Thử nhìn “Sự kiện Ngô Quang Kiệt” dưới cái nhìn đức tin

Tháng Bảy 28, 2010

Gần bốn tháng đã trôi qua kể từ cái ngày đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt ra đi trong đêm tối, đến nay không tin tức, ngoại trừ lá thư ngài viết vội kính gửi cộng đoàn Dân Chúa. Đó cũng là bốn tháng của biết bao biến động đang đẩy Giáo hội Việt Nam tới một khúc quanh mới.

Có thể nói rằng, chưa bao giờ trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, người giáo dân Việt Nam lại mạnh mẽ bày tỏ cảm xúc thất vọng của mình đối với các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam như những tháng ngày qua.

Nhiều người đã tỏ vẻ thất vọng về cách hành xử của các vị lãnh đạo Giáo Hội khi cứ mãi im lặng trước những bất công đang ngày càng tràn lan trong xã hội.

Người khác mong Giáo hội, đặc biệt các vị lãnh đạo Giáo hội, phải tức khắc đưa ra những quan điểm chính thống để cộng đồng Dân Chúa tìm được sự thật “thực” về sự kiện Ngô Quang Kiệt.

Nói chung, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đang tạo ra một bầu khí hoang mang, lan tỏa trong đời sống Giáo hội ngay cả ở nơi thượng tầng kiến trúc của Giáo hội là các vị Giám mục thuộc HĐGMVN.

Trong suốt bốn tháng qua, đã có nhiều diễn giải xung quanh sự kiện có một không hai này. Điều dễ nhận thấy là sự kiện Đức cha Ngô Quang Kiệt phải rời chức vụ và âm thầm ra đi trong đêm tối, chứa chấp cả một “mầu nhiệm” không thể hiểu nổi. Sự kiện ấy được bắt đầu từ cái nghị quyết quái đản của chính quyền Hà Nội, được thực hiện bằng một kịch bản công phu, dưới sự dẫn dắt và thực hiện của một “dàn đồng ca áo tím”, với những bước đi ngoại giao, và đã kết thúc trong nước mắt của những ai thiện chí, yêu mến, khát khao được sống một tinh thần Ngô Quang Kiệt.

Cốt lõi của vấn đề, của những bức xúc của người giáo dân với các vị lãnh đạo Giáo hội trong những tháng ngày qua, chắc chắn không bởi những bức xúc cá nhân, những toan tính con người, cũng không phải bởi “có một thế lực đang muốn phá Giáo hội” như có người cạn nghĩ, hay bởi có mối tư thù với các vị lãnh đạo Giáo hội, mà tất cả xuất phát từ lòng yêu mến Giáo hội  – một Giáo hội Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền.

Trong bối cảnh của những cảm xúc lẫn lộn, với những phản ứng khác nhau; trong bối cảnh có nhiều diễn giải về sự kiện Ngô Quang Kiệt như vậy, thiết tưởng đã tới lúc cần đặt lại sự kiện Ngô Quang Kiệt dưới cái nhìn đức tin, trong hành trình lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, để thấy đâu là con đường Chúa muốn Giáo hội Việt Nam bước đi, hôm nay, lúc này, giữa xã hội này.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt một cơ hội sám hối

Tại Thánh lễ Khai mạc năm Thánh 2010, HĐGMVN: Lạy Chúa, Giáo Hội Chúa thiết lập là Giáo Hội duy nhất, nhưng chúng con đã làm rách tấm áo hiệp nhất của Chúa. Chúng tôi xin lỗi mọi thành phần xã hội, tôn giáo, vì chúng tôi đã chưa đủ hòa mình và đồng hành. Chúng tôi xin lỗi người nghèo, người hẩm hiu xấu số, người khuyết tật, đau khổ vì chúng tôi chưa đủ quan tâm. Những lời này phải chăng chỉ là "Nghi thức" của HĐGMVN?

Việc đức cha Ngô Quang Kiệt phải rời khỏi chức vụ và phải ra đi cách âm thầm trong Năm thánh, là một nỗi đau gây choáng váng cho mọi thành phần Dân Chúa, nhưng có lẽ đó lại là cơ may để một lần Giáo Hội Việt Nam nhìn lại mình, từ hàng giám mục, linh mục, tu sĩ cho tới người giáo dân.

Có thể nói rằng, nhờ sự ra đi đầy đau khổ của Đức cha Kiệt mà Giáo hội Việt Nam mới có cơ hội thấy được sự thật “thực” về một Giáo Hội Việt Nam mất hiệp thông từ thượng tầng kiến trúc, chỉ “đồng cảm chứ không đồng thuận” trong việc cất lên tiếng nói của công lý và hòa bình.

Cũng vậy, nhờ sự ra đi của Đức cha Ngô Quang kiệt Kiệt, mà người giáo dân lần đầu được chứng kiến một Giáo Hội đang dần bị quốc doanh hóa, xa rời quần chúng. Nếu không có sự kiện Ngô Quang Kiệt, có lẽ, những cuộc rước như ở giáo xứ Dị Nậu – giáo phận Hưng Hóa, còn lâu mới được biết tới.

Phải chăng Thiên Chúa để “sự kiện Ngô Quang Kiệt” diễn ra trong Năm thánh của Giáo Hội Việt Nam là một món quà ân sủng – nói như Đức cha Kiệt trong lá thư từ biệt: “Tôi ra đi thì có lợi cho Tổng Giáo phận Hà Nội”, giúp Giáo Hội sống trọn vẹn tinh thần của Năm thánh: “sám hối và canh tân.”

