Tín hiệu lạc quan cho Giáo Hội CG Việt Nam?

Tháng Mười 28, 2010

Người viết mắc nợ quý độc giả một bài viết đã hứa nhân lúc đưa lên câu chuyện về một người đàn bà nổi loạn có tên Jeanne Miller.

Dự định của người viết là đề cập tới bài trả lời phỏng vấn gần đây của Đức Cha Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch HĐGMVN. Nhưng khi nghe băng ghi âm Cha Chân Tín nhận định về nội dung bài trả lời của Đức Cha Linh, mới nhận ra rằng cái nhìn và suy nghĩ của mình còn non lắm, phiến diện lắm – trẻ con nữa là khác, nên xin rút lại lời hứa.

Hơn nữa, sự ra đời và những bước đầu của Ủy ban Công Lý & Hòa Bình (trực thuộc HĐGMVN) do Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, Giáo phận Vinh, phụ trách cũng là tiền đề để tôi có cái nhìn lạc quan hơn.

Thật ra, trong mọi vấn đề, mỗi người có cái nhìn riêng, những suy tư, cảm nghĩ riêng và cả suy đoán riêng, tuy có thể có cùng một ước vọng, một hoài bão tương tự nhau. Cùng một sự việc, có người thì nhìn bằng cặp mắt bi quan, thất vọng; có người thì có thái độ hoài nghi hoặc với toàn bộ vấn đề hay trong một vài khía cạnh nào đó. Song cũng không ít người bày tỏ lạc quan tin tưởng và hy vọng.

Đọc Văn thư của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch UBCL&HB, gửi ông Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, dĩ nhiên mỗi người đọc có mỗi cảm nhận riêng. Phần người viết bài này cảm thấy tâm hồn lâng lâng niềm vui và nghĩ ngay tới bài ca ngợi Magnificat: “Lòng trí tôi mừng vui vời vợi… Đấng toàn năng [đang] làm… những điều trọng đại!” Điều trọng đại… cho Giáo Hội Việt Nam hôm nay nhờ sự dẫn dắt và tác động nhiệm mầu của Chúa Thánh Thần!

Phải chăng cùng với sự ra đời của UBCL&HB, văn thư của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp đang gửi đi một tín hiệu lạc quan về Giáo Hội CG tại Việt Nam?

Đức Cha Nguyễn Thái Hợp còn ký tên vào thỉnh nguyện thư yêu cầu nhà cầm quyền CSVN ngừng dự án khai thác bauxite miền Cao Nguyên Trung phần Việt Nam.

Đức Cha làm hai công việc trên không với tư cách là nhà trí thức cũng không nhân danh là Giám mục Giáo phận Vinh, mà nhân danh CHỦ TỊCH UBCL&HB của HĐGMVN. Danh chính ngôn thuận!

Quả vậy, dù là một trí thức nổi danh trong nước, Đức Cha Hợp vẫn có thể phân vân không biết mình có nên lên tiếng hay không lên tiếng với vụ bauxite trong tư cách nhân sĩ trí thức. HĐGMVN đã từng đắn đo về sự “lên tiếng hay không lên tiếng” thì Đức Cha Hợp sao có thể qua mặt. Nhưng bây giờ trong trách nhiệm mới của mình, Đức Cha không thể dửng dưng trước nỗi đau của người dân mất quyền sống trong Tự Do và Công Lý.

HĐGMVN đã mất trọn 30 năm dài (1980-2010) mới “tìm kiếm được nhân sự” thích nghi và đáng tin tưởng để trao phó trách vụ Chủ tịch UB Công Lý và Hòa Bình. Thái độ “thận trọng” của HĐGMVN chứng tỏ Ủy ban CL&HB quan trọng biết chừng nào!

Sự xuất hiện của Đức Cha Hợp trong HĐGMVN tạo nên bước ngoặt lịch sử cho Giáo Hội CGVN. Ngài là vị ngôn sứ xứng đáng cứu hàng Giáo phẩm Việt Nam ra khỏi bóng đêm của sự bế tắc cơ cấu kéo dài hơn một phần tư thế kỷ! Bởi vì theo cách giải thích của Đức Cha Phó HĐGMVN, thì lâu nay, dù các tín hữu khát vọng và kêu gào mấy đi nữa, HĐGMVN cũng chẳng thể nào dựng nên được Ủy ban CL&HB “chỉ vì” thiếu nhân sự. Nhân sự bây mới có! Nhân sự ấy chính là Đức Cha Nguyễn Thái Hợp! Vì vậy ngài và UBCL&HB do ngài nắm giữ là hiện tượng đáng trân quý, hiện tượng mà Cộng đồng dân Chúa khắp nơi trên đất nước Việt Nam hằng thao thức và thấp thỏm chờ mong! Tất nhiên, trong nỗi khát vọng ấy, người ta không thể không liên tưởng tới bàn tay lông lá của Đảng và Nhà nước CSVN.

Nhớ lại cái biến cố đổi tên đường ở thành phố Sài Gòn vào thời điểm sau Tháng Tư 1975, hai tên đường Công Lý và Tự Do giữa thành đô Hòn Ngọc Viễn Thông bỗng biến mất. Thực ra hai tên đường ấy chỉ là hai tên gọi vô thưởng vô phạt, chẳng dính dấp dây mơ rễ má gì với bất cứ chế độ hay đảng phái chính trị nào! Chẳng Mỹ-Diệm! Chẳng Mỹ-Thiệu! Cũng chẳng ngụy quân, ngụy quyền gì sốt! Thế mà chúng nó, hai tên đường ấy – Công Lý và Tự Do, bị bức tử ngay sau khi Sài Gòn rơi vào tay kẻ cướp mượn danh “giải phóng”! Công Lý và Tự Do bị hạ sát tất tưởi bởi hai cuộc “đại khởi nghĩa” ghê gớm mang tên “Đồng Khởi” và “Nam Kỳ Khởi Nghĩa!” Cái chết của “Công Lý” và “Tự Do” hằn sâu vết thương trong lòng người dân Việt Nam được diễn tả qua hai câu ca dao thời sự đầy đau xót sau đây:

“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý

Đồng Khởi vùng lên diệt Tự Do”

Về “Tự do” CSVN tự mâu thuẫn với mình! Bóp chết nó ở nơi này, nhưng lại vẽ hình phóng đại nó ở nơi khác. Trong khi trên các giấy tờ văn kiện chính thức, CSVN buộc phải ghi từ ngữ “Tự Do” trong chùm từ Độc lập – Tự do- Hạnh phúc, nhưng chính bản thân người CS thì lại dị ứng nặng với TỰ DO khi nghe nó được thốt ra từ miệng người dân.

