Sơ thẩm Cồn Dầu!… Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã trở mình?

Tháng Mười Một 2, 2010

Kết quả phiên toà sơ thẩm xử 6 giáo dân cồn dầu đã làm cho những ai quan tâm thấy có đôi phần nhẹ nhõm, phấn chấn và có cả mừng vui, ấm áp nữa… gạt sang bên cái cách hành xử lưu manh của giới chức quyền Đà Nẵng và cả cái phiên toà “lưu manh” này, người ta thấy nhẹ nhõm bởi 4 trong số 6 nạn nhân đã được trở về gia đình ngay khi phiên toà kết thúc sau nhiều tháng biệt giam, bị đánh đập tra khảo tàn nhẫn và hai nạn nhân còn lại cũng chỉ một vài tháng nữa là ra khỏi chốn lao tù.

Đọc tiếp »

Advertisements

HĐGMVN có theo đúng tinh thần Công Đồng Vatican II không?

Tháng Mười 20, 2010

Từ ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, các giám mục đã thường nại đến Công Đồng Vatican II để biện minh cho sự đồng loã với đảng cộng sản. Bắt đầu từ Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, sau 30/04/1975, đã gởi tâm thư kêu gọi giáo dân phải “hoà mình vào nhịp sống mới trong tinh thần hoà giải”, trong đó, ngài viết: “Một trang sử mới đã mở ra cho dân tộc Việt Nam. Đây là một niềm vui chung của cả dân tộc Việt Nam”. Và từ đó đến nay, ngoại trừ một số giám mục can cường bảo vệ Giáo Hội, bảo vệ con người, bảo vệ công lý và hoà bình (như Đức Cha Nguyễn Kim Điền, Đức Cha Nguyễn Văn Thuận và các Đức Cha Ngô Quang Kiệt, Cao Đình Thuyên, Hoàng Đức Oanh), đại đa số các giám mục khác đã im hơi lặng tiếng trước những bất công, trước những đau khổ triền miên của con người Việt Nam hôm nay. Và như thế là đồng loã với đảng cộng sản.

Công Đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, ngay trong lời mở đầu, đã khẳng định rõ ràng: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (MV 1).

Nhìn lại 35 năm dưới chế độ cộng sản, ta thấy các giám mục, nhất là Hội Đồng Giám Mục, chưa xem “ưu sầu và lo lắng của con người” Việt Nam hôm nay là của mình. Tự cho mình là những giám mục của công đồng Vatican II, hơn hẳn các giám mục miền Bắc bị kìm kẹp dưới chế độ cộng sản từ 1954 đến 1975, nhưng thực sự các giám mục miền Nam cũng chẳng thấm nhuần tư tưởng, lời dạy và trí ý của Công Đồng Vatican II. Có vẻ những gì “thực sự là của con người” đã không hề gieo được chút âm hưởng nào vào lòng các ngài.

Trước hết, trong nhiều năm trời, rất nhiều dân oan ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước, Mỹ Tho, Bến Tre, Long An, Bà Rịa, Vũng Tàu…nằm la liệt trên những con đường thành phố Sài Gòn đòi công lý. Nhưng Hội Đồng Giám Mục không có một lời nói, một cử chỉ thương yêu giúp đỡ họ. Những người nghèo bị bóc lột, không còn nhà để ở, không còn đất để canh tác, không có công ăn việc làm, đi đòi công lý thì bị đẩy từ toà này sang toà khác, từ năm này qua năm khác. Nhưng các giám mục lại bàng quan trước những đau khổ của họ, ung dung đi nước ngoài như đi chợ, im lặng trước bất công, dửng dưng tự tách mình ra ngoài cộng đồng dân tộc. Ưu sầu và lo lắng của con người Việt Nam hôm nay hình như không gieo được một chút âm hưởng nào vào lòng các giám mục Việt Nam!?

Đến khi con cái của Giáo Hội bị bắt bớ đánh đập vì đòi công lý và hoà bình, như các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, Đồng Chiêm, Cồn Dầu… Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng vẫn im lặng. Đặc biệt là vụ Đồng Chiêm, như mọi người đều biết, ngoài chuyện đánh đập giáo dân, còn chuyện động trời là cộng sản đập phá Thánh Giá giữa đêm khuya với hàng trăm dân quân cùng chó nghiệp vụ và đủ loại vũ khí, thậm chí dùng cả chất nổ cho nổ tung cây Thánh Giá, biểu tượng thiêng liêng của người Kitô hữu. Khác với các vụ khác, lần này có một số giám mục lên tiếng, nhưng Hội Đồng Giám Mục vẫn im lặng.

Không những thế, tại Rôma ngày 23/06/2009, Đức Cha Bùi Văn Đọc, Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý – Đức tin, đã lợi dụng một bài giảng lễ để, một cách long trọng, thanh minh cho sự im lặng thoả hiệp đáng sợ của hàng giám mục trước sự tàn ác của cộng sản Việt Nam. Đức Cha Đọc giảng trước sự hiện diện của tất cả các giám mục Việt Nam đến Rôma gặp Đức Giáo Hoàng Beneđictô 16, với sự tham dự đông đảo của linh mục, tu sĩ, giáo dân Việt Nam đang làm việc hoặc học tập ở Rôma, trong một thánh lễ long trọng ở đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Vì thế có thể coi như đó là tiếng nói đại diện Hội Đồng Giám Mục, và bài giảng đó đúng là bài bào chữa cho sự im lặng của hàng giám mục Việt Nam. Trong bài giảng, Đức Cha Đọc đã chỉ dựa vào sự e dè của Giêrêmia để biện minh cho sự im lặng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Đức Cha Đọc cố ý quên đi việc Thiên Chúa sai Giêrêmia nói lời của Ngài và sự đảm bảo của Thiên Chúa “Có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”. Thiên Chúa giao cho Giêrêmia một sứ mạng khủng khiếp phải chu toàn: “đứng đầu các dân, các nước để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng”. Làm ngôn sứ là phải trả giá. Nhưng hình như các giám mục Việt Nam không dám trả giá như thế, mà chỉ biết loanh quanh biện minh.

Tiếp đó, ngày 13/01/2010, lại có bài “Lên tiếng hay không lên tiếng” trên trang điện tử của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Có thể coi đây thực chất là một bản tuyên bố nói lên lập trường của Hội Đồng Giám Mục. Trong bản tuyên bố này, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có ý nói: chúng tôi chỉ đưa ra nguyên tắc chung, còn tại địa phương, địa phương nào lo địa phương đó. Nói cách khác, Hội Đồng Giám Mục sẽ ăn ngon ngủ yên, mặc cho con cái mình nơi này nơi kia bị bắt bớ tù đày vì đòi công lý, mặc cho đất đai của cha ông như các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bị cắt dâng cho ngoại bang, mặc cho việc khai thác bô xit độc hại liên luỵ đến môi trường sống đã và đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng…

Điều mà Dân Chúa đang mong đợi là câu trả lời thực tế cho các vấn đề nóng bỏng như: Giáo Hội phải đồng hành với dân tộc thế nào trong chế độ cộng sản? Giáo Hội phải sống giữa lòng dân tộc như thế nào để bảo vệ con người, bảo vệ công lý, bảo vệ hoà bình theo tinh thần Công Đồng Vatican II? Đó mới là những vấn đề nhức nhối hiện nay.
Linh mục Chân Tín

Như vậy, Hội Đồng Giám Mục có theo đúng tinh thần của Công Đồng Vatican II không? Có đồng hành với dân tộc hay chỉ đồng hành với đảng cộng sản? Có sống giữa lòng dân tộc hay chỉ sống giữa lòng đảng cộng sản?

Hiện nay, Hội Đồng Giám Mục đang tiến hành tổ chức Đại Hội Dân Chúa. Đại Hội sẽ diễn ra vào tháng 11/2010 sắp tới tại Sài Gòn.

Đại Hội có đem vấn đề thi hành Công Đồng Vatican II ra thảo luận không? Dân Chúa tại Việt Nam sống giữa lòng dân tộc như thế nào? Làm thế nào để đồng hành thật sự với dân tộc? Làm thế nào để sống lời khẳng định của Công Đồng Vatican II: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”?

Tài liệu làm việc của Đại Hội đã được gửi đi các nơi, nhưng trong đó chỉ thấy lý thuyết và lý thuyết muôn thuở. Nào là nền tảng thần học, nào là hội nhập văn hoá… Những vấn đề muôn thuở này, chỉ cần trình bày trong một số tài liệu để gửi về các giáo xứ học hỏi là đủ. Điều mà Dân Chúa đang mong đợi là câu trả lời thực tế cho các vấn đề nóng bỏng như: Giáo Hội phải đồng hành với dân tộc thế nào trong chế độ cộng sản? Giáo Hội phải sống giữa lòng dân tộc như thế nào để bảo vệ con người, bảo vệ công lý, bảo vệ hoà bình theo tinh thần Công Đồng Vatican II? Đó mới là những vấn đề nhức nhối hiện nay.