Những gì đang diễn ra liên quan tới sự ra đi của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt trong những tháng qua, dù có đau buồn, nhưng cách nào đó đã đặt Giáo hội Việt Nam trong một chọn lựa sống còn. Giáo hội không thể cứ mãi làm ngơ trước vận mệnh của đất nước, của dân tộc, cũng như không thể làm ngơ trước sự ác ngày càng dấn sâu của chế độ chuyên chính bạo quyền.

Những gì đang diễn ra – những sự thật đang dần được bạch hóa, không chỉ giúp mọi thành phần trong Giáo hội nhận ra sự thật, mà còn góp phần tích cực thánh hóa Giáo hội cho mỗi ngày một tinh tuyền hơn.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt hóa ra lại là một hồng ân, một cơ hội để sám hối.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt một dấu chỉ của thời đại?

Tuy nhiên, để công cuộc sám hối ấy mang đầy đủ ý nghĩa, có lẽ điều cần thiết là phải tìm xem, Thiên Chúa muốn nói gì qua “sự kiện Ngô Quang Kiệt” và đâu là dấu chỉ của Chúa qua sự kiện có một không hai này?

Trong niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người. Ngài đã bước chân vào lịch sử nhân loại, biến lịch sử ấy thành nơi chỗ biểu lộ vinh quang Ngài và là nơi để con người gặp Chúa và gặp nhau. Vì thế, mọi biến cố vui buồn xảy ra trong lịch sử, tất yếu phải được đặt trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, để tìm ra ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa thể hiện qua các biến cố của thời cuộc và qua các chứng nhân.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam gần 500 năm qua, với các mốc lịch sử 350 thiết lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong, 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, thì hình như, sứ mạng đồng hành với Dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình mò mẫm. Ngoài những đóng góp thấy được cho xã hội, cho tới giờ này, tinh thần Kitô giáo vẫn chưa được đại bộ phận người dân Việt Nam chấp nhận, đó là chưa kể còn rất nhiều người ngoài công giáo tỏ vẻ dè dặt mỗi khi nhắc tới Công giáo.

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này thì nhiều: chiến tranh liên miên khiến Giáo hội phải tìm cách để tồn tại mỗi khi một chính thể mới xuất hiện; xung đột văn hóa; tệ hại nhất là do chính sách bài tôn giáo với những tuyên truyền tàn độc của chế độ cộng sản vô thần… Bên cạnh đó, cũng không loại trừ Giáo hội Công giáo vì lý tưởng tồn tại được là may, nên đã chấp nhận đứng bên lề dân tộc bỏ mặc người dân bị “đánh nhừ tử” bên vệ đường.

Thực tế chứng minh cho thấy, kể từ năm 1980 – lần đầu tiên HĐGM toàn quốc nhóm họp, cho tới nay, trong các Văn kiện, Thư chung của HĐGMVN – tiếng nói chính thức của HĐGMVN, thì hầu như nội dung “rất chung chung” có thể áp dụng cho mọi kỳ đại hội, chỉ cần thay năm ban hành và người ký.

Đối với các vấn đề xã hội đang gây nhức nhối lòng người, trước các bất công đang ngày càng chất đầy mà nạn nhân là những  người dân thấp cổ bé họng, Giáo hội hầu như im lặng, đôi khi còn thỏa hiệp với chính quyền.

Trong một bối cảnh xã hội như thế, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đã có những tác động nhất định trong đời sống của xã hội và Giáo Hội.

Tôn giáo là Quyền, chứ không phải là ân huệ xin - cho

Phong trào thắp nến cầu nguyện mà ngài phát động đã lan tỏa nhanh chóng tạo nên một bầu khí sinh hoạt phượng tự mới, một xã hội dân sự bắt đầu manh nha, tác động ít nhiều tới cơ cấu tổ chức xã hội.

Có thể nói, trong một xã hội đầy bất công dưới sự cai trị độc tài cộng sản, “sự kiện Ngô Quang Kiệt” đã phần nào tạo nên một hy vọng cho những con người thấp cổ bé họng, không thể tự mình cất lên tiếng nói và nhất là đã khiến công chúng nói chung thấy được một Giáo hội của Chúa Kitô đang can đảm, dõng dạc cất lên tiếng nói cho một nền Hòa bình và Công lý được xây dựng trên tình thương và sự tha thứ.

Nếu sứ mạng của Giáo hội là đến với những người cùng khổ, những người bị “đánh nhừ tử vứt bên vệ đường”, nếu sứ mạng của Giáo Hội là tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu: “Sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật” (Ga 18, 37), thì tiếng nói cho sự thật mà Đức cha Ngô Quang Kiệt đã cùng cộng đồng Dân Chúa dõng dạc cất lên giữa lòng thủ đô, chắc chắn đó là điều Thiên Chúa muốn mời gọi Giáo hội Chúa bước đi hôm nay, lúc này, ngay giữa lòng một xã hội đang bị chủ nghĩa vô thần khuynh đảo, tìm cách bóp nghẹt lương tâm con người.

Gần 500 năm qua, Giáo Hội Việt Nam, vì hoàn cảnh lịch sử cách này cách khác, đã không quan tâm đủ tới những con người cùng khổ, đã không đồng hành với dân tộc, thì đây chính là lúc và là cơ hội để cất tiếng nói. Đây là lúc để thể hiện tâm tình sám hối một cách cụ thể và sống động nhất như Giáo hội đã tuyên bố trong ngày khai mạc Năm thánh.

Tạm kết luận

Sự ra đi của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng trong đức tin, thì lại là cơ hội Chúa muốn dùng để tái công bố cho Giáo hội Việt Nam đường đi của Tin Mừng: “Tôi sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18, 37).