Riêng phạm trù “Công Lý” có vẻ gây mẫn cảm trầm trọng hơn cho CSVN. Họ sợ “Công lý” đến độ chẳng những không dám cho nó xuất hiện trên truyền thông do họ kiểm soát, mà còn tìm cách xóa tẩy nó khỏi những trang sách báo tôn giáo.

Thử mở xem quyển Giáo lý Giáo Hội Công Giáo năm 1997 do Nhà Xuất Bản TP HCM, chúng ta sẽ thấy nhan nhản những chỗ bị kiểm duyệt đục bỏ vì đề cập đến Công lý, Công bằng xã hội. Cụ thể như Giáo lý HTCG số 1903 có câu sau đây: “Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, lương tâm không buộc phải tuân theo. Trong trường hợp này, quyền bính không còn là quyền bính nữa mà thoái hóa thành áp bức.”

Câu giáo lý trên cùng nhiều câu khác bị bôi trắng trong ấn bản 1997! (Nhiều người không chịu thua, đã in lại trên giấy những câu bị loại và cắt nó dán lên trên chính nơi bị xóa). Việc xâm phạm đến nội dung tác phẩm tôn giáo là một hành động xúc phạm nặng nề tới tôn giáo, một sự vi phạm trắng trợn và thô bạo đến quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận; như vậy đủ chứng minh CS “vô thần” bị “thần” Công Lý ám ảnh đến nỗi làm cho họ phát run và sợ hãi đến ngần nào!

Do đó, khỏi cần tìm hiểu xem Đảng và Nhà nước CSVN có đóng góp gì không vào sự vắng bóng UB Công Lý & Hòa Bình suốt 30 năm qua (1980-2010) tại Việt Nam, chưa kể 5 năm trước đó (1975-1980) GHCGVN không được phép có một Hội đồng Giám mục, tất nhiên cũng không được phép lập ra ban bệ gì!

Nay đã đến lúc CSVN mất dần khả năng khống chế tinh thần quật khởi của người dân, giảm đi quyền lực trấn áp người dân đang như nước thủy triều cuồn cuộn dâng lên đòi Công lý! UBCL&HB ra đời trong bối cảnh này thật là đúng lúc dù có chút muộn màng! Văn thư của Đức Cha Chủ tịch Ủy ban gửi cho UBND Thành phố Đà Nẵng xuất hiện càng đúng lúc hơn!

Nội dung Văn thư chứa đựng nhiều điều đáp ứng phần nào mong mỏi của mọi thành phần tín hữu Công giáo Việt Nam. Văn thư đặt ra trước công luận 4 vấn đề và nêu lên 3 câu hỏi cho Nhà cầm quyền CSVN (Xin đọc bản văn chính thức của văn thư).

Đặc biệt, văn thư ấy dường như có ý trấn an người Công giáo Việt Nam rằng UBCL&HB đang có mặt và hành động đây! UB không phải là một thứ tổ chức hữu danh vô thực. Nó đang đấu tranh cho Công bằng xã hội như mọi người từng khắc khoải trông chờ!

Thứ hai, Văn thư của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp trả lời rõ ràng và đầy đủ việc Giáo Hội CGVN phải “lên tiếng hay không lên tiếng.”

Thư ba, Văn thư đẩy lùi tinh thần chủ bại của ai đó đứng trên cương vị lãnh đạo cao cấp trong Giáo Hội mà lại bảo rằng “chúng con không biết ăn nói!”

Thứ tư, Văn thư là lời giải thích đầy xác tín thế nào là Công Lý, đối lập hẳn với những biện luận vòng vo về Công lý hay dùng danh nghĩa Yêu thương, Bác ái mà ngụy biện làm lệch hướng đi của Công lý, dập tắt ngọn lửa đấu tranh cho Công Lý tại Việt Nam.

Thứ năm, Văn thư tuy chỉ nhắm vào UBND Thành phố Đà Nẵng về các hành động tàn ác vi phạm công bằng xã hội và gây đau thương (chết chóc, tù đày, trốn chạy…) cho giáo dân Cồn Dầu (thuộc cả TP Đà Nẵng lẫn Gp Đà Nẵng). Nhưng không biết nó có làm cho Giám mục Châu Ngọc Tri “giật mình” không? Tội nghiệp! Còn gì nữa thể thống, danh dự và tư cách Chủ chăn của một Bản quyền địa phương trung thành với chủ trương “tốt đời đẹp đạo” và nặng lòng với “công ích” kiểu xã hội chủ nghĩa, bây giờ bị Công lý và Hoà bình của Đức Cha Hợp dạy dỗ?

Riêng về hiệu quả của Văn thư, có lẽ còn phải chờ xem phía bên nhà cầm quyền CSVN có chịu hồi đáp 3 yêu cầu mà Đức Cha Chủ tịch UBCL&HB nêu ra hay không? Hồi đáp như thế nào? Họ sẽ nói gì hay sẽ làm gì cho vấn đề Công bằng xã hội và luật pháp mà Đức Cha Nguyễn Thái Hợp đã đặt ra?