Nếu không có trao đổi tự do về những vấn đề đó, thì Đại Hội Dân Chúa sắp tới sẽ chỉ là một lễ hội tưng bừng tốn kém mà chẳng ích lợi gì cho ai. Thậm chí chỉ có lợi cho đảng cộng sản mà thôi. Và thử hỏi, đó có phải là tinh thần Vatican II hay không?

Linh mục Chân Tín, DCCT

Điện thoại: 0128.521.9768


Thư của Giáo dân Cồn Dầu gửi Đức GM Đà Nẵng và Cộng đồng dân Chúa

Tháng Mười 19, 2010

(Hình: Giáo xứ Thái Hà thắp nến cầu nguyện cho Cồn Dầu)

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

“Mầu Nhiệm – Hiệp Thông – Sứ Vụ”

Cồn Dầu, ngày 18 tháng 10 năm 2010

Kính gởi:Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri – Giám Mục Giáo Phận Đà Nẵng

– Cha Emmanuel Nguyễn Tấn Lục – Chánh xứ Giáo xứ Cồn Dầu

Đồng kính gởi: – Quý Đức Cha, Quý Bề trên các Dòng tu Nam nữ,

– Quý Cha, Quý Tu sĩ Nam nữ và toàn thể Cộng đoàn Dân Chúa


Trọng kính quý Đức Cha, cùng toàn thể  quý vị,

Chúng con là một số giáo dân Cồn Dầu, thân nhân của 6 người hiện đang còn bị giam giữ trong nhà tù của Công an Đà Nẵng, sắp bị đưa ra xét xử, vào ngày 27 tháng 10 năm 2010 tại Tòa án Nhân Dân quận Cẩm Lệ.

Đây là 6 người còn lại bị truy tố trong số 72 người đã bị bắt khi tham dự buổi tang lễ của bà Maria Đặng Thị Tân, ngày 4 tháng 5 năm 2010, tại nghĩa trang Cồn Dầu, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và đã bị các lực lượng công an, cảnh sát, cán bộ với đầy đủ phương tiện, vũ khí trấn áp và bắt đi.

Sáu người thân của chúng con sắp sửa bị đem ra xét xử trong một hoàn cảnh ngặt nghèo, cô thế, ốm đau, thiếu thốn nhiều mặt, nhưng quan trọng nhất là thiếu thốn những sự an ủi về mặt tình cảm, tinh thần, và linh hướng vào lúc họ cần đến nhất.

Trong những ngày qua, kể từ biến cố ngày 4 tháng 5 năm 2010, ngoài một ít lần thân nhân được phép thăm viếng, các nạn nhân không được ai thăm viếng, hỏi han, hoặc yểm trợ tinh thần trong lúc họ bị cô đơn và phải đối phó với những đe dọa, hiểm nguy chồng chất trước mặt.

Trong vụ xử sắp tới, hồ sơ án sự của các bị can còn rất nhiều uẩn khúc, nhiều dữ kiện chưa được sáng tỏ, nhiều nhân chứng, tang chứng, vật chứng chưa được minh bạch. Hậu quả tất nhiên đáng lo ngại rằng, họ sẽ phải lãnh những án tù nặng nề “để làm gương”(!) một cách oan uổng cho những nguyện vọng chính đáng được pháp luật cho phép của họ, cũng như hành động và nguyện vọng của tất cả giáo dân Cồn Dầu là được sống yên ổn tại quê hương mình với ngôi Thánh đường và chết với nghĩa trang Cồn Dầu, nơi chôn nhau, cắt rốn của chúng con từ bao thế hệ nay.

Kính thưa quý Đức Cha, quý cha và quý vị

Xưa các thánh Tông Đồ đã mạnh dạn đi rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô, đã viếng thăm các cộng đoàn đang bị thử thách, gởi thư an ủi và khích lệ các tân tòng đang bị bách hại, kể cả các cộng đoàn dân ngọai xa xôi nhất. Chính nhờ thế mà cộng đồng dân Chúa đã được bảo vệ, càng ngày càng lớn mạnh, được lan rộng để trở thành Giáo hội Công giáo như ngày nay.

Giáo xứ Cồn Dầu là một giáo xứ tồn tại hơn 80 năm và có lịch sử hơn 130 năm qua đã kiên định, vững vàng trong Đức Tin, nồng nàn trong tình Mến, là một bộ phận, chi thể của Hội Thánh Chúa.

Giáo hội Công Giáo Việt Nam cũng đã được sinh ra và trưởng thành bằng máu của các Thánh Tử đạo, bằng nước mắt và lời cầu nguyện của giáo dân trong mọi hoàn cảnh, và đã được Thiên Chúa quan phòng và Mẹ Maria bao bọc che chở như đã thể hiện tại La Vang và Trà Kiệu. Giáo xứ Cồn Dầu là một giáo xứ tồn tại hơn 80 năm và có lịch sử hơn 130 năm qua đã kiên định, vững vàng trong Đức Tin, nồng nàn trong tình Mến, là một bộ phận, chi thể của Hội Thánh Chúa.

Chúng con tin rằng, trong hoàn cảnh hiện nay, sự an ủi tinh thần của quý Đức Cha, quý Cha, Quý Nam nữ Tu sĩ và cộng đồng Dân Chúa xa gần, bằng lời cầu nguyện hiệp thông, trong thánh lễ, trong các buổi đọc kinh, trong phụng vụ… sẽ là nguồn an ủi động viên và là sự trợ giúp tinh thần to lớn giúp thân nhân chúng con can đảm sống chứng tá Tin mừng trong chính hoàn cảnh ngặt nghèo ngay cả khi phải ở trong lao ngục.

Là những tín hữu Kito, chúng con tin rằng nhờ đó, Thiên Chúa sẽ ghé mắt thương nhìn đến thân phận bọt bèo của những giáo dân đang bị bắt giữ, tù đày cũng như Giáo xứ Cồn Dầu chúng con trong hoàn cảnh hiện nay.

Trong điều kiện vô cùng cấp bách và gần như tuyệt vọng hiện nay, chúng con không biết nượng tựa vào ai, chỉ biết đem hết lòng thành viết những lời vụng về kính gởi lên quý Đức Cha, quý Cha, quý Tu sĩ Nam nữ và tất cả quý vị, khẩn thiết xin quý vị rủ lòng thương, góp lời cầu nguyện an ủi những người đang bị tù đày, cho họ thêm sức mạnh  noi gương Chúa Kitô nhận lãnh Thánh giá mà Chúa giao phó.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng con vẫn luôn giữ vững một niềm tin sắt son rằng Thiên Chúa toàn năng không bao giờ bỏ quên các con cái hèn mọn của Ngài, và luôn nghe văng vẳng bên tai lời an ủi của Mẹ Maria đã phán hôm nào tại Trà Kiệu: “Đừng sợ, hỡi các con, có Mẹ đây.”

Chúng con những con chiên bé nhỏ, những đồng đạo khổ đau xin chân thành cảm ơn quý Đức cha, quý Cha, quý Tu sĩ Nam Nữ và toàn thể cộng đoàn.

NHỮNG CON CHIÊN CỒN DẦU ĐAU KHỔ

Vợ, con của Matthêu Nguyễn Hữu Liêm

Vợ của Giuse Trần Thanh Việt

Mẹ, vợ của Tađêo Lê Thanh Lâm

Vợ, con của Simon Nguyễn Hữu Minh

Chồng, con của Nguyễn Thị Thế

Chồng, con của Phan Thị Nhẫn

Giáo dân Thái Hà - Hà Nội thắp nến cầu nguyện cho Cồn Dầu

Giáo dân Cồn Dầu


Đôi điều suy nghĩ về Công lý và Hòa bình

Tháng Mười 18, 2010

1. Vài dòng lịch sử

Công lý và Hoà bình là một tổ chức của Giáo hội Công giáo manh nha từ thông điệp Phát triển các dân tộc (Progressio populorum) thời ĐGH Phao-lô VI, năm 1967, và hình thành từ sau Công đồng Va-ti-ca-nô II. Tổ chức này phát xuất từ các tư tưởng trong hiến chế Vui mừng và hy vọng. Hiến chế này là một công trình tư tưởng vĩ đại, được khắp nơi trên thế giới hoan nghênh và trở thành chính sách có mặt của Giáo hội trong thế giới ngày nay.