Sự kiện Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng không thể làm cho thất vọng, bởi Thiên Chúa, với quyền năng và tình yêu vẫn thường hay biến sự dữ ra sự lành, chính Ngài sẽ làm cho thành tựu những lời Ngài đã hứa: “Quyền lực tử thần” dù mạnh đến đâu cũng không thể thắng được.

Sự kiện Ngô Quang Kiệt, dù đau buồn, nhưng Thiên Chúa, cách này cách khác, đang tiếp tục ra tay can thiệp để thanh tẩy và thánh hóa Giáo hội, giúp Giáo hội hoàn tất sứ mạng ngôn sứ của mình.

Vì thế, đã tới lúc, mọi thành phần trong Giáo hội Việt Nam cần phải nhìn lại mình, để thành tâm sám hối tội lỗi, quay về với Thiên Chúa – Đấng là nguồn mạch của sự thật và sự thiện, để cùng nhau cất lên tiếng nói của sự thật. Chỉ có như thế, Giáo hội mới có cơ hội thực hiện đầy đủ và ý nghĩa nhất ước nguyện sám hối và ước nguyện “cùng đồng hành với Dân tộc” mà cả Giáo hội Việt Nam đã long trọng tuyên bố trong ngày khai mạc Năm thánh, bên mộ các Thánh Tử đạo Việt Nam.

27/7/2010

An Dân


Giáo Hội Công Giáo Việt Nam… có thấy?

Tháng Bảy 8, 2010

Hình ảnh Đức Cha Kiệt luôn gần gũi với giáo dân khó phai mờ trong lòng dân Hà Nội

Đã là ba, bốn .tháng trời kể từ “sự kiện Ngô Quang Kiệt” bung ra đỉnh điểm là  thỉnh nguyện thư có 15 ngàn chữ kỹ, một cuộc lội ngược dòng đầy bi phẫn của giáo dân Hà Nội cùng những băng rôn- khẩu hiệu, những đôi mắt sầu buồn, đau khổ với một câu hỏi đến tê tái lòng người “em ngươi đâu ?” …tất cả những mong tìm thấy lại vị chủ chăn đích thực.Thế nhưng đến lúc này “người em của Đức Cha Nhơn” (Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt ) vẫn bặt vô âm tín. Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn thì cúi đầu lầm lũi  bước đi… Người ta cảm thấy có hay không có “ngài” cũng chẳng ảnh hưởng gì tới các hoạt động chung trong Tổng Giáo Phận. Ghế, gậy hay mũ, áo là của ”ngài”, còn lại là của tất cả, ai mạnh tranh, ai làm gì thì là việc của họ.

Nhìn lại những tấm hình đã có trên mạng từ ngày tên tuổi vị Giám mục này được nổi lên, đều là những tấm hình buồn bã, nhìn cúi gằm xuống khi tiếp xúc giáo dân? Họa chăng chỉ có bức hình ngài tươi cười ngẩng lên khi gặp Thủ tướng.

Tân TGMHN vẫn luôn lặng lẽ cúi đầu bước đi

Ở giáo xứ Thạch Bích, Cha Xứ mưu toan bán đất hương hoả  (tuyệt đường sống đạo của các thế hệ Cha Xứ và Giáo dân sau đó), một Đại hội  giáo dân đã phản ứng quyết liệt… đó là việc của Cha Xứ ấy. Ở giáo phận Hưng Hoá người ta đặt tượng Hồ Chí Minh trên bàn thờ Đức Mẹ, đem ảnh  tượng Người dưới cờ đỏ sao vàng, chạy nhông nhông trên đường làng, thì ở Vatican Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn bước lên đài vinh quang nhận dây Palium dưới lá cờ vàng trắng thiêng liêng của Hội Thánh (Giám Mục Vũ Huy Chương gọi lá cờ vàng trắng đó là cờ của “nước Vatican”. Nghĩa là Giáo Phận Hưng Hoá không thuộc về Giáo hội Hoàn Vũ đã hơn 2000 năm. Vatican chỉ là một nước như nước Tàu, nước Lào, Thái hay nước Đông Ti-Mo vừa mới được thành lập gần đây).

Quả thật hành vi đặt tượng Hồ Chí Minh vào bàn thờ Đức Mẹ là đáng sợ thật. Ngay cả những lương dân khi xem những hình ảnh này đều thấy khó chịu và dựng tóc gáy. Không một người dân lương thiện nào có ý muốn, hay có hành vi quái đản này, Chỉ có những người Cộng Sản mới táo gan và có quyết tâm xằng bậy  đến như thế. Hãy xem Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với đường lối “Đạo pháp, Dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, Hồ Chí Minh đã ngồi trên ngôi Tam Bảo, ở vào tam thế Phật pháp.

Một loạt các hoạt động lớn trong Giáo Phận như tiếp sức mùa thi, bảo vệ sự sống, các hoạt động công ích, cộng đồng của giới trẻ, của các giáo xứ hay cộng đoàn diễn ra trong nắng nóng, khó khăn, trong sự sách nhiễu đe nẹt của nhà cầm quyền và thiếu thốn tứ bề… không thấy bóng dáng “ngài” thăm viếng, không một ý kiến, không một lời chia sẻ từ phía  toà Tổng Giám Mục.

Nắng thì cứ nắng, bất công thì cứ bất công, loạn thì cứ loạn… giáo dân nghèo hèn nào đó đã bị công an đánh đến chết… thì ở bên kia trời “tây” đầy tự do, công bằng và mát mẻ “ngài” vẫn đang “chia sẻ lời Chúa”… một cách đam mê và thành kính. Một giáo dân Hà Nội bức xúc phát biểu rằng “tiếc là không có tiền chứ nếu có chúng tôi sẽ sang tận Pháp để căng băng rôn“

Em Ngươi đâu?