CSVN sẽ thay đổi thái độ của họ đối với dân oan Cồn Dầu, dân oan cả nước và với quyển sở hữu đất đai? Hay là sẽ có một cuộc “đối thoại” mang tính hù dọa hay mơn trớn đối với Đức Cha Hợp để Đức Cha liệu mà “tùy nghi” xử trí? Bản lĩnh của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp sẽ tỏ rõ trong sự thách thức này! Tin chắc ngài sẽ không có những bước lùi giống như một vài vị trước đây, khiến cho mọi sự cứ rơi vào vòng lẩn quẩn và cuối cùng trở về với số không, hoặc số âm!

Phần chúng ta hãy cùng nhau cầu xin Chúa Thánh Thần luôn ở bên cạnh Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, xin Người luôn gìn giữ và dẫn dắt Đức Cha vững bước trên đường Công lý. Để cho Công Lý và Hòa Bình vẫn mãi mãi là TIẾNG NÓI CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÓ TIẾNG NÓI đang cần được CÔNG LÝ che chở hầu được sống AN BÌNH và HẠNH PHÚC.

Người viết chỉ xin có một kiến nghị đơn mọn kính dâng lên Đức Cha Chủ tịch Ủy ban Công Lý và Hòa Bình:

Khẩn thiết xin Đức Cha chọn Đức Mẹ Maria, Nữ Vương Công Lý, làm Quan Thầy của Ủy ban. Và mong Đấng Bầu cử thứ hai sau này của UBCL&HB sẽ là Đức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận sau khi ngài được Giáo Hội chính thức tuyên Chân phúc.

ĐÔI LỜI VIẾT THÊM

Sau khi kết thúc bài viết vào buổi sáng 27/10/2010, nghỉ ngơi mấy phút, lò mò đi vào trang web Giáo phận Đà Nẵng (giaophandanang.org), tôi chợt thấy có Văn thư của Đức Cha Chủ tịch UBCL&HB với những lời giới thiệu của Chủ trang web như sau:

WGPĐN – 27/10/2010 – Vào lúc 10g30 hôm qua, ngày 26/10/2010, Tòa Giám mục Đà Nẵng nhận được bức thư nhanh từ Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Chủ Tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam. Bức thư Đức Cha Phaolô gửi cho Ông Chủ Tịch UBND TP Đà Nẵng và Chánh án Toà án Nhân dân Quận Cẩm Lệ, nhân đọc được trên mạng lá thư của một số giáo dân Cồn Dầu gửi cho Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình.

Cách đây mấy hôm, chúng tôi cũng đọc được trên mạng một bức thư tương tự gửi cho Đức Giám mục Giáo phận Đà Nẵng, Cha sở Cồn Dầu và Quý Cha trong Giáo phận, đứng tên thân nhân của 6 giáo dân Cồn Dầu đang bị tạm giữ chờ ra tòa. Nhưng qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, vấn đề không giản đơn như thế.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu nguyên văn lá thư của Đức Cha Chủ tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình, vì nội dung có liên hệ đến giáo dân Cồn Dầu thuộc Giáo phận, lại được gửi trực tiếp cho Toà Giám mục Đà Nẵng,

Mong sao cánh thư này khi được viết hoàn toàn “khách quan”“chưa có cơ hội nghiên cứu hồ sơ của vụ án” tại Cẩm Lệ như bức thư đề cập, sẽ gây được tác động rộng rãi và mạnh mẽ trên các tầng lớp xã hội, giúp giải quyết cách tốt đẹp những gì chúng ta đã và đang trăn trở trong gần một năm qua, khi quyết tâm bảo vệ Giáo Hội khỏi bị lôi cuốn quá sâu vào những cuộc đấu tranh chính trị, kiên trì theo đuổi con đường đối thoại ôn hòa như chọn lựa của Hội Thánh ngày nay.

Xin cám ơn Đức Cha Chủ tịch Uỷ Ban Công lý và Hoà Bình.

Kính mời độc giả cùng đọc bức thư trong tâm tình lắng nghe, suy gẫm và cầu nguyện.

Không biết ai khác phấn khởi hay không với những lời giới thiệu trên, phần tôi đọc xong thì choáng váng. Nghe cay cú làm sao ấy? Phũ phàng quá!

Thế nào là bức thư nhanh? Phải chăng Đức Cha Hợp (1) vội vàng để “bức thư” ấy được viết ra và gửi đi (2) nhân đọc được trên mạng lá thư, chứ không do tham khảo Bản quyền Gp Đà Nẵng?

Cánh thư (kiểu nói của web Gp Đà Nẵng. Sự thật đây không phải là bức thư hay cánh thư, mà là một VĂN THƯ chính thức) (3) đã viết rồi, đã gửi đến cơ quan có trách nhiệm phần đời (UBND Tp Đà Nẵng) rồi, Giáo phận Đà Nẵng còn mong nó “hoàn toàn khách quan” là mong thế nào?

Muốn biết (4) hoàn toàn “khách quan” hay không khách quan, hãy cứ nội dung văn thư mà nghiên cứu chứ mong mỏi cái gì? Có ý mỉa mai không đây? Bởi lẽ Đức Cha Chủ tịch UB CL&HB (5) dù có thể “chưa có cơ hội nghiên cứu hồ sơ của vụ án” nhưng khi đã nhận được sự thỉnh cầu của nạn nhân ở Cồn Dầu, Đức Cha Hợp có văn thư này gửi cho Chính quyền địa phương, như vậy có gì là trái khuấy? Trái lại Văn thư ấy chính là một đáp ứng thích đáng cho sự đòi hỏi Công lý.

Còn việc ĐC Hợp gửi cho Tòa Giám mục Đà Nẵng (bản sao hay phó bản văn thư) thì đó là thủ tục hành chánh, mang tính cách thông tri, sao Gp Đà Nẵng không lôi Văn thư ấy ra mà nói chuyện với Đức Cha Hợp mà lại trách móc đó là “bức thư nhanh”?

Tòa nhà hàng Giáo phẩm Việt Nam rất ấm tình “anh em trong Đức kitô” mà không đối thoại được với nhau, xin đừng đòi có sự “đối thoại” với những kẻ có tai mà không nghe, có mắt mà không thấy, có tim mà không cảm.