Trong một thế giới mà nhiều nơi còn nghèo khổ, quyền con người không được tôn trọng, Giáo hội muốn cổ võ và góp phần thiết lập một trật tự xã hội mới, nơi đó, nhân phẩm được tôn trọng và bảo vệ, bằng học thuyết xã hội của mình và qua những hoạt động nhân đạo của con cái mình, với một cơ câu pháp lý chặt chẽ là các Uỷ ban Công lý và Hoà bình tại Trung ương cũng như các Giáo hội địa phương.

Thời Công đồng mới khai diễn, người ta thường hay nhắc đến từ cập nhật hoá (aggiornamento). Từ này là của Đức Cố Giáo hoàng Gio-an XXIII (nay là chân phước). Theo ĐGH, nay đã đến lúc Giáo hội mở cửa nhìn ra thế giới và để cho thế giới nhìn vào. Hai bên nên quay mặt vào nhau thay vì quay lưng lại với nhau. Giáo hội đã mang đến cho thế giới nhiều giá trị tinh thần cao quí và nhiều công trình nghệ thuật văn hoá đạo lý rất có giá trị, thì thế giới cũng có thể mang lại cho Giáo hội những giá trị khác như tình liên đới và sự đồng hành.

Câu mở đầu thời danh của hiến chế Vui mừng và hy vọng thường được nhắc lại và được dùng làm nền tảng cho những hoạt động của Giáo hội trong các lãnh vực trần thế. Đây là những lời vàng ngọc chứng tỏ môi bận tâm và lòng tha thiết của Giáo hội đối với xã hội loài người :

“Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn khổ và âu lo của con người hôm nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, buồn khổ và âu lo của các môn đệ Đức Ki-tô. Không có gi đích thực nhân loại mà lại không có âm vang nơi cõi lòng nggười môn đệ Đức Ki-tô.” (Gaudium et spes số 1)

Có thể nói nền tảng của các hoạt động đổi mới và thích nghi của Giáo hội sau Côn đồng Va-ti-ca-nô II là dựa trên những lời xác quyết này mà Công lý và Hoà bình là một trong những yếu tố nổi bật nhất.

2. Khái quát về Công lý và Hoà bình

Thánh Tô-ma A-qui-nô định nghĩa công lý hay công bình là trả cho ai cái thuộc về người ấy (reddere cui sui est). Tiền tài, danh vọng, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, đồ đạc của người nào, mình phải tôn trọng, không được xâm phạm hay chiếm đoạt. Nếu đã trót lấy của người ta rồi thì phải đền, phải trả cho cân xứng.

Thánh Âu-tinh định nghĩa hoà bình là sư ổn định của trật tự (tranquillitas ordinis). Khi nào có trật tự trên dưới, từ trong ra ngoài thì lúc đó có hoà bình.

Đức Giáo hoàng Pio XII chọn khẩu hiệu hoà bình là công trình của công lý (pax opus justitiae). Sở dĩ ngài chọn khẩu hiệu này có lẽ vì thời đó (1939) là thời cực thịnh của chủ nghĩa phát-xít và quốc xã. Hai nhà độc tài Mussolini và Hitler bắt người ta phải gọi mình là Duce, Fuhrer, nhà lãnh đạo, người hướng dẫn. Hoà bình lúc ấy bị đe doạ ; con người bị lệ thuộc và làm tôi cho ý thức hệ độc tài và phi nhân bản. Ngài muốn là ngọn cờ đi đầu, hoạt động và cổ võ cho hoà bình dựa trên công lý.Theo ngài, không thể có hoà bình khi công lý bị chà đạp.

Vì vậy, người ta mới nói hoà bình không phải là không có chiến tranh và muốn hoà bình thì phải chuẩn bị chiến tranh. Như thế nghĩa là gì ? Thưa nghĩa là không có chiến tranh mà trật tự giữa con người với nhau, giữa chính quyến và người dân không ổn định vì những sự cãi cọ tranh giành, vì những luật lệ bất công gây tức tối bực bội, lúc đó trật tự bị xáo trộn thì không có hoà bình. Còn chuẩn bị chiến tranh, nghĩa là huấn luyện binh sĩ, chuẩn bị võ khí để khi bị quân đội nước khác đên tấn công thì có thể đương đầu để giữ gìn bờ cõi.

Đó là nói chiến tranh theo đúng nghĩa. Còn nói chiến tranh theo nghĩa hạn hẹp thì đó là chuẩn bị làm sao giữ được mối hoà khí trong đoàn thể, trong quốc gia, giữa người dân với chính quyền. Khi chính quyền không làm mất lòng dân vì những hành vi độc tài, phi nhân bản thì bấy giờ mới có được cảnh quốc thái dân an. Nghệ thuật cầm quyền trị nước của các bậc phụ mẫu chi dân là ở chỗ đó.

3. Phạm vi hoạt động của Công lý và Hoà bình

Phạm vi này khá rộng rãi đi từ chỗ rao giảng, phổ biến tài liệu, lý thuyết về học thuyết của Giáo hội đến chỗ hành động thiết thực chống lại bất công đàn áp, bênh vực người cô thế, nghèo khổ, thấp cổ bé miệng, hoạt động giải thoát cho khỏi cảnh nghèo đói, lưu ý đến người di dân, góp phần vào việc xây dựng và củng cố hoà bình. Công lý không phải là tình thương và đồng nghĩa với tình thương mà là hành động bằng nhiều hình thức khác nhau để trả cho ai cái thuộc về người ấy và giúp thiết lập hoà bình giữa các cá nhân và các dân tộc với nhau. Vì Công lý và Hoà bình, Đức Cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã làm hết sức để ngănchặn cuộc chiến tranh I-rắc và một linh mục Dòng Đa Minh người Úc đã lấy máu từ cánh tay mình bội lên cửa toà đại sứ Mỹ ở Sydney để phản đối Mỹ cất quân xâm chiếm I-rắc. Cha này là chủ nhiệm và chủ bút tờ Công lý và Hoà bình (Justice and Peace) của Tỉnh Dòng Úc. Trên tờ báo gửi đi các nơi, cha luôn luôn in hàng chữ Chúng tôi có anh em ở I-rắc. Những hành động này cũng như bao hành động khác không ngăn chặn được cuộc chiến, nhưng đã nói lên được tinh thần của Công lý và Hoà bình.

4. Mục đích của Công lý và Hoà bình

Công lý và Hoà bình nhằm phổ biến tư tưởng xã hội của Giáo hội qua việc giúp đỡ những người nghèo khổ, những người bị tước đoạt quyền sống, những người không có hay bị lấy mất đi tiếng nói, những người bị tù tội vì tranh đấu bất bạo động cho nhân quyền và dân chủ, những nạn nhân của kỳ thị và hận thù. Thường người công giáo hay ngại những công viêc này vì cho đó là làm chính trị. Đúng vậy. Nhưng đó là chính trị cần thiết, vì nếu không có thế thì Công lý sẽ chỉ mông lung ở đâu xa vời, trong khi Công lý và Hoà bình được lập ra là để bênh vực những con người ở trên mặt đất này. Đàng khác cũng phải hiểu chính trị theo hai nghĩa : chính trị để cầm quyền và chính trị để lo cho ích chung. Nếu chính trị để lo cho ích chung thì rất nên làm chính trị. Phải chăng vì vậy mà có từ cộng hoà dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp sang : Republic, République. Mà những tiếng này lại phát xuất từ tiếng la tinh : Res publica, những sự việc chung.

Kết luận

Trên đây là đôi điều suy nghĩ nhân việc HĐGM mới thành lập Uỷ ban Công lý và Hoà bình, và bài phỏng vấn ĐC Linh trên mạng cũng như lá thư mới đây của giáo dân Cồn Dấu gửi HĐGM và Uỷ Ban Công lý và Hoà Bình.

Ước mong rằng từ nay đã có Uỷ ban này thì những cảnh bất bằng nhan nhản khắp nơi và những tiếng kêu than của nạn nhân bị tước đoạt công lý sẽ được lắng nghe và tiếp cứu.

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.


Mạt cưa mướp đắng, đôi bên một phường

Tháng Mười 15, 2010

Lời tòa soạn:

Kể từ khi dấn thân cho tiếng nói của sự thật, của công lý, chúng tôi nhận được nhiều sự ủng hộ của bạn đọc, tác giả trong cũng như ngoài nước.