Giáo dân thấy khó hiểu thay cho đã từng là cay đắng, tủi hổ. Đã có nhiều lý giải, phân biện cho sự xuất hiện của TGM Nguyễn Văn Nhơn tại Hà Nội. Người ta cho rằng ông là nạn nhân của Chính Quyền Cộng Sản, là nạn nhân của nhóm “tam ca” “lục ca” áo xanh áo đỏ gì đó… có phải đây chính là lực lượng đã “khuynh loát Hội Đồng Giám Mục” như nhận định của Giám Mục Nguyễn Chí Linh?

Thực tế đã cho thấy là đúng như vậy, và thế lực khuynh loát này không phải là nhỏ, được hình thành cũng như được Nhà Nước Cộng Sản vô thần dày công o bế, chuẩn bị đã lâu, tất nhiên là cho một mục đích lớn hơn, dài hơi hơn  nhiều so với những gì tạm cho là họ đã đạt được, tức là đẩy bằng được “Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội”, và như thế cũng có nghĩa là họ không dừng ở đây. Cái đích cần đến của họ là một tôn giáo “kiểng” với một dàn “đồng ca”  (không đơn giản là “tam ca” hay “lục ca”) cùng với đường lối  “Phúc âm, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” các Linh Mục sẽ được học tập và làm theo “tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, cuối năm lũ lượt đàn chiên sẽ được hân hạnh vào Lăng viếng Bác, làm lễ báo công dâng Bác như bao nhiêu hội đoàn, tôn giáo đã làm như vậy…

Người ta đã nghe thấy giai điệu bài ca “cộng sản” “cùng nhau đi hồng binh” vang lên trong thánh lễ phong chức thiêng liêng ở TGP Sài Gòn do ĐHY Phạm Minh Mẫn và Đức GM Phụ tá Nguyễn Văn Khảm chủ tế như thúc giục các Linh Mục theo ơn gọi “cùng nhau đi hồng binh” vậy.

Thật là đau lòng và tủi phận cho mọi Kitô hữu  khi Giáo Hội Công Giáo lâm và trạng huống éo le nghiệt ngã như vậy, nhưng cũng thật là vinh hạnh và tin tưởng cho  một Giáo Hội được sinh trưởng, tưới tắm bằng máu của bao thế hệ tử đạo mà có Giáo Hội hôm nay với tám triệu giáo dân, trong đó là những giáo dân Hà Nội

Hầu như chỉ có ở trạng thái gặp Thủ tướng, Đức Tân TGMHN mới ngẩng lên tươi cười

Chính phản ứng mạnh mẽ của giáo dân Hà Nội với thỉnh nguyện thư, với những băng-rôn, khẩu hiệu đã chặn đứng và bước đầu phá sản chương trình quốc doanh hoá “Thiên Chúa Giáo” của Nhà Nước Cộng Sản. Những Linh Mục, Giáo sĩ, Đấng, Bậc theo đường lối “Phúc âm, Dân tộc và chủ nghĩa xã hội” bị bại lộ cả mảng ngay khi khi sự việc đang còn manh nha. Và cũng chính thỉnh nguyện thư, những băng-rôn ấy đã thức tỉnh, làm thay đổi nhận thức của Toà Thánh Vatican về Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói chung và cá nhân TGM Ngô Quang Kiệt nói riêng.

Một lá thư của Nguyễn Minh Trung nào đấy, những phát biểu cao đạo của GM phụ tá danh tiếng Nguyễn Văn Khảm… Những tin bài hớ hênh trên các trang mạng của HĐGMVN, Ủy ban Kinh Thánh của HĐGMVN. Hay trên trang mạng TGP Sài Gòn, thậm chí là tuyên bố đầy tính chia rẽ của danh vị cao nhất Giáo Hội  Việt Nam hiện nay, Hồng Y Phạm Minh Mẫn Giáo Hội Miền Bắc không sống theo tinh thần của Công đồng Vatican II…..” cũng không thể che đậy được sự thật, sự thật là chính những giáo sĩ mà  tay đã lỡ nhuốm “đỏ”  đã ở vào thế “trở đi mắc núi trở lại mắc sông”…

Cuối cùng thì lại cũng chính Hồng Y Phạm Minh Mẫn (được cho là một thành phần của “Tam ca”, “lục ca”) đã phải cất công  sang Vatican để biện minh, để tìm một giải pháp có thể nào đó từ Toà Thánh. Ông đã trở về tay không bởi  chuyến đi “danh không chính” nên sau đó “ngôn lại không thuận”, để cuối cùng ông lại lấy im lặng làm thủ pháp để tiếp tục “tốt đời đẹp đạo”…như đã từng là như thế.

Trong bài Nhìn lại- thấy rõ- để tiến lên ! chúng tôi đã nhận định ”Cục diện đã thay đổi hơn là một trang sử nào đó được mở ra …… cục diện sang hẳn sự phân tranh rõ nét, dứt khoát của chính tà, thiện ác, đúng sai phải trái.” ta thấy những cố gắng dù là của Đức Hồng Y cũng không thể thay đổi tý chút gì được cục diện.

Cuộc họp nhóm hỗn hợp Việt Nam – Vatican lần hai đã có kết quả, một thỏa thuận  đạt được đáng quan tâm giữa Vatican và Hà Nội là việc bổ nhiệm đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam với hình thức đại diện “không thường trú”, có thể hiểu là khi nào có việc đột xuất hoặc theo chương trình ấn định trước thì vị đại diện lưu động này mới có mặt tại Việt Nam. Như vậy để giải quyết các vấn đề “Công Giáo” nổi cộm tại Việt Nam, lãnh đạo Nhà Nước Cộng Sản sẽ phải làm việc trên hai tuyến, tuyến một  là lãnh đạo Gáo Hội Công Giáo tại địa phương (HĐGM) tuyến hai chính là đại diện “không thường trú” này. Một cán bộ ngoại giao cao cấp của nhà nước CS cho rằng “Chẳng có giá trị gì (với chính quyền CS) với cái đại diện không thường trú này”.

