheo leo bờ sông Hồng trơ cạn, với hi vọng có những bàn tay nhân ái dành cho bà con khốn khó nơi đây.

Trên chuyến tàu đêm về xuôi, chúng tôi không ai ngủ được với bao câu chuyện dở dang mà giáo dân đã kể lại trong nước mắt về những gian khó của họ.

Và cũng qua đó, chúng tôi hiểu rằng, giáo hội đang phải đối mặt với quá nhiều vấn nạn trong giai đoạn hiện nay.

Hà Nội, Ngày 3/6/2010

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn: Blog J.B Nguyễn Hữu Vinh