Ngoài những bài viết, bức thư tâm huyết với Giáo hội – Giáo hội của Sự thật, Công Lý, hiệp nhất… chứ không phải một Giáo hội chia rẽ, bịt miệng và bịt tai – thỉnh thoảng chúng tôi nhận được một số ý kiến trái chiều. Đa số những người chưa hiểu hoặc theo dõi thông tin không có hệ thống nên “sốc” trước những sự thật trong Giáo hội được bạch hóa. Đó cũng là lẽ thường với một Giáo hội Công giáo Việt Nam mà lòng kính trọng đáng quý với các mục tử đã ăn vào máu thịt qua một thời gian dài.

Theo cách Hồng Y Phạm Minh Mẫn thường nói: “Thói đời” thì khen thường thích, chê thường khó chịu… nhưng chấp nhận những ý kiến khác biệt là điều chúng tôi hướng tới. Chính vì vậy chúng tôi xem tất cả những ý kiến không đồng thuận đó là những nhắc nhở để tự răn mình, tự điều chỉnh mình đi theo những gì Thầy Chí Thánh Giê su đã dạy: “Ta là đường, là sự thật và là Sự sống”.

Chúng tôi hết sức trân trọng những ý kiến khen, chê đối với chúng tôi. Khi bạn đọc còn chê mình, là khi bạn đọc còn chú ý và muốn góp ý để mình tốt hơn.

Tuy nhiên, những ý kiến, bài viết cao ngạo… cố tình mạ lỵ vu khống và xuyên tạc, quy chụp vô căn cứ, với cách nói thể hiện rằng: “Tôi là…” “Tôi nói…” nói cách khác là coi mình là “Cha thiên hạ” thì chúng tôi thỉnh thoảng lắm mới nhận được.

Và đã nhận được, xin có đôi lời thưa lại vì chúng tôi không thể học được bài học “lên tiếng hay không lên tiếng để cuối cùng là không lên tiếng” của HĐGMVN.


Mới đây, chúng tôi nhận được bài viết của Nguyễn Thế Bài nhan đề: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh”.

Trong bài viết cũng thơ, cũng văn, cũng Nguyễn Du, cũng khoe mẽ, cũng bổn, cũng Kinh Thánh… đủ cả. Thậm chí còn trích cả tiếng tây, tiếng tàu… cho đủ sức lòe những người “không thuộc”. Chỉ có điều, đọc những bài viết đó với ngôn từ hợm hĩnh, nịnh bợ và điều đáng nói là một tư tưởng “nịnh đầm” không thể lạc vào đâu được.

Đọc bài viết này, người ta có cảm giác “Con ngựa già của Chúa Trịnh” mà nhà văn Phùng Cung miêu tả đang thể hiện mình ngay giữa thời nay.

Sự ngạo mạn của kẻ rởm đời

Xin lỗi, chúng tôi chưa biết rõ Nguyễn Thế Bài là ai, bao nhiêu tuổi để xưng cho “phải đạo” là ông, bác, chú, cháu, hay anh… Thôi, thì theo cách phổ thông nhất là gọi tên cho đơn giản.

Mở đầu, Nguyễn Thế Bài tặng ngay cho Website Nữ Vương Công Lý và nhóm những người Linh mục Đỗ Xuân Quế OP liên quan, cộng tác là “RUỒI XANH”.

Nguyễn Thế Bài đã lãnh nhận trách nhiệm “bất đắc dĩ” “là một giáo dân nhưng đã “lên tiếng nhiều lần” để “cảnh tỉnh” người khác…

Vậy Nguyễn Thế Bài là ai mà cao ngạo đến thế?

Hãy nghe ông ta tự giới thiệu: “Tôi thuộc kinh bổn không thua bất cứ người Công giáo Việt Nam nào (ngoài tất cả mọi kinh bổn địa phận Vinh, tôi thuộc gần hết mọi kinh bổn địa phận Qui Nhơn) và được học giáo lý, thần học khá đầy đủ, – đặc biệt là Thánh Mẫu Học…”

Kinh hoàng! Quả là đáng nể với một người “phong tư tài mạo tót vời” tài cao học rộng như thế.

Nhưng “thói đời” xưa nay, thùng rỗng thì kêu to, thuộc nhiều chưa chắc đã hiểu được mấy. Bao kẻ học hành bằng nọ, cấp kia đầy mình mà ngu vẫn hoàn… ngu. Hãy xem cán bộ cộng sản đấy, đầy ông Tiến sỹ, giáo sư… nhưng nói một câu chưa ra hồn, nói chi chỉ có… thuộc, thưa ông!

Nếu ông không tin, hãy đọc bài viết “Nỗi buồn sử học” của Hà Văn Thịnh mới đây do trang Văn hóa Nghệ an đăng hẳn hoi, trong đó nói rằng: “Cả nước có không dưới 500 Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Giáo sư lịch sử mà không xác định nổi ông nội của Vua Lý Công Uẩn là ai” thì hỏi bằng cấp đó để làm gì? Nhiều người đọc xong thì thở dài: “Cần gì phải đến thời Lý Công Uẩn cho nó xa xôi, ngay thời nay, đố ai xác định được rõ ràng ông nội Hồ Chí Minh là ai, ông nội Nông Đức Mạnh là ai đi đã, rồi hãy nói chuyện ngàn năm trước”.

Thế đấy ông Nguyễn Thế Bài ạ, tài cao, học rộng bằng cấp như vậy, mà vẫn chưa dám mở mồm. Vậy chỉ mới “thuộc” thôi thì ăn thua gì mà đòi đua trí tuệ? Có chăng đó chỉ là công việc của một… con vẹt.

Nguyễn Thế Bài “sững sốt” (từ này sai chính tả, nguyên văn của Nguyễn Thế Bài), khi thấy cụm từ “Nữ Vương Công Lý” chỉ vì trong vốn ngôn từ con vẹt học thuộc có chưa bao giờ nghe người ta nói đến từ đó, không nghe nên không thể hiểu nối nó là gì… thì cũng đúng thôi.

Trước hết, chúng tôi chẳng cần dài dòng cắt nghĩa cụm từ “Nữ Vương Công Lý” ở đây nó có nghĩa gì. Tên gì, danh gì, của ai… đối với chúng tôi chẳng có gì là quan trọng. Điều quan trọng hơn hết, là nói nói gì, nó làm gì, nó nói như thế nào, với ý thức nào, xây dựng hay phá hoại… và điều căn bản nhất là: Nó nói có đúng sự thật không? Có đi theo con đường Đức Giê su đã dạy: “sự thật sẽ giải thoát anh em” hay không? Đơn giản vậy thôi. Nếu nó đi ngược con đường sự thật, thì là nó chống phá, còn nó đi đúng con đường đó thì là con đường Chúa đã vạch ra.

Nhưng, riêng câu Nguyễn Thế Bài đưa ra “Mẹ là Trạng sư” cũng đủ cho thấy rằng Trạng sư không phải là người bào chữa cùn kiểu cộng sản, bất chấp sự thật như Nguyễn Thế Bài, mà Trạng sư ở đây, cũng bao hàm là Công Lý và đứng trên nền của Công Lý mới là Trạng sư đúng nghĩa.

Không biết ai dạy cho Nguyễn Thế Bài mà dám “phán” rằng: “TỪ NGỮ và Ý TƯỞNG ‘CÔNG LÝ’ trái nghịch với con người, bản tính, lòng khiêm hạ, lòng bao dung nhân từ vô biên của Mẹ”? Có phải Nguyễn Thế Bài muốn cắt nghĩa theo kiểu “Công lý là công lý từ Trời”, chứ không phải công lý ở trần gian như Hồng Y Mẫn cắt nghĩa khi thành lập Ủy Ban Công lý – Hòa Bình của HĐGMVN mới đây?

Xin thưa, muốn có hiền lành, khiêm hạ bao nhiêu đi nữa, nhưng đã là Trạng sư, thì phải đứng về phía Công Lý – Sự thật mới có giá trị, thưa ông. Đức Mẹ không phải là một vị Giám mục trong dàn đồng ca nào đó mà ông tôn thờ, để sẵn sàng bỏ qua sự thật, công lý đứng về phía bạo quyền chỉ vì là “của ông”.

Đọc hai câu Kiều Nguyễn Thế Bài nhắc đến ở đây, mới thấy thảm thương thay cho cái sự “thuộc” của một con vẹt và chắc không ai không khỏi bật cười:

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

Thưa ông Nguyễn Thế Bài, chúng tôi không có khả năng “thuộc” như ông, nhưng nếu không nhầm, thì trong Kiều không có khổ thơ nào có hai câu này đi với nhau. Truyện Kiều theo thể thơ Lục – Bát. Thơ lục bát không có hai câu nào sát nhau mà cùng 8 chữ, ông có hiểu không?  Thực chất cái “thuộc” của con vẹt đã phá nát Truyện Kiều.