Những Giáo Sĩ, Linh Mục, Giám Mục thuộc nhóm “tam ca” “lục ca” thì cảm thấy như đã bị Vatican đặt sang bên lề, họ không còn là đại diện duy nhất đối với Toà Thánh cũng như với Nhà nước Cộng sản, dù họ đang ở hàm phẩm nào. Hơn nữa cả thể chế Đảng trị đang lung lay có thể sập đổ bất cứ lúc nào. Giới lãnh đạo Cộng Sản quay cuồng trong cuộc sát phạt nội bộ trước Đại Hội, điều quan tâm lo ngại là “chiếc ghế” và những “đồng chí” của chính họ hơn là “ghế” hay số phận của các giới chức tôn giáo…

Vả lại “vắt chanh bỏ vỏ” là chuyện “thường tình cộng sản” thế thì tình cảnh của nhóm ”tam ca” “lục ca” thật là éo le … “giá”  của họ đã giảm hơn một nửa trước Nhà Nước Cộng Sản, cũng như Toà Thánh, nhưng có lẽ không còn gì đáng kể trong lòng những giáo dân chân chính. Như thế, việc tiến tới thành lập đại diện “không thường trú” tại Việt Nam là một  khẳng đinh của Vatican cho cục diện đang diễn ra trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Cái còn lại là  ai sẽ là tổng quyền cho cơ quan  đại diện “không thường trú” này? và lúc nào?

Ai sẽ là tổng quyền đại diện Tòa Thánh Vatican>

Rõ ràng cả chính quyền cộng sản, hay  những Đấng Bậc, Giáo Sĩ Linh Mục đã không hiểu, hay cố tình không hiểu sự thật. Trong bài Nhà Thờ hãy cảnh giác! chúng tôi đã nêu “Tinh thần Ngô Quang Kiệt” không phải là đất, là hồ, ao, là chiếc ghế hay cây ghậy Tổng Giám Mục. “Tinh thần Ngô Quang Kiệt là HIỆP THÔNG , là kết tinh của CÔNG LÝ, SỰ THẬT, HOÀ BÌNH.  Thế thì việc dâng thỉnh nguyện thư, căng những tấm băng-rôn không phải là đòi hỏi Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt mãi mãi tại vị, mà đòi hỏi là cần có một chủ chăn đích thực, một chủ chăn của “tinh thần Ngô Quang Kiệt”, một chủ chăn của “công lý, sự thật, hoà bình”.

Và cũng thế, việc bạch hoá, phơi bày những cái khiếm khuyết, bất công phi lý của Giáo Hội, hay một số Linh Mục Giáo Sĩ, Đấng, Bậc nào đó không phải là chống phá Giáo Hội, chính là đòi hỏi những Đấng Bậc, Giáo Sĩ, Linh Mục ấy phải sống làm việc xứng đáng với những danh phẩm, chức nhiệm của mình…

Lê Nin, quan thầy của Chủ nghĩa Cộng sản đã bị hạ xuống nhục nhã ngay tại quê hương

Tất cả vẫn còn kịp, kịp để những Đấng Bậc tay đã lỡ nhuốm “đỏ” bắt nhập với “sự thật” đâng nổi cồn lên như sóng triều dâng ngay trong cơ thể của Giáo Hội và bên ngoài kia dân tộc đang vận mình… cơ hồ nhấn chìm cả chế độ vô thần, dối trá, sa đoạ, tàn ác trong nay mai.

Chế độ Cộng Sản không có gì là  đáng sợ với một Giáo Hội thánh thiện, công giáo, tông truyền mấy trăm năm qua.

Hãy nhìn sang Ba-lan, sang đông Âu, sang Nga-xô mà xem… Chế độ Cộng Sản chỉ đáng để khinh bỉ, để không bao giờ người ta “đối thoại” hay “đồng hành” gì gì đó  như lời Tổng Thống Nga Medvedev đã nói to trên toàn thế giới về tội ác của Cộng Sản là  “không bao giờ hêt thời hiệu…”.

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam… có thấy ?

Hồ Học-Trần Trung Luận.


“Sự kiện Ngô Quang Kiệt”: Kỳ 10 – Giáo Hội sẽ đi về đâu

Tháng Sáu 21, 2010

Như chúng tôi đã nói, sự kiện Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt phải ra khỏi Hà Nội ngay trong đêm tối (12/5/2010) để thực hiện trọn vẹn cái Nghị quyết “quái gở” của chính quyền Hà Nội, là kết quả của những toan tính nhân loại, sự tiếp tay cho cái xấu, được thực hiện bằng một kịch bản công phu của dàn đồng ca áo tím, với người cầm trịch là Đức cha Giuse Võ Đức Minh – Giám mục Nha Trang, Chủ tịch UBTK trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam, đương kim Tổng Thư Ký HĐGMVN, đã tạo nên một “trang sử buồn cho Giáo Hội Việt Nam”.

Có thể nói rằng, chưa bao giờ trong lịch sử, Giáo Hội Việt Nam lại phải đối diện với nhiều thách đố đến từ bên trong cũng như bên ngoài Giáo hội như hiện nay.

Hình ảnh người giáo dân Hà Nội, quyết tâm dành trọn ba năm căng băng rôn, biểu ngữ để biểu lộ lòng yêu mến đối với Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt cho thấy một sự phân hóa sâu sắc ngay trong lòng Hội thánh. Những phát biểu của một số vị Giám mục trên các phương tiện truyền thông cho thấy một sự hoang mang ngay cả nơi thượng tầng kiến trúc của Giáo Hội.