ĐC Hợp là Chủ tịch một Ủy ban trực thuộc HĐGM, và Ủy ban này có trách nhiệm bảo vệ công lý, bênh vực những người bị hiếp đáp trong phạm vi cả nước. Đức Cha Hợp gửi văn thư nhân danh Chủ tịch UBCL&HB của HĐGMVN chứ đâu có nhân danh cá nhân, nhân danh Giáo phận Vinh hay Giáo phận Đà Nẵng?

Đọc mấy lời giáo đầu của BBT (?) trang web Giáo phận Đà Nẵng, tôi có cảm tưởng đó là thứ phản ứng cay cú của chính quyền CS Đà Nẵng chứ không phải là tinh thần hợp tác vì đàn chiên của một Chủ Chăn với một Cơ quan có thẩm quyền thuộc cơ chế HĐGM.

Giả sử tất cả các Giám mục đứng đầu các Ủy ban trong HĐGMVN đều bị buộc co mình khép kín trong bức tường thành Tòa Giám mục riêng của mình, thì HĐGM để làm gì? Các Ủy ban trong HĐGM để làm gì? Việc xảy ra ở giáo phận nào, Giáo phận ấy trách nhiệm, dĩ nhiên! Nhưng khi xảy ra một sự việc vượt quá tầm Giáo phận hay đòi hỏi những cách giải quyết có tính cách chuyên biệt rộng rãi hơn thì tại sao các Ủy Ban chuyên môn của HĐGM không đuợc quyền tham gia giải quyết sự việc theo trách nhiệm chuyên môn được ủy thác tại các Giáo phận liên hệ?

Chưa hết! Trang web Giáo phận Đà Nẵng còn gộp lại các “Thông cáo,” “Thư Chung” của Tòa Gm Đà Nẵng thành một pho tài liệu dưới nhan đề “Nhìn lại quan điểm của Tòa Giám mục Đà Nẵng về những vấn đề liên quan đến Giáo xứ Cồn Dầu” cũng đề ngày 27/10/2010 tức là cùng thời điểm mà trang web này đăng tải Văn thư của ĐC Chủ tịch UBCL&HB/HĐGMVN. Có thể đây là một sự “trùng hợp vô tình” chăng? Nhưng cái sự “trùng hợp” này xem có vẻ như là một thách thức nhắm vào Đức Cha Chủ tịch UBCL&HB vậy!

Chỉ tiếc là tác giả bản tổng hợp trên quên thống kê kết quả (hay hậu quả) mà giáo dân Cồn Dầu gánh chịu từ ba văn kiện (gồm 1 thông cáo và 2 bức thư) trong bản tổng hợp ấy! Điều lạ là sau mỗi văn kiện, nhà cầm quyền Cộng sản ở Đà Nẵng lại có ‘điều kiện tốt hơn” để mạnh tay xô Cồn Dầu xuống vực thẳm của sợ hãi, chết chóc, tù tội và ly tán…  Biết đâu việc tập hợp 3 văn kiện của Tòa Gm Đà Nẵng trong thời điểm này cùng với những lời giáo đầu của Chủ trang web Gp Đà Nẵng sẽ thúc đẩy nhà cầm quyền yên tâm hơn để xét xử và thoải mái kết án tù cho 6 giáo dân của giáo xứ Cồn Dầu. Với ưu thế “ngư ông đắc lợi,” tin chắc CSVN sẽ thắng trong vụ xử án này.

LẠI VIẾT THÊM!

Chiều ngày 27/10/2010 (lại cũng là ngày 27/10/2010), chẳng thèm đếm xỉa tới  lời yêu cầu số 1 Văn thư của Giám mục Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch UBCL&HB, “yêu cầu hoãn việc xét xử [6 Giáo dân Cồn Dầu] để làm sáng tỏ nghi vấn,” CS Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử 6 nạn dân Cồn Dầu tại quận Cẫm Lệ, Thành phố Đà Nẵng. Kết quả mức án áp đặt cho các bị can như sau:

1. Nạn nhân Nguyễn Hữu Minh:        12 tháng tù giam

2. Nạn nhân Phan Thị Nhẫn:                9 tháng tù giam

3. Nạn nhân Nguyễn Hữu Liêm:        12 tháng tù treo

4. Nạn nhân Lê Thanh Lâm:                  9 tháng tù treo

5. Nạn nhân Trần Thanh Việt:               9 tháng tù treo

6. Nạn nhân Nguyễn Thị Thế:                9 tháng tù treo

Như thế có nghĩa là lời yêu cầu số 1 của UBCL&HB nêu tại Văn thư của ĐC Hợp gửi UBND Thành phố Đà Nẵng ngày 22/10/2010 đón nhận sự thất bại đầu tiên của tân Chủ tịch UBCL&HB/HĐGMVN. Chẳng biết bản tập hợp những văn thư của Tòa Gm Đà Nẵng liên quan tới Cồn Dầu có góp phần vào sự thất bại của UBCL&HB/HĐGMVN hay vào mức án bất công đè lên 6 giáo dân Cồn Dầu không?

Vấn đề còn lại là khi nào yêu cầu số 2 và số 3 của Văn thư do UBCL&HB/HĐGMVN sẽ được đáp ứng từ phía nhà cầm quyền CSVN TP Đà Nẵng! Đáp ứng thế nào? Có cao ngạo khinh thường như đối với yêu cầu số 1 không? Bấy giờ Đức Cha Chủ tịch UBCL&HB sẽ phản ứng làm sao? Đường hướng tiếp theo của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp sẽ ngả về đâu?

Còn người  Công giáo Việt Nam thì vẫn nóng lòng chờ xem những tín hiệu kế tiếp từ Ủy ban CL&HB do Đức Giám mục Nguyễn Thái Hợp thủ vai Chủ tịch!

Lê Thiên

27/10/2010


Hội Đồng Giám mục: Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam

Tháng Tám 20, 2010

Thời gian gần đây, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) được nhắc đến nhiều trên truyền thông Công giáo tại Việt Nam cũng như ở hải ngoại. Nhưng có lẽ một số giáo dân người Việt chưa hiểu hay hiểu khá mập mờ về cơ chế “HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC,” thậm chí còn ngộ nhận rằng HĐGMVN có nguồn gốc và nhiệm vụ giống như Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo!!!