Có thể cái “vẹt” của ông phá Kiều, cũng có thể cái gian của ông muốn “cắt xén” theo kiểu cộng sản Hà Nội đã ngấm vào máu ông, hoặc ông là đệ tử của “ngôn sứ không biết ăn nói” nhưng lại giỏi cắt xén chăng?

Thực ra, chừng đó hình như cũng đủ để hiểu về một người tự xưng mình ra “cho Thiên hạ biết”: Ta là Nguyễn Thế Bài.

Chúng tôi không muốn bàn sâu về Đức Mẹ, vì đâu dám “múa rìu qua mắt thợ” với những người đã “được học giáo lý, thần học khá đầy đủ, – đặc biệt là Thánh Mẫu Học” như Nguyễn Thế Bài “tự trào”. Nhưng không rõ ông học “đầy đủ” đến đâu mà “phán” rằng: Mụ nhà quê “MARIA không có kinh nghiệm làm mẹ, đơn giản là ‘vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34)”. Thì ông hơi bị… không nhầm thì lẩm cẩm chăng?

Chúng tôi chẳng biết Đức Trinh nữ có kinh nghiệm làm mẹ hay không? Nhưng riêng việc nuôi Chúa Giêsu 30 năm đến khi trưởng thành đi rao giảng cho Thiên hạ thì là gì? Nếu không có kinh nghiệm làm mẹ, chắc không nuôi được vài ngày, không chết đói thì cũng chết rét mà thôi. Vậy, đâu phải cứ biết “việc vợ chồng” như “mụ nhà quê” đẻ ra ông mới có kinh nghiệm làm mẹ? Bằng chứng là đến chừng này tuổi đầu, ông vẫn coi mẹ ông là “mụ nhà quê” một ngôn từ khinh thường như nói về một “mụ dì ghẻ” hay “mụ ăn mày” của những kẻ nhà quê ra tỉnh học làm sang?

Cũng có thể với ông, vì học hành đầy đủ quá nên mang hội chứng “gần chùa gọi Bụt bằng anh” như cha ông vẫn thường chửi mắng lũ con cháu mất dạy, nhờn lễ phép.

Cũng qua câu chuyện “hai mụ nhà quê” của ông, chúng tôi hiểu điều ông nói rất đúng rằng đây đúng là “đứa con phản trắc”“chỉ cần được cha mẹ giáo dục đức tin Công giáo tốt, chỉ cần người ta không để cho lòng kiêu căng (và thù hận) chế ngự”… thì không có một ai dám gọi Đức Maria và cả mẹ đẻ mình là “mụ nhà quê”, một đứa trẻ học mẫu giáo cũng không dám nói hỗn hào như thế.

Phản trắc và vu cáo

Nguyễn Thế Bài tự giới thiệu tài cao học rộng của mình và tiết lộ là “Cựu môn sinh của Linh mục Anđre Đỗ Xuân Quế”?.

Quả thật, hệ thống giáo dục Việt Nam đã suy đồi nghiêm trọng, điều đó không phải từ bây giờ mà ngay từ thời Nguyễn Thế Bài còn là học sinh. Nền giáo dục xưa nay vẫn dạy học sinh về “Công Cha, Nghĩa mẹ, ơn Thầy”. Nhưng với Nguyễn Thế Bài, mẹ là “mụ nhà quê”, thầy là “tên phản trắc” thì sản phẩm mang tên “Nguyễn Thế Bài” là gì? Chắc đến đây ai cũng hiểu.

Quả là đau cho Linh mục Đỗ Xuân Quế có đứa học trò được học mà “mất dạy” như thế. Nhưng sự đời là vậy, ngày nay học trò còn chém chết thầy ngay trên bục giảng, chuyện thường chứ có sao đâu.

Trong các bài viết của mình, Nguyễn Thế Bài nói về Nữ Vương Công Lý như sau: “gọi Giám Mục nầy là “thằng”, Giám Mục nọ là “ngợm”…. Đây là một sự vu cáo trắng trợn, trắng trợn đến mức chúng tôi không hiểu Nguyễn Thế Bài có ngượng không, khi mở miệng ra là Chúa, là Mẹ?

Chúng tôi thách Nguyễn Thế Bài và cả thầy tớ của ông ta, tìm trên Nữ Vương Công Lý bất cứ bài nào, lúc nào do Nữ Vương Công Lý xuất bản có những ngôn từ mất dạy như Nguyễn Thế Bài đã “nhổ” ra ở trên. Chúng tôi xin đánh cuộc rằng: nếu Nguyễn Thế Bài tìm được 1 từ chúng tôi ngay lập tức đóng cửa Nữ Vương Công Lý.

Phải chăng, Nguyễn Thế Bài đã nhầm lẫn chuyện trong gia đình mình với chuyện trên Nữ Vương Công Lý?

Nguyễn Thế Bài hãy trả lời đi. Sự vu cáo nào cũng bỉ ổi và thiếu nhân cách. Những người công chính đã từng chịu vu cáo nhiều, nhưng chính những kẻ mở mồm ra là vì Giáo hội, vì Chúa lại dám dựng đứng như vậy thì là gì?

Nguyên nhân

Ngoài những khả năng “hơn đời” Nguyễn Thế Bài tự giới thiệu, chúng tôi còn được biết Nguyễn Thế Bài là môn đệ trung tín của Đức GM Võ Đức Minh, trưởng “dàn Đồng ca áo tím” hiện nay. Hèn chi, đúng thật là:

Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa, mướp đắng, đôi bên một phường

Nguyễn Du đã nói cách đây mấy trăm năm đâu có sai.

Cũng chính Nguyễn Thế Bài, trong một bài viết trước đây đã dạy dỗ Giáo dân, linh mục Thái Hà rằng: “Hãy giã từ vũ khí trần tục, để mặc lấy áo giáp đức tin, đức cậy, đức mến trong Chúa Kitô” (sic) vì chính quyền cướp đất làm vườn hoa thì “phải theo lương tâm mà công nhận, đây là những nhượng bộ hết sức lớn lao của chính quyền các cấp” (sic). Nguyễn Thế Bài đã nhầm, đây đâu phải là chính quyền, nó là tà quyền lộ rõ.

Chỉ vậy thôi, đã hiểu rõ bụng dạ Nguyễn Thế Bài như thế nào, hèn chi từ nhỏ “mụ nhà quê” thường chửi ông ta là “ăn cơm Chúa,múa cho ma qủy!”. Đúng là không ai hiểu con bằng mẹ.

Những bài viết tràng giang đại hải khoe chữ, khoe kiến thức, dạy dỗ từ Linh mục, giáo dân của Nguyễn Thế Bài là gì? Thực chất là một thủ đoạn để bóp nghẹt ý chí giáo dân, thỏa hiệp với bạo quyền Cộng sản như một số Giám mục đang chủ trương. Chẳng hạn như Nguyễn Thế Bài nói về những buổi hiệp thông cầu nguyện rằng: “Trong bầu khí có hơn 8.500 lễ hội hàng năm trên cả đất nước Việt Nam nầy,chưa kể hàng ngàn,hàng chục ngàn những tổ chức của các tỉnh thành, cơ quan,ban nghành, với hoa đăng ngợp trời, thì một vài buổi canh thức cầu nguyện đối với nhà nước nầy thật nhỏ nhoi vô nghĩa”.

Đúng là đầu óc của những kẻ chỉ quen làm nô lệ, quen liếm gót dày cộng sản đến nịnh bợ những người được gọi là “mục tử” nhưng chẳng dám “mục” càng không dám ”tử” bao giờ. Nguyễn Thế Bài đã không biết rằng những ngọn lửa nhỏ nhoi đó thôi nhưng đã chiếu sáng cho cả thiên hạ biết bụng dạ xấu xa, độc ác, bạo tàn của nhà cầm quyền cộng sản thường được thực hiện trong bóng tối hoặc được che lấp bởi những “lễ hội hàng năm” “hoa đăng ngợp trời” làm nức lòng Nguyễn Thế Bài và những kẻ theo đóm ăn tàn bởi các lễ hội đó.

Nội dung, lời lẽ của bài viết cũng giả nhân, giả nghĩa đạo đức, cũng Chúa, cũng Mẹ, cũng Giáo hội… nhưng chứa đựng sự vu cáo và thể hiện não trạng khiếp nhược, sợ hãi bạo quyền Cộng sản vô thần.