Cái kết cục bi thương ấy có lẽ phải mất nhiều thời gian mới có thể hàn gắn được.

Tuy nhiên, những đổ vỡ trong lòng Giáo Hội như đang diễn ra, chưa phải là cái đáng sợ. Cái đáng sợ hơn cả là sau những “bước đi ngoại giao”, “những vở kịch hoàn hảo”, “những diễn viên lành nghề”, “những phản kháng kiểu người đời của nhóm lục ca áo tím không cho thấy một sự sám hối chân thành”, thì tiếp theo đây sẽ còn những vở bi hài kịch nào đang dành cho Giáo Hội Việt Nam? Giáo hội Việt Nam rồi sẽ đi về đâu?

Những hậu quả nhãn tiền

Ai cũng biết việc đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt bị trục xuất ra khỏi Hà Nội là hậu quả tức thời từ những tỏa hiệp giữa chính quyền cộng sản và một vài giới chức trong giáo hội.

Nhưng trước khi cùng Nhà nước đưa Đức cha Giuse ra khỏi Hà Nội, Giáo hội Việt Nam đã nhận phải những quả đắng mà còn lâu người giáo dân mới tiêu hóa nổi.

Như chúng tôi đã nói, chính quyền Hà Nội chỉ quay quắt đòi trục xuất Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt sau vụ việc xảy ra tại giáo xứ Thái Hà. Trong vụ việc Thái Hà, dù cay đắng, tức giận tới độ điên cuồng, thì chính quyền Hà Nội cũng không dám manh động đàn áp các giáo dân mà chỉ dám dùng truyền thông công kích, mạ lị Đức cha Giuse NgôQuang Kiệt và các linh mục Thái Hà.

Tuy nhiên, chỉ ngay sau khi rắp tâm thực hiện chiến dịch trục xuất ngài, nhất là kể từ khi chính quyền Hà Nội nhận được sự ưng thuận và hậu thuẫn của nhóm “lục ca áo tím”, sự giúp đỡ tận tình của Đức Ông Cao Minh Dung, thì cục diện đã bắt đầu thay đổi.

Câu nói của các Hồng Y, Giám mục đại diện HĐGM Việt Nam, trong chuyến bay dài hơn 2000 km từ Xuân Lộc ra Hà Nội để chào thăm Thủ tướng: “Đây không phải là chủ trương của HĐGMVN” đã khởi đầu cho một chiến dịch khủng bố người công giáo khát máu hơn.

Hàng loạt các vụ việc xảy ra sau đó như Tam Tòa, Loan Lý, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, trong đó các linh mục, tu sĩ, giáo dân, ký giả, đã bị đánh đập trọng thương. Mức độ tàn bạo trong các vụ việc này mỗi ngày một gia tăng. Nhưng HĐGMVN vẫn im lặng.

Thực ra, theo những thông tin chúng tôi đã nhận được, trong các vụ việc xảy ra sau vụ Thái Hà, đặc biệt là vụ chính quyền cộng sản đập nát Thánh giá Đồng Chiêm, sau khi đồng lòng ký thư hiệp thông với Đức cha Giuse Ngô QuangKiệt, các Giám mục Giáo tỉnh Miền Bắc đã đề nghị HĐGMVN lên tiếng về vụ chính quyền cộng sản đang đêm đập nát thánh giá Đồng Chiêm – biểu tượng của Đức tin Kitô giáo, nhưng nhóm lục ca đã cực lực phản đối và lèo lái dư luận vụ đập thánh giá sang tranh chấp đất đai; đồng thời, phản kháng lại bằng một bài viết gây nhiều tranh luận, đăng tải trên WHD: “HĐGMVN lên tiếng hay không lên tiếng”. Phải nói rõ rằng, bài viết này là kết quả của cuộc “đối thoại” giữa các Giám mục Giáo tỉnh Hà Nội và nhóm Lục ca áo tím.

Vào thời điểm ấy, rất nhiều người đã thắc mắc không biết tại sao đang ở vào một tình thế hết sức lo sợ cho sự an nguy của chế độ, chính quyền Hà Nội lại đã ngang nhiên thay đổi cách hành xử bất chấp pháp luật, bất chấp lương tri, bất chấp cả dư luận quốc tế như vậy?

Sở dĩ, họ dám mạnh tay đánh dập, bất kể nạn nhân là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, là bởi vì họ biết rằng: “Đây không phải là chủ trương của HĐGMVN” và tin tưởng rằng nhóm lục ca áo tím – với những vị Giám mục có quyền thế trong HĐGMVN, sẽ hết lòng ủng hộ họ. Và, quả thật, một sự im lặng đáng sợ của HĐGMVN trước các biến cố đau thương của Giáo hội, đã tiếp thêm sức mạnh cho chính quyền Hà Nội hỉ hả ra tay, quật ngã những chứng nhân công lý quằn quại trên vũng máu của những nạn nhân vô tội.

Những hệ lụy tai hại

Ngoài những hậu quả nhãn tiền, nhờ sự im lặng đáng sợ của HĐGMVN, đã biến nhà nước Việt Nam thành “nhà nước côn đồ” đối với dân oan và giáo oan, thì người ta bắt đầu thấy có những hệ lụy, những tác hại từ chủ trương thỏa hiệp với chính quyền cộng sản của một số Đức cha thuộc HĐGMVN.