Xin thưa ngay: Hội Đồng Giám Mục là một tổ chức hoàn toàn thuộc về Hội Thánh Công giáo hoàn vũ, một cơ chế được thiết lập bằng Giáo luật (GL) mà Bộ Giáo Luật năm 1983 quy định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn ở tại các điều khoản từ số 447 tới 459.

Đức Cha Phêrô Nguyễn Soạn, Giám mục giáo phận Quy Nhơn – Tổng Thư ký HĐGMVN (2007) lưu ý: “Bộ Giáo Luật cần được mọi người biết đến, không những là đối tượng khảo cứu cần thiết cho các chuyên viên giáo luật, mà còn là cẩm nang cho tất cả mọi thành phần Dân Chúa.” Thế nên việc một người giáo dân dù là thấp hèn tìm hiểu Giáo luật liên quan tới tổ chức và định chế HĐGM thì không phải là một hành vi hỗn xược, một sự tò mò có tính cách cấm kỵ, mà là một bổn phận thiết yếu của “mọi thành phần dân Chúa.”

Hội Đồng Giám Mục, một định chế.

Theo phân tích của linh mục James A. Coriden, một chuyên gia nổi danh về Giáo Luật,  trong quyển “An Introduction To Canon Law – Giáo Luật Nhập Môn” (Nhà Xuất bản Paulist, New York * Mahwah, New Jersey, Hoa Kỳ – 1999), thì HĐGM là một cơ chế mới, được thiết lập bởi Giáo Luật sau Công đồng Vaticanô II. Tuy rằng trước Công đồng này, thỉnh thoảng các Giám mục trong cùng một quốc gia có ngồi lại với nhau hàng năm như là công nghị địa phương, nhưng chưa hề được tổ chức thành cơ cấu định chế pháp quy như ngày nay.

Giáo Luật 1983 phân định rõ trách nhiệm của một HĐGM. Thành viên Hội Đồng là tất cả các Giám mục chánh, phó và phụ tá cùng những Bề Trên Dòng được chuẩn y trong cùng một quốc gia hay một vùng lãnh thổ đặc nhiệm. HĐGM được ban cho tư cách pháp nhân (449 §2), có một cơ quan thường trực gọi là Ban Thường vụ (gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, Phó Tổng Thư ký) cùng các ủy ban trực thuộc (điều 452 và 457).

HĐGM được ủy thác một số nhiệm vụ mục vụ nhân danh các tín hữu trong quốc gia liên hệ, ngoại trừ các thẩm quyền về tín lý và tư pháp thuộc trách nhiệm của riêng từng Giám mục.

Vai trò, trách nhiệm của một HĐGM

Sứ vụ chính yếu của một HĐGM là phục vụ lợi ích cao nhất cho con người trong quốc gia hay lãnh thổ liên hệ ở tại bất cứ nơi nào và thời kỳ nào như Điều 447 chỉ rõ: “Hội Đồng Giám Mục, một định chế thường trực, là tổ chức kết hợp các Giám mục của một quốc gia hay một địa hạt nào đó, cùng nhau thi hành chiếu theo luật, một số nhiệm vụ mục vụ cho các tín hữu Kitô thuộc địa hạt, để phát huy lợi ích lớn hơn mà Giáo Hội đem lại cho loài người, nhất là bằng các hình thức và phương pháp làm việc Tông đồ thích hợp với hoàn cảnh địa phương và thời đại[1].”

Bản dịch trên đây của HĐGMVN có đôi chỗ không giống với bản dịch Bộ Giáo Luật do các linh mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện và Mai Đức Vinh thực hiện. Bộ Giáo Luật Việt ngữ này được Nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1987. Điều 447 của bản dịch này là: “Hội Đồng Giám Mục, một định chế… nhằm cổ võ thiện ích lớn lao hơn cả mà Giáo Hội cống hiến cho mọi người…”

Lợi ích lớn hơn cho loài người hay thiện ích lớn lao hơn cả ấy phải chăng chính là việc “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn… Công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức…” mà Chúa Giêsu đã công bố, trích dẫn từ ngôn sứ Isaia. (Xin đọc Luca, đoạn 4, 16-21). Như vậy, đối tượng chính của hoạt động mục vụ của HĐGM chính là người nghèo, người mù lòa, những tù nhân và những kẻ bị áp bức.

Đó là tinh thần và nghĩa vụ HIỆP THÔNG giữa hàng giáo phẩm địa phương với nhau cũng như giữa hàng giáo phẩm với mọi thành phần dân Chúa liên hệ. Một khi nghĩa vụ này không chu toàn đúng mức thì nhiệm vụ mà Giáo luật đề ra cho HĐGM có lẽ chưa được tuân thủ nghiêm túc. Trong trường hợp này, HĐGM có nguy cơ trở thành một tổ chức hữu danh thay vì là một cơ chế mục vụ hữu ích thiết thực!

Các giám mục trong cùng một quốc gia là thành viên của HĐGM địa phương. Các ngài đương nhiên là những người ĐỒNG TRÁCH NHIỆM trong bất cứ biến cố nào ở một khu vực địa phương đang cần sự đáp ứng mục vụ nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả.

Đó là tinh thần và nghĩa vụ HIỆP THÔNG giữa hàng giáo phẩm địa phương với nhau cũng như giữa hàng giáo phẩm với mọi thành phần dân Chúa liên hệ. Một khi nghĩa vụ này không chu toàn đúng mức thì nhiệm vụ mà Giáo luật đề ra cho HĐGM có lẽ chưa được tuân thủ nghiêm túc. Trong trường hợp này, HĐGM có nguy cơ trở thành một tổ chức hữu danh thay vì là một cơ chế mục vụ hữu ích thiết thực!

Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm “tiếng nói cho những người không có tiếng nói” trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự “lên tiếng hay không lên tiếng” để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm.