Đọc những bài viết của Nguyễn Thế Bài, người ta liên tưởng đến bức thư dài 24.000 chữ trước đây mượn tên cậu bé Nguyễn Minh Trung nào đó? Từ giọng văn, câu chữ dài lê thê, kể lể… không khó để người ta nhận ra một mối liên hệ với cội nguồn từ Tòa Giám mục Nha Trang của Đức GM Võ Đức Minh.

Đến nay,người ta hiểu ra cái tổ con chuồn chuồn.

Càng nực cười hơn, ở cái thế kỷ 21 này, khi mà mạng lưới điện toán toàn cầu đã đến mọi ngõ ngách cuộc sống, nhưng Nguyễn Thế Bài vẫn cứ mang cái não trạng của thế kỷ 16 để dạy dỗ cộng đồng Dân Chúa đắm chìm sâu trong lý thuyết “Giáo sĩ trị” – một mô hình mà Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phalo II kịch liệt phản đối.

Thậm chí, Nguyễn Thế Bài còn giảng giải những điều tưởng như đứa trẻ con cũng biết: “Hãy nhớ cho các giám mục chính là các Tông Đồ”.

Có lẽ chưa ai nói điều khác đi hoặc ngược lại, vậy nhưng với đầu óc mù quáng, thỏa hiệp và run sợ trước bạo quyền, Nguyễn Thế Bài cố bám bằng được mớ lý thuyết mà “mụ nhà quê” – mẹ mình (Chữ dùng của Nguyễn Thế Bài) – đã dùng cái tát, dùng câu kinh sai đến trọn đời để dạy bảo cho, rằng đó là Thần học, là Giáo hội học đích thực.

Nguyễn Thế Bài chắc không biết rằng: Với 12 tông đồ của chính Đức Giê su chọn, vẫn có một Giuđa Ixcariot. Vì vậy, dù là Chúa chọn, thì vẫn là con người, nhất là trong chế độ cộng sản vô thần, vô luân và vô pháp này, thì bước chuyển từ người thành… quỷ chỉ là một bước ngắn, mỏng manh khi bàn tay lông lá của chủ nghĩa vô thần đã được góp phần nhào nặn lên các giám mục.

Và với những đòn bẩy, những mạng lưới giăng ra bằng các mưu mô cộng sản, nếu các vị không thật là những đấng chân tu, thì lắm khi:

Miếng ngon kề đến tận nơi,
Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham.

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Mới đây thôi, tại Ba Lan, Stanislaw Wielgus một “Tông Đồ của Chúa” hẳn hoi, nhưng đã phải từ chức ngay khi nhậm chức Tổng Giám mục vì đã hợp tác với mật vụ cộng sản để làm hại anh em mình. Hẳn rằng, nếu ở Ba Lan, Nguyễn Thế Bài cố sống cố chết bám bằng được gấu quần Stanislaw Wielgus để kêu gào rằng “Đây là Tông Đồ của Chúa”?. Còn nếu xưa hơn nữa, hẳn Nguyễn Thế Bài cố sức chạy theo Giuđa Ixcariot mà thờ lạy chăng?

Chúng tôi không hiểu do nhận thức, là công cụ, hay chỉ vì điều gì đó làm mờ ám lương tâm mà Nguyễn Thế Bài cố tình không nhận ra mối nguy của Giáo hội hiện nay. Phải chăng, “hai chiếc lá đa” kiêu căng, tự mãn đã che mất đường đi và cái nhìn thế giới của Nguyễn Thế Bài nên cứ lầm lũi đi như con ngựa Chúa Trịnh ngày nào?

Hay bởi vì, con ngựa của Chúa Trịnh này đã nghe tiếng nói: “Thôi bác ạ ! Đững khoe tài nữa, chúng em đây ngại bác không rời được khỏi cái xe của Chúa ! Rời ra thì thóc kia trộn mật ai ăn?”. Và một khi:

Đào tiên đã bén tay phàm
Thì vin cành quýt, cho cam sự đời.

Để rồi:

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường
Cứ lần theo bước đoạn trường mà đi.

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhiều người bảo chúng tôi rằng: Với những kẻ như Nguyễn Thế Bài, Lữ Giang… những tay cán bộ binh vận có hạng của cộng sản, thì như câu ngắm thương khó của Giáo phận Vinh: “Biết lòng nó độc thì nhịn mà chào nó” theo gương Chúa Giê su xưa.

Nhưng, cây muốn lặng, gió chẳng đừng, đành phải bắt chước Chúa Giêsu: “Bấy giờ Người giở mặt lại mà rằng: “Ở con thành Giêrusalem, chớ khóc thương Ta làm chi, một khóc thương bay; cùng con cháu bay ngày sau phải khốn mà chớ”

Còn chúng tôi, chúng tôi lấy nguyên lời Nguyễn Thế Bài đã nói: “trước hiện tình Giáo Hội Việt Nam” và AI là người phải làm, để tự tay thắp lên ít là một đốm lửa”.

Một đốm lửa rất cần, Nguyễn Thế Bài ạ.

Nhưng là đốm lửa của Sự thật – Công Lý để giải thoát Giáo hội ra khỏi Chủ nghĩa Vô thần, chứ nhất định không phải là những đốm lửa ma trơi leo lét, đêm đêm chỉ rình nhát thiên hạ trên nghĩa địa hoang vu.

Ngày 15/10/2010

Nữ Vương Công Lý

Bài viết của Nguyễn Thế Bài: ĐẦY NHÀ VANG TIẾNG RUỒI XANH

LỜI NGỎ

Mục đích của bài viết nầy là để CHUẨN BỊ trả lời “CÂU HỎI” của linh mục Dòng Đa-Minh Anrê Đỗ-Xuân-Quế trong bài :” Trước hiện tình Giáo hội tại Việt Nam, nên nghĩ gì và làm gì?”. Sở dĩ phải chuẩn bị, là vì sự kính trọng hãy còn đối với một linh mục đã từng là “tôn sư” của tôi – Giuse Nguyễn-Thế-Bài – và vì bài viết của Ngài có liên kết với website “NVCL” và nhóm những người mà tôi chỉ có thể mượn hình ảnh trong câu Kiều của Cụ Nguyễn-Du để định nghĩa và xếp loại: RUỒI XANH (Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh). Phải phân định rạch ròi”chiến tuyến”, vì không thể lẫn lộn giữa PHÊRÔ (nhẹ dạ,nhát đảm mà chối Thầy) và GIU-ĐA Iscariôt (phản bội,bán Thầy,vì những mưu đồ đen tối. Sách ngắm Thương Khó địa phận Vinh nói về Giu-đa : “Là đầy tớ Đức Chúa Giêsu, đã nuôi nó nhiều năm,dạy dỗ những sự hiền lành. Ma qủy dục lòng nó bán Đức Chúa Giêsu cho quân Giu-dêu ba mươi đồng bạc”) .


Như đã ngỏ lời trong bài “ĐỌC THƯ HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM GỬI CỘNG ĐỒNG  DÂN CHÚA”, thật hết sức bất đắc dĩ mà một giáo dân phải nhiều lần lên tiếng cảnh tỉnh những cá nhân và nhóm người luôn tìm mọi cách để phá hoại Giáo Hội Việt Nam. Trước hết, theo những gì mà ai cũng có thể nhận ra, các cá nhân và nhóm người nầy có thể nói là hết thuốc chữa : họ muốn là rượu mới,nhưng lòng thù hận, sự chua chát và nhất là kiêu căng, đã khiến suy nghĩ,lời nói,hành động của họ thành dấm chua (do rượu bị hư) và sẵn sàng làm mốc chua,hư hỏng những gì chất dấm của họ lại gần,chạm vào,tưới lên. NVCL (vẫn phải dùng tên nầy, dù nó sai lạc và bôi bác chính Đức Trinh Nữ Maria, nếu từ ngữ “nữ vương” của họ muốn chỉ Đức Maria) và những tác giả của họ chẳng có ý tưởng hay ngôn từ gì mới lạ, mà chỉ xào đi nấu lại những bài viết cũ rích. Song đó lại nằm trong chiến thuật tuyên truyền “mưa dầm thấm sâu” (và lâu) : lập đi lập lại nhiều lần, sẽ đi vào tâm thức của người đọc (hoặc người nghe). Kế đến, những cá nhân và nhóm người nầy không đáng để được ‘đối thoại” hoặc “trả lời”. Nhưng vì lợi ích của những người vốn không nắm bắt cụ thể những vấn đề, sự kiện, có thể bị lay động, nghi ngờ và mất đức tin, – những điều mà các cá nhân và nhóm nầy , đúng hơn là “Tôn Sư Satan” của họ, hằng chờ đợi, – buộc chúng tôi phải  bất đắc dĩ ”vạch áo cho người xem lưng”.