Ngày tết Trung thu 2009, trong thánh lễ dành cho các cháu thiếu nhi, linh mục quản nhiệm nhà thờ Yên Bái, giáo phận Hưng Hóa đã long trọng rước tượng HCM vào thánh đường giáo xứ để các thiếu nhi chiêm bái, hay mới đây ngày 8/5/2010, tại giáo xứ Dị Nậu, Thạch Thất, Hà Nội – thuộc giáo phận Hưng Hóa, cờ Hội thánh đã được thay thế bằng cờ đỏ sao vàng được Thánh giá dẫn đầu trong cuộc rước kính Đức Mẹ. Trong hành trình rước quanh xứ đạo, người ta còn thấy bàn thờ HCM nghi ngút khói được đặt long trọng trên đường ngang hàng với bàn thờ Đức Mẹ. (Mời quý vị xem video cuối bài viết về cuộc rước này).

Bàn thờ Hồ Chí Minh trong cuộc rước Đức Mẹ ở xứ Dị Nậu - GP Hưng Hóa
Bàn thờ: Tượng Hồ Chí Minh đặt trước tượng Đức Mẹ và Thánh giá ở xứ Dị Nậu – GP Hưng Hóa

Bài hát “Đi Hồng Binh” được cử lên long trọng trong thánh lễ phong chức linh mục tại Giáo phận Sài Gòn ngày 11/6/2010 – (thông tin đang được kiểm chứng) nếu thực sự là đúng như vậy, thì quả là một thảm họa cho Giáo Hội Việt Nam.

Như chúng tôi đã nhiều lần cảnh giác, sự kiệnNgô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội chỉ là khởi đầu cho một chiến dịch thôn tính Giáo Hội, biến Giáo Hội công giáo Việt nam thành một Giáo hội quốc doanh, với một Giáo hoàng áo tím và một Ban Tôn giáo chính phủ là Vatican mới cho Giáo Hội Việt Nam. chính quyền Hà Nội trục xuất đức cha Giuse

Những tiên đoán, những cảnh giác ấy nay đã manh nha và đã hình thành một đường dây để đưa Giáo Hội Việt Nam tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, với tiêu chí “Phúc âm, Dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội”, với lý tưởng: “Đồng hành với Dân tộc là Đồng hành với Đảng cộng sản”, bằng phương thức “đối thoại với chiếc đầu gối”, “im lặng là vàng khi tổ quốc lâm nguy”.

Giáo hội Việt Nam sẽ đi về đâu?

Đứng trước những hiện tượng này, với những người yêu mến Giáo hội, chúng tôi thiết tưởng đã tới lúc cần phải mạnh mẽ lên tiếng để làm trong sạch hóa Giáo hội, đừng để Giáo hội trở thành vật trang trí cho chế độ cộng sản chuyên quyền thối nát.

Nếu muốn Giáo hội Việt Nam thực sựđồng hành với dân tộc” thì không còn cách nào khác, các vị lãnh đạo trong Giáo hội phải can đảm làm chứng cho công lý và sự thật, lên tiếng tố cáo những bất công, trước hết là những bất công mà chính quyền Hà Nội đã gây ra cho Giáo hội Việt Nam suốt hơn 60 năm qua.

Giáo hội Việt Nam đi về đâu?

Giáo hội Việt Nam sẽ không còn là của Dân tộc Việt Nam nếu Giáo Hội đã không bắt đầu từ việc Giáo hội lắng nghe tiếng kêu cứu của người nghèo, của những người dân oan đang bị đẩy ra bên lề Giáo Hội.

Giáo hội sẽ không còn là mình khi Giáo hội đánh mất bản chất là sự hiệp thông trong sứ vụ đến với muôn dân, nhất là hiệp thông trong sứ vụ phục vụ những những người cùng khổ.

Mời xem video Cuộc rước Đức Mẹ tại Giáo xứ Dị Nậu – Giáo phận Hưng Hóa:
http://www.youtube.com/v/sKKvPUYUbOA&hl=en_US&fs=1

18/6/2010

Nữ vương Công lý


“Sự kiện Ngô Quang Kiệt”: Kỳ 9 – Phản ứng của giáo dân và cách hành động tự đào hố chôn mình của HĐGMVN

Tháng Sáu 21, 2010

Không chờ đến khi thông tin về việc thay thế Đức Cha Kiệt ra khỏi Hà Nội thì giáo dân mới bày tỏ sự phản ứng của mình trước thái độ vô cảm, im lặng (Mà trong trường hợp này không thể nói gì hơn là sự đồng lõa) của HĐGMVN mà thực chất trong đó là do dàn “lục ca áo tím” khuynh loát.

Phản xạ tự nhiên của người tín hữu

Ngay từ khi nổ ra vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, nhiều tiếng nói đau đớn, đầy phẫn nộ đã cất lên đằng sau những thông tin đầy máu và nước mắt của giáo dân Hà Nội. Ngay tại TGPHN, nhiều giáo phận, nhiều giáo xứ, giáo hạt đã đồng tâm hiệp sức cầu nguyện, tỏ sự đồng hành, đồng cảm thì vẫn có những nơi án binh bất động.

Khi Tòa Khâm sứ bị bọn côn đồ vây hãm, Thái Hà bị đe dọa cả đêm bởi đám “Quần chúng tự phát… tiền” thì ngay lập tức ở GP Vinh, các linh mục Trưởng Hạt đã có cuộc họp đặc biệt. Trong cuộc họp đó mọi người nhất trí chỉ bàn đến một việc: “Nếu nhà cầm quyền CSVN liều lĩnh tấn công vào Tòa TGMHN, Tu viện Thái Hà… hoặc nổi máu côn đồ bắt đi các vị chủ chăn, thì 500.000 giáo dân Vinh hẳn nhiên xuống đường, vấn đề là có chặn lại các phương tiện giao thông ứng cứu cho Hà Nội hay không”?