Với hàng loạt quyền hạn pháp định, không một HĐGM nào tự cho phép mình nại ra bất kỳ lý do gì để tránh can dự vào việc đấu tranh bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền sống của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, tự do tỏ bày tư tưởng hay phát biểu quan điểm, quyền tự do cư trú cùng các quyền tự do căn bản chính đáng khác…!

Bản thân mỗi vị giám mục đã là vị ngôn sứ được biệt tuyển từ hàng tư tế lên hàng trưởng lão (elders) với trách nhiệm giám sát (episcopus). Giáo Luật Điều 378 §1 đề ra tới 5 tiêu chuẩn để một vị linh mục “xứng đáng được tiến cử lên chức Giám mục” là:

(1) Trổi vượt về Đức Tin vững vàng, tính nết tốt, đạo đức, nhiệt tâm… thông thái, khôn ngoan…

(2) Có danh thơm tiếng tốt;

(3) Ít là đã trọn 35 tuổi;

(4) Ít là đã năm (5) năm chịu chức linh mục;

(5) Có văn bằng Tiến sĩ, hoặc ít ra có Cử nhân về Kinh Thánh hoặc Giáo luật ở một Cao Đẳng Học viện được Tòa Thánh công nhận.

Một khi đã chấp nhận tham gia hàng ngũ các bậc trưởng-lão-ngôn-sứ-giám-sát, vị giám mục được tuyển chọn đã lãnh nhận Ơn Chúa Thánh Thần để thực thi quyền giáo huấn tông truyền, không thể viện lý do “CON KHÔNG BIẾT ĂN NÓI” mà thoái thác trách nhiệm dù chỉ là một kiểu thoái thác “nhún nhường” mang tính chất lề thói. Vị giám mục ấy càng không được tự cho phép mình nói thay các đấng khác trong cùng Hội đồng rằng “CHÚNG CON KHÔNG BIẾT ĂN NÓI!”

Bên cạnh 14 điều khoản (447-459) quy định cơ chế tổ chức một HĐGM nêu trên, Giáo luật dành ra ít nhất 77 điều khoản ban cho HĐGM nhiều quyền hạn rộng rãi, đặc biệt là quyền hạn đối với Dân Chúa (Quyển 2) và với nhiệm vụ Giáo huấn của Giáo Hội (Quyển 3)[2] mà phạm vi một bài viết không cho phép triển khai, phân tích tường tận từng quyền hạn.

Tựu trung, trách nhiệm chính của một HĐGM quốc gia là chăm lo mục vụ, kịp thời lên tiếng và nếu cần, nhanh chóng có hành động cụ thể giải quyết lập tức các vấn đề đụng chạm đến Dân Chúa, đụng chạm tới việc thờ phượng cùng mọi sinh hoạt tâm linh hay một biến cố đời thường có ảnh hưởng đến tình trạng an cư để hành đạo của đàn Chiên.

Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận. Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng”? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc.

Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào.

Giáo luật điều 452 §2 quy định rõ: “Chủ tịch của Hội Đồng, – và khi vị này bị ngăn trở hợp lệ thì phó chủ tịch – chủ tọa không những các phiên hợp khoáng đại của HĐGM mà cả ủy ban thường vụ nữa.” Khi Đức Cha Chủ tịch đa đoan với một nhiệm vụ khác cấp bách hơn, HĐGMVN không thể coi đó là lý do để không nhanh chóng tìm ra giải pháp tích cực đối phó kịp thời với các vấn đề thời sự nóng bỏng gây xôn xao và cả xáo trộn trong Giáo Hội địa phương, bởi vì còn có vị Phó Chủ tịch sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm “thay thế’ Chủ tịch mà Giáo Luật đã minh định.

Về vai trò của HĐGM trong việc đề cử hay tiến cử một nhân vật vào chức Giám mục, GL 377 §2 định rằng “ít ra ba năm một lần, các Giám mục thuộc một Giáo tỉnh hay là tùy hoàn cảnh, các Hội Đồng Giám mục phải bàn nhau kín đáo để lập một danh sách các linh mục …xem ai có tư cách làm Giám mục, thích hợp hơn với chức Giám mục và phải gởi danh sách ấy tới Tông Tòa…” Suy ra từ khoản Giáo luật này, HĐGM không thể không biết danh tánh nhân vật được tiến cử Giám mục trong lãnh thổ mình. Vả lại, chỉ khi nào đã nhận được sự đồng thuận minh danh của nhân vật được tiến cử, Tòa Thánh (Đức Thánh Cha) mới ban hành sắc chỉ bổ nhiệm chứ không bao giờ đặt nhân vật ấy vào sự đã rồi, chẳng những gây bối rối cho đương sự mà GH còn có thể đối diện với bao nhiêu rắc rối không thể tiên liệu! Cho nên, khi một vị tư tế được công bố đảm nhiệm một chức vụ cao hơn (Giám mục hay Tổng Giám mục, Hồng y và cả Giáo hoàng), vị ấy không thể kêu lên là “bất ngờ” đối với mình!

Quyền đời nhúng tay vào việc đạo.

Một khía cạnh khác về quyền bổ nhiệm Giám mục có lẽ tất cả tín hữu Công giáo Việt Nam cũng cần tìm hiểu và nghiền ngẫm, đó là điều khoản số 377 §5 của Bộ Giáo Luật hiện hành: “TỪ NAY VỀ SAU, KHÔNG ĐƯỢC CHO CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ QUYỀN LỢI VÀ ĐẶC ÂN BẦU CỬ, BỔ NHIỆM, ĐỀ CỬ HOẶC CHỈ ĐỊNH CÁC GIÁM MỤC.”