Họ – những cá nhân và nhóm người nầy – chỉ có thể định nghĩa đúng với câu của đại thi hào Nguyễn-Du trong Truyện Kiều :” ĐẦY NHÀ VANG TIẾNG RUỒI XANH”, khi mô tả tai hoạ ập tới với gia đình Thúy Kiều do những tên tiểu nhân đắc ý:

Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.

…….

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,

Cụ Nguyễn Du gọi loại sai nha này là ruồi xanh: Đó là thằng bán tơ và bạn của nó ,mà ông họ Vương cho ở lại giúp việc. Ông không biết bọn này đã từng làm ăn cướp. Chính viên ngoại, cha của Thúy Kiều, cũng đã từng ngồi uống rượu với thằng bán tơ, tưởng nó là người lương thiện. Cảnh sát tìm ra bọn cướp và họ khai cho gia đình Kiều. Bây giờ sai nha lấy cớ đi bắt người để vào ăn cướp nhà Vương viên ngoại. Đúng là nuôi ong tay áo. Với hạng người nầy, vô ơn bội bạc,phản trắc, vốn nằm trong máu thịt, từ kiêu căng,từ giáo dục gia đình. Những con ruồi xanh – còn gọi là “lằng” hoặc “nhằng” – ngoài việc mang vi trùng, còn rất ồn ào và gây khó chịu cho những ai cần sự an bình,yên tĩnh. Chỉ cần một con ruồi xanh,thì đã khiến không gian ngôi nhà tĩnh lặng trở nên khó chịu,vì tiếng ruồi. Nó khiến nhiều người có thể mất bình tĩnh, từ chỗ ghê tởm nó, đến chỗ sợ hãi. Khác với các giống ruồi khác, nó rất tráo trở và nhanh nhẹn,không dễ gì hạ gục. Các nhà vi trùng học đã đếm được trung bình mỗi con ruồi mang tới 3.680.000 con vi trùng! Ruồi xanh thường tự do bay lui tới hai nơi: Nhà cửa, nhất là nơi có thức ăn của người cũng như gia súc để kiếm ăn và nơi có chất phế thải (phân, rác) của người và gia súc vốn chứa đủ thứ mầm bệnh để kiếm thức ăn và đẻ trứng.

NHẬN DIỆN

Thực ra tôi chỉ muốn ghi lại những gì đã từng nói lên trong các bài viết thời gian qua, với mục đích nhắc nhở bản thân và đề nghị với mọi tín hữu Công giáo, đặc biệt là tín hữu Công giáo, phải luôn nhớ lại với lòng biết ơn những gì chúng ta nhận được từ giáo dục đức tin trong gia đình, để từ đó luôn nhắc mình rằng: “ma qủy như sư tử hằng gầm thét,lượn quanh để tìm mồi cắn xé” (I Pr 5,8).

1. “NỮ VƯƠNG CÔNG LÝ”: VÔ Ý HAY CỐ TÌNH HIỂU SAI VÀ LÀM Ô UẾ HÌNH ẢNH MẸ MARIA?

Tôi thuộc kinh bổn không thua bất cứ người Công giáo Việt Nam nào (ngoài tất cả mọi kinh bổn địa phận Vinh, tôi thuộc gần hết mọi kinh bổn địa phận Qui Nhơn) và được học giáo lý,thần học khá đầy đủ, – đặc biệt là Thánh Mẫu Học, mà người có chuyên môn cao nhất Việt nam hiện nay có lẽ là Cha Phi Khanh Vương Đình Khởi, OFM – NHƯNG trước đây tôi chưa hề nghe tới Nữ Vương CÔNG LÝ. Trong 50 tước hiệu kinh cầu Đức Bà nêu ra, không hề có cái gì gọi là “Đức Mẹ Công Lý”; “Đức Bà Công Lý”; “Đức Nữ Công Lý’; “Nữ Vương Công Lý”, bởi vì đơn giản TỪ NGỮ và Ý TƯỞNG ‘CÔNG LÝ’ trái nghịch với con người,bản tính, lòng khiêm hạ, lòng bao dung nhân từ vô biên của Mẹ. Đem cụm từ CÔNG LÝ để gán cho Mẹ Maria, thì quả thật là ý tưởng quái đản,xúc phạm nặng nề tới Đức Trinh Nữ. Hay là Quý Vị có khi chợt câu hát  “Mẹ ơi, Mẹ là trạng sư chúng con “ (Advocata nostra) [ trong bài Salve Regina] mà lầm vai trò QUAN TOÀ (Vì Người ngự đến xét xử trần gian, Người xét xử địa cầu theo đường công chính,xét xử muôn dân theo lẽ công bình. TV 97,12 – 13) và TRẠNG SƯ ( biện hộ cho bị cáo)? Trong Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của DCCT, câu 32, có viết : KHI ĐỨNG TRƯỚC TOÀ CHÚA GIÊSU LÀ QUAN XÉT CON, xin giúp đỡ con.

[…]

Tôi rất sững sốt khi thấy xuất hiện trong ngày xét xử các giáo dân Thái Hà, những ‘panô’ ghi NỮ VƯƠNG CÔNG LÝ. Tôi nghĩ mình hoa mắt. Lẽ nào những người cả đời tôn sùng MẸ HẰNG CỨU GIÚP như các linh mục DCCT mà lại đi “phong” cho Người Mẹ các Vị vẫn ngưỡng mộ,kính mến một “tước hiệu” mới sặc mùi sắt đá, sát phạt như thế ! Thôi,chết rồi : các Vị muốn có công lý, nên đã vô tình (mong là ‘vô tình’!) khoác cho Đức Maria bộ mặt của Nữ Thần Dike,NỮ THẦN CÔNG LÝ.

[…]

VÀ CŨNG TỪ (sau) ĐÓ, KHAI SINH CÁI TRANG WEB ‘NỮ VƯƠNG CÔNG LÝ” : danh nghĩa là NỮ VƯƠNG (tức là Hoàng hậu, Mẹ Vua) nhưng hành động là của MỘT BÀ THẨM PHÁN TỐI CAO LẠNH LÙNG, không  hề “chạnh lòng thương” (khẩu hiệu giám mục của Đức nguyên TGM Giuse Ngô-Quang-Kiệt). DANH không CHÍNH, thì NGÔN làm sao THUẬN? Ngay cái tên, hoặc chưa hiểu, hoặc cố tình lấy Đức Mẹ Chúa Trời “hiền đức” ra dán nhãn “ác đức”, để lừa bịp con cái Mẹ, vẫn theo cách làm dùng Đức nguyên TGM Giuse làm ‘quân cờ” để bôi nhọ,phỉ báng các Chủ Chăn Giáo Hội Việt Nam.

2. HIỂU THẾ NÀO KHI TUYÊN XƯNG GIÁO HỘI TÔNG TRUYỀN?

2.1. HAI MỤ NHÀ QUÊ

1)Người phụ nữ đầu tiên có ảnh hưởng lớn trong đời sống của mỗi người và của toàn nhân loại, là một mụ nhà quê thuộc một chi tộc sa sút, ở một làng nghèo,trong một vùng nghèo,ở một đất nước nghèo và đang bị đô hộ . Nghèo, ít học như nữ giới người Do Thái, MARIA không có kinh nghiệm làm mẹ, đơn giản là ‘vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Nhưng Mẹ có một điều vượt trên mọi hiểu biết cao siêu thông thái nhất mọi thời, ấy là “Mẹ lắng nghe Lời Chúa,suy niệm trong lòng và đem ra thực hành”. Vì thế, Đức Maria hiểu biết giá trị của lắng nghe và vâng theo Ý Chúa. Bài học LẮNG NGHE và VÂNG PHỤC ấy, người giáo lý viên đầu tiên – đầu tiên của Giáo Hội Tân Ước và đầu tiên của Chúa Giêsu – đã sống và dạy lại cho Chúa Giêsu. Người học trò phản ảnh lời dạy dỗ và gương sống của thầy dạy. Chúa Giêsu phản ảnh cuộc đời và lời dạy dỗ của Mẹ Người. Giá trị của “con người đức tin “ – man of faith – hoàn toàn không hệ tại số lượng hay chất lượng những công trình,công việc được thực hiện. Chúng chỉ giúp con người nên hoàn thiện hơn, thuận lợi hơn cho đời sống thực hành đức tin. Cái làm nên giá trị,chính là SỰ VÂNG PHỤC. Trong vâng phục, luôn có sự hy sinh,đòi hỏi từ bỏ một phần hoặc tất cả ý riêng mình.Trong gửi thư cho Đức giám mục Helder Camara, Mẹ Têrêxa Calcutta viết: “Điều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện, mà là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc”. Đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn văn Thuận trong “Đường Hy Vọng” đã viết: “Nếu khiết tịnh là chết cho nhục dục, thì vâng phục là chết cho ý riêng”.]

2).  […] Có một điều mà bọn trẻ chúng tôi, trong nhà cũng như trong họ đạo và trong giáo xứ, đều ‘nếm trải” giống hệt nhau,không chỉ một lần,mà nhiều lần. Đó là những cái tát má thật nghiêm khắc của các bà mẹ chúng tôi,không phải khi chúng tôi chửi lộn,đánh nhau,mà là khi ‘lỡ miệng’ nói bất cứ điều gì phạm đến các Đấng Bậc. Các bà mẹ của chúng tôi, những mụ nhà quê chữ nhất bẻ đôi không biết, nhưng lòng yêu mến và trung thành với Giáo Hội thì ngút ngàn kiên vững. Lý lẽ, cãi lại,thì chỉ tổ…ăn tát! Đã không thể nào có được dòng máu tử vì đạo của hơn 130.000 Kitô hữu anh dũng chết vì làm chứng đức tin vào Chúa Kitô, nếu đã không có những cái tát toé đom đóm nhắc nhở phải vâng lời,kính trọng Các Đấng bậc trong Hội Thánh. Mụ nhà quê mẹ tôi cho đến khi từ trần, sửa mãi mà vẫn cứ đọc sai kinh Trông Cậy, cứ một hai “xin Chúa chê, Chúa bỏ lời chúng con nguyện”, nhưng cả đời chưa hề có ai có thể bắt bí cuộc sống ‘giữ đạo”, bác ái, ngay thẳng, trong sạch và…nghèo. Tôi tin vững vàng rằng chính những lời dạy dỗ và những “hành vi” nhắc nhớ ấy, mà hôm nay sắp bước vào lục tuần, chúng tôi vẫn luôn vui mừng và hãnh diện tuyên xưng : GIÁO HỘI DUY NHẤT – THÁNH THIỆN – CÔNG GIÁO – TÔNG TRUYỀN, một Giáo Hội không trừu tượng như trong tâm trí và hành xử của Các Vị,những giáo sư,tiến sĩ, nhà trí thức, mà được hiện thân cụ thể nơi mỗi người thuộc hàng giáo dân và hàng giáo sĩ : linh mục, – các bà mẹ giáo lý viên đầu đời và các mụ nhà quê mẹ chúng tôi dạy – chia sẻ chức linh mục trọn vẹn của giám mục và giám mục kế vị các tông đồ.

=>THẤN HỌC CỦA HAI MỤ NHÀ QUÊ NẦY,MỚI LÀ THẦN HỌC,GIÁO HỘI HỌC ĐÍCH THỰC!

2.2. GIÁM MỤC LÀ AI?

Ai cũng biết rõ : tông đồ do Chúa Giêsu chọn, hiệp thông với đại diện Chúa Kitô ở trần gian là Thánh Phêrô và các giáo hoàng kế vị Người. Tông truyền là như thế. Tính chất thánh thiện và công giáo không thể có,nếu Giáo Hội không duy nhất và tông truyền. Và ngược lại. Không biết khi tới tấp tấn công các giám mục,hồng y, các giáo sư,tiến sĩ,trí thức có hiểu biết căn bản về những gì,những người mà các Vị đang nhắm tới chăng? Và những trí thức,những linh mục tiếp tay tung ra những bài viết, hoặc giúp phổ biến, phát tán những nọc độc ấy, có khi nào tự vấn xem động cơ nào đã dẫn họ đi quá xa,lạc bến bờ như thế? Trong suy nghĩ và hành động của họ, có được phần náo YÊU THƯƠNG – AN BÌNH – HIỆP NHẤT và sẽ đem đến cho người đọc những điều nầy chăng? Họ sẽ trả lẽ thế nào trước mặt Chúa về những xúc phạm,phỉ báng, vu cáo đối với các giám mục? Các Vị cho rằng sau những việc làm nầy, chỉ cần ghé vào một toà giải tội nào đó, là mọi sự sẽ đâu vào đấy và an bình tâm hồn sẽ trở lại với các vị, ư? Con heo bị dịch bệnh tai xanh, con gà con qué bị dịch bệnh, còn được bồi thường,rồi mới đem chôn bỏ, các Vị coi danh dự,phẩm giá của một con người,của một giám mục rẻ rúng vậy ư? Tôi đồ rằng : nếu những người các Vị tấn công là chức sắc cao cấp đạo Hồi, thì các Vị hoặc liều mạng hoặc dũng cảm phi thường, nhất là với những ngôn từ “hàng tôm hàng cá” rất ư ti tiện của các Vị.

XIN HÃY NHỚ MỘT LẦN CHO TẤT CẢ : CÁC GIÁM MỤC CHÍNH LÀ CÁC TÔNG ĐỒ!

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là Tông Đồ Đoàn Giáo Hội Việt Nam!

LỜI KẾT

Với những gì ghi lại trên đây, tôi muốn khẳng định rằng:

+ Tôi không làm công việc hộ giáo, vì ngoài khả năng của tôi,so với những người đa tài và tiếng tăm như linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Chân Tín,linh mục Dòng Phanxicô Nguyễn-Ngọc-Tỉnh hay linh mục Dòng Đa Minh Đỗ Xuân Quế. Các linh mục nầy ăn nhiều cơm Nhà Chúa, học được nhiều ”chữ” Nhà Chúa, nhưng lại cống hiến toàn thời giờ,sức khoẻ,tài năng nhận được từ Chúa và Giáo Hội, để quay lại chống đối và phá hoại Giáo Hội của Chúa : LUÔN NHÂN DANH CHÚA! Mẹ già quá cố của tôi gọi đó là : “ăn cơm Chúa,múa cho ma qủy!”. Cái gì cho phép tôi khẳng định những việc làm của các linh mục nầy (cũng như của các tác giả  “NVCL”) là do Satan, ư? – LÒNG KIÊU NGẠO! Kiêu ngạo là “đặc sản” độc quyền của Satan và hoả ngục! Thiên Đàng chỉ có KHIÊM HẠ – VÂNG PHỤC!

+ Tôi chỉ nói lên tâm tình và bổn phận phải có đối với Mẹ Hội Thánh. Vừa vui mừng cảm tạ,vừa lo âu.

Vui mừng cảm tạ,vì trong hơn 4.000 linh mục (triều và dòng), chỉ rất ít những đầu óc lệch lạc, “đem ngọc vứt cho heo”(x. Mt 7,6), “chúng giày đạp dưới chân,rồi còn quay lại cắn xé anh em” (cit.). Chỉ cần một chút lương tri, chỉ cần một chút lương tâm Công giáo, chỉ cần mợt chút lương tâm con người, chỉ cần được cha mẹ giáo dục đức tin Công giáo tốt, chỉ cần người ta không để cho lòng kiêu căng (và thù hận) chế ngự, thì sẽ biết phải làm gì “trước hiện tình Giáo Hội Việt Nam” và AI là người phải làm, để tự tay thắp lên ít là một đốm lửa,thay vì ngồi nghĩ ra đủ trò ma quái và ma qủy,lập lờ đánh lận con đen, suy đoán,khích bác, vu khống,mạ lỵ.( Thích thật : nói đả cái miệng,mà chẳng ai [dám] làm gì ta! Vui ghê khi đọc thấy những người gọi Giám Mục nầy là “thằng”, Giám Mục nọ là “ngợm”. Đáng đời!).

Nhưng thật lo âu, vì “sẽ có thời người ta không nghe Đạo lành, nhưng theo những dục vọng của mình, mà kiếm hết thầy nầy đến thầy khác,bởi ngứa tai muốn nghe” (II Tm 4,3). Những đứa con phản trắc nầy biết triệt để khai thác những điểm yếu nơi con người. Họ đã thành công, với sự trợ giúp của Satan và những thế lực vô thần xấu xa.

“SỰ THẬT SẼ GIẢI PHÓNG CÁC CON”(Ga 8,31).

Với lòng tin vững vàng Giáo Hội DUY NHẤT – THÁNH THIỆN – CÔNG GIÁO – TÔNG TRUYỀN

“Và cửa hoả ngục sẽ không thắng được” (Mt 16,18),

Tôi sẽ xin thưa chuyện với linh mục Dòng Đa Minh Anrê Đỗ Xuân Quế và “trả lời” các giải đáp thắc mắc đã được linh mục cài bẫy và trả lời!

Nhatrang,ngày 15.10.2010

Giuse Nguyễn-Thế-Bài

Giáo dân

(cựu môn sinh của linh mục Anrê Quế)