Thế thì tại Việt Nam, khi nhà cầm quyền CSVN bảo rằng “ĐƯỢC SỰ CHẤP THUẬN CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM, Giáo hoàng… bổ nhiệm XXX làm Tổng Giám mục…” thì sự chấp thuận ấy được hiểu như thế nào? Không bầu cử. Không bổ nhiệm. Không đề cử. Không chỉ định. Mà là CAN THIỆP VÀO NỘI BỘ CÔNG GIÁO: Có xin mới có chấp thuận – nghĩa là có xin phép mới cho phép! Cho phép ĐÍCH DANH vị XXX làm (Tổng) Giám mục, chứ không phải chỉ cho phép tuyển chọn chung chung trong một thành phần nào đó (hàng giáo sĩ chẳng hạn) thôi!

Phải chăng lời tuyên bố “chấp thuận” của CSVN là lời tuyên truyền hỗn láo? Hay đó là bằng chứng về một sự CAN THIỆP THÔ BẠO vào việc bổ nhiệm một chức sắc cao cấp của tôn giáo? Sự can thiệp này có hàm ý một sự cam kết hay hứa hẹn ngầm nào từ phía nhân vật được chấp thuận đối với kẻ đã ban phép, đặc biệt kẻ ban ơn ơn ấy lại là Cộng sản không? Chưa nghe thẩm quyền Giáo Hội CG tại Việt Nam minh giải điều này với cộng đồng dân Chúa!

Một nét mới: Thư của một Giám mục gửi HĐGM của mình.

Một vấn đề khác liên quan tới Hội Đồng Giám mục Việt Nam:

Mới đây, ngày 19/7/2010, Đức Cha Châu Ngọc Tri, Giám mục Đà Nẵng có gửi cho HĐGMVN một bức thư nhằm thông tin và chia sẻ mục vụ” sự kiện về cái chết người giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu là anh Nguyễn Thành Năm.

Bức thư của Đức Cha Tri Đà Nẵng đã được nhiều tác giả “phản hồi” và phân tích. Ở đây, chúng tôi chỉ nói lên mối quan hệ của bức thư đối với HĐGM, giới hạn trong đề tài đang đề cập.

Không biết trong quá khứ đã có bao nhiêu thư một vị Giám mục VN gửi cho HĐGM của mình nhằm “thông tin và chia sẻ mục vụ” như trên. Nhưng từ trước đến giờ chưa hề nghe thấy có một thư nào từ một Giám mục thành viên gửi cho HĐGM của mình mà được đưa lên mạng lưới toàn cầu phổ biến công khai rộng rãi để mọi người cùng đọc. Người đọc một khi đã được ban quyền đọc bức thư ấy tất cũng có quyền chia sẻ cảm nghĩ của mình về … nó!

Người ta có thể tin là Đức Cha Tri thật tình chỉ muốn tỏ bày tâm tư, trao đổi “thông tin và chia sẻ mục vụ” với HĐGMVN mà thôi. Nhưng sau khi đọc đi đọc lại bức thư nhiều lần, người ta thấy tuồng như bức thư ấy không nhằm chia sẻ kinh nghiệm mục vụ cho bằng nhắm phủ nhận những thông tin “lề trái” về cái chết của anh Nguyễn Thành Năm, giáo dân Cồn Dầu, cũng như nặng lời phê phán những người chủ trương đưa ra những thông tin ấy.

Vô tình hay hữu ý bức thư của Gm Tri đóng vai trò “trạng sư” nhiệt tình biện hộ cho An ninh CSVN (tức Công An) hơn là chia sẻ kinh nghiệm mục vụ, như chính nội dung bức thư bộc lộ: Ngành an ninh nhà nước tuy không trực tiếp “đánh chết giáo dân Cồn Dầu” như tin được loan, nhưng cũng không vô can trong vụ việc này. Dù cuộc thẩm vấn sau cùng diễn ra cách đó đến hai tuần, nhưng đã gây áp lực tâm lý nặng nề, khiến một người vốn mắc bệnh tim như Anh Năm, bị hoảng loạn, sợ hãi, không làm chủ được hành vi của mình, nên đã bị dân phòng bắt.(Dân phòng có đánh chết nạn nhân không?)

Vừa đóng vai trò trạng sư cho “bạo lực cách mạng” (Công an CS), bức thư vừa là bản “cáo trạng” của một công tố viên lên án những người chủ trương trang báo điện tử Nữ Vương Công Lý là “bóng ma” buộc báo này phải nhận trách nhiệm đầu tiên về những hậu quả tai hại do việc đưa tin không chính xác và hình ảnh ngụy tạo, gây hoang mang chia rẽ.” Những cụm từ nhấn mạnh (gạch dưới) trên đây là những kiểu nói quen thuộc ở cửa miệng nhà cầm quyền CSVN và báo chí “lề phải” của họ để kết án ai là “thế lực thù địch.”

Anh Toma Nguyễn Thành Năm, giáo dân bị Công an, dân phòng đánh đến chết

Chúng tôi có cảm tưởng rằng bức thư của Đức Cha Tri cũng như lời phát biểu của Đức Cha Khảm trước đây và lời của một linh mục dọa “dứt phép thông công cho giáo dân nào đọc Nữ Vương Công Lý” đã giúp cho trang mạng này tăng số lượng người đọc hơn là đánh hạ nó. Thiết tưởng NVCL nên tri ân các ân nhân của mình!

Riêng với Đức Cha Tri, chúng tôi mong Đức Cha công bằng hơn một chút trong phán xét của ngài cũng như chịu khó theo dõi thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trước khi kết luận. Chỉ riêng VietCatholic News thôi cũng đã giới thiệu nhiều bản tin từ các nguồn thông tin khác nhau, đa dạng mà chúng tôi chỉ xin phép nêu ra vài hãng tin ngoại quốc sau đây:

Da Nang parishioner dies after police beating

CathNews Asia (07-Jul-2010 03:51)

Catholic beaten to death by Vietnamese police

Catholic World News (06-Jul-2010 17:07)

Vietnam: Mort d’un paroissien de Côn Dâu à la suite d’un interrogatoire accompagné de violences physiques

Eglises d’Asie (06-Jul-2010 09:45)

A Con Dau Catholic dies shortly after being released by police

Asia-News (06-Jul-2010 08:18)

Muore poco dopo essere rilasciato dalla polizia un cattolico di Con Dau

Asia-News (06-Jul-2010 06:30)

Đặc biệt, một đoạn trong bản tin của tác giả Thomas Việt trên VietCatholic News ngày 05/7/2010 cung cấp nhiều nét độc đáo liên quan đến cái chết thương đau của anh Nguyễn Thành Năm giáo dân Côn Dầu. Bản tin này không hề căn cứ vào một tin tức nào từ NVCL, mà đích thân tác giả đang ở trong nước trực tiếp tìm hiểu nội vụ ngay tại Việt Nam:

Ngày 3/7/2010 vừa qua một giáo dân nhiệt thành ở giáo xứ Cồn Dầu ông Nguyễn Năm đã chết vì bị bức cung (tra tấn) dẫn đến việc không thể ăn uống gì được rồi chết.
Tôi có điện đến công an thành phố Đà Nẵng (0511-3822300) vào 7 giờ tối 4/7/2010 để hỏi nguyên nhân thì lúc đầu họ trả lời là do đột qụy mà chết. Tôi không bằng lòng với câu trả lời đó nên điện thoại lần hai thì viên công an trực ngày 4/7/2010 mới lấy giấy lên đọc là “một giờ chiều ngày 3/7/2010 ông Nguyễn Năm tại Cồn Dầu chết. Nguyên nhân: không rõ nguyên nhân.” Sau đó điện thoại và hỏi nữa thì anh ta nói “gia đình người ta không thưa kiện thì thôi chứ cớ gì mày ở Sài Gòn mà chĩa mồm vào”.
3 giờ ngày 5/7/2010 điện lại hỏi nữa thì gặp một anh công an trực khác trả lời: “Gia đình anh Nguyễn Năm báo cáo là anh Năm bị bịnh hoang tưởng và nhịn ăn vài ngày rồi chết”. Tôi hỏi trước đó anh Năm có bị tra tấn không thì viên công an này liền cúp điện thoại…”

Ngoài ra, trong thư “gửi HĐGMVN” Đức Cha Châu Ngọc Tri đã trưng dẫn bản viết tay của người nhà anh Nguyễn Thành Năm. Cách làm việc của Đức Cha Tri thật là khôn ngoan thận trọng. Cái chết của anh Năm xảy ra ngày 03/7/ 2010, đến 19/7/2010, Đức Cha Tri mới “thông tin” cho HĐGMVN về nguyên nhân cái chết dựa trên một bản viết tay người thân của nạn nhân – viết ngay tại Tòa Giám mục Đà Nẵng do yêu cầu của chính Đức Cha Tri.

Tuy nhiên, giá mà Đức Cha Tri khuyên người nhà của anh Năm về nhà thu thập chứng cớ… sau đó “lấy lòng con cái” mà ngay thật trình bày mọi diễn biến dẫn tới cái chết của nạn nhân thì chắc chắn không ai nghi ngờ có… an ninh ở hậu trường thực hiện nghiệp vụ “ép cung”.

Mặt khác, phải chi Đức Cha Tri lập được một ban điều tra độc lập gồm cả giáo sĩ và giáo dân thuộc các ngành chuyên môn để xem xét và công bố kết quả thì kết quả ấy chắc sẽ dễ chấp nhận hơn! Có như vậy bức thư của Đức Cha Tri mới thật sự có giá trị “chia sẻ mục vụ”!

Đáp lại, HĐGMVN có lẽ sẽ chẳng ngại ngùng có một hồi âm (phản hồi) làm vui lòng Đức Cha Tri, làm hài lòng Giáo phận Đà Nẵng, khích lệ an ủi giáo dân Cồn Dầu, trấn an toàn thể dân Chúa trong và ngoài nước và nhất là dập tắt mọi tiếng xì xào về biến cố Cồn Dầu và về cách hành xử của Chủ Chăn. Từ đó chắc chắn tình hiệp thông giữa HĐGMVN và các Đấng Bản Quyền trong nước với mọi thành phần dân Chúa sẽ được triển nở và được củng cố đúng tinh thần Giáo Luật của Hội Thánh Công Giáo khiến cho sức quỷ hỏa ngục “không làm chuyển rung”!

Lê Thiên

Ngày17/8/2010, lethien03@yahoo.com



[1] Chúng tôi sử dụng bản dịch năm 2007 của HĐGMVN.

[2] Bộ Giáo Luật gồm 7 quyển với 1752 điều khoản. Ngoại trừ quyển 6 (bàn về Chế tài trong GH) không đề cập đến HĐGM, 5 quyển còn lại đều nêu lên một mặt vài nào đó thuộc quyền hạn của HĐGM.

Quyển 1 – Tổng tắc:  01 điều (88)

Quyển 2 – Dân Chúa: 26 điều (230 §1; 236; 237 §2; 242 §1; 276 §2; 242 §1; 276 §2; 283; 294; 312; 320 §2; 346 §1; 364; 372 §2; 377 §2-3; 395 §2; 402 §2; 433 §1; 434; 439; 441; 443; 496; 502 §3; 522; 535 §1; 538 §3; 708).

Quyển 3 – Nhiệm vụ giáo huấn của GH: 14 điều (753; 766; 772 §2; 775 §2-3; 788 §3; 792; 804 §1; 809; 810 §2; 821; 823 §2; 825 §1-2; 830 §1; 831 §2).

Quyển 4 – Nhiệm vụ thánh hóa của GH: 22 điều (838 §3; 844 §4-5; 851; 854; 877 §3; 891; 895; 964 §2; 1031 §3; 1062 §1; 1067; 1083 §2; 1112 §1; 1120; 1126; 1127 §2; 1231; 1232 §1; 1236 §1; 1246 §2; 1251; 1253).

Quyển 5 – Tài sản của GH: 7 điều (1262; 1265 §2; 1272; 1274 §2; 1277; 1292 §1; 1297).

Quyển 6 Chế tài trong GH: không điều nào

Quyển 7Tố tụng: 6 điều (1421 §2; 1425 4; 1439 §1-3; 1673; 1714; 1733 §2).