Cũng chính những thông tin từ các giáo phận đã chặn bàn tay bẩn thỉu bạo lực này lại trước một tội ác trời không dung đất không tha mà chúng sẵn sàng thực hiện.

Trong khi đó, GP Bùi Chu, một giáo phận có truyền thống tiếng tăm mạnh mẽ nhất đã “lặng như tờ”. GM Hoàng Văn Tiệm, một ĐGM to béo đã không hề hé răng nửa lời để cảm thông với những người anh em đồng đạo của mình đang trước nanh sói dữ, tệ hại hơn những thông tin về tình hình giáo phận Hà Nội đã bị ngài bắt gỡ xuống khỏi bản tin các giáo xứ. Những cuộc tiếp xúc đông đảo các GM, chừng như sợ bị những người khác “cám dỗ” ngài chỉ im lặng ngồi một mình, ăn một mình và về một mình. Nhiều giáo dân Bùi Chu đã cảm thấy xấu hổ khi nói đến Đức GM giáo phận mình đã tự hỏi nhau rằng ĐGM vướng điều gì với CS, sao mà hèn thế?

Ngược lại các giáo dân khắp nơi đã tề tựu với tinh thần hy sinh về những điểm nóng, có những ngày nườm nượp người kéo về Thái Hà, Khâm sứ đến 15.000 người, những hình ảnh giáo dân về nơi nóng bỏng với khuôn mặt rạng rỡ tươi cười nó đối lập với khuôn mặt cúi thấp và bước đi lầm lũi của các GM của họ biết bao nhiêu.

Những xứ ở miền xa xôi như Yên Bái, Lao Cai, có những đoàn người đến hiệp thông với Thái Hà, với Khâm sứ, nhưng sau đó thì ĐGM đã thay bàn tay của nhà cầm quyền để trừng trị họ, một linh mục đã cất lên tiếng nói tố cáo tội ác và động viên giáo dân hiệp thông với những điểm nóng đã bị ĐGM Hưng Hóa thuyên chuyển với hình thức nhục mạ hơn một án kỷ luật.

Với Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt, giáo dân đã đặt trọn niềm tin yêu, không chỉ giáo dân, những người yêu mến đất nước tiến bộ, yêu mến sự thật, công lý đã đặt vào ngài nhiều thiện cảm và hi vọng.

Chính vì thế, khi những âm mưu thay thế Đức TGMHN được đưa ra, phản ứng dữ dội của giáo dân và những người này quả là lớn lao chưa từng có.

Những ai đã từng đến tham dự Thánh lễ thụ phong ĐGM Phụ tá Sài Gòn Nguyễn Văn Khảm hẳn không thể quên được cảnh khi ĐHY, các ĐGM khác được giới thiệu của BTC và kêu gọi vỗ tay thì vẫn bình thường, nhưng khi Đức Cha Kiệt xuất hiện thì cả quãng trường náo động, ngài xuất hiện ở đâu thì giáo dân xông đến biểu tỏ lòng yêu mến và ủng hộ… Những điều này, chắc hẳn không một ĐGM nào dự thánh lễ đó mà không biết.

Lẽ ra, trước những biểu hiện rõ rệt của lòng dân như vậy, các ĐGM nhất là trong dàn “đồng ca áo tím” sẽ tự biết mình cần làm gì, cần điều chỉnh mình ra sao để đáp ứng được lòng mong mỏi của giáo dân và xứng đáng với nhiệm vụ mục tử của mình.

Đạo diễn và Ca trưởng của vở bi hài kịch cho GHCGVNĐạo diễn và Ca trưởng của vở bi hài kịch cho GHCGVN

Vậy nhưng các “Giám mục” này đã không “dám” để “mục”, họ thể hiện sự đố kỵ và nhỏ nhen sau những biểu hiện đó của giáo dân như lời nói của ĐGM Võ Đức Minh: “Ông ấy (ĐC Kiệt) số năm linh mục ít hơn chúng tôi thì làm sao mà khôn hơn chúng tôi được”.

Và đúng là các ngài “khôn” thật. Ngay trong chuyến AdLimina tháng 6/2009, tại Đền thờ Thánh Phaolo ngoại thành, một nhân vật trong dàn “Tam ca áo tím” là ĐGM Phaolo Bùi Văn Đọc đã được phân công để nói thẳng vào mặt Đức TGMHN lúc đó là Đức Cha Kiệt rằng: “Nếu có ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ”.

Rồi sau đó, ĐGM Bùi Văn Đọc lại đưa ra một “Phương hướng đối thoại và hợp tác của Hội đồng Giám mục Việt Nam”. Ngay lập tức, bài viết đã nhận được sự phản ứng của nhiều tầng lớp giáo dân, giáo sỹ.

Trong Thánh lễ Thụ phong ĐGM Phát Diệm Nguyễn Năng, rừng cờ, biểu ngữ đã làm cổng chào cho các vị trong HĐGMVN và quan chức nhà nước CSVN chui qua để vào Thánh lễ, những băng rôn, những khẩu hiệu trên trán, trên đầu… nói lên nỗi lòng của giáo dân trước thông tin về Đức Cha Kiệt đã dấy lên mạnh mẽ. Rồi ngày hôm sau, tại TGM Thái Bình trong Thánh lễ nhậm chức của Đức Cha Nguyễn Văn Đệ cũng tương tự.

Có thể nói, những phản ứng của giáo dân đã thể hiện rõ ràng, thái độ của giáo dân đối với hàng Giáo phẩm đã lần đầu tiên được cất lên phân minh mạch lạc. Đây là cơ hội thật quý báu cho các ĐGM biết được lòng dân để điều chỉnh mình cho đúng đường lối Thiên Chúa mời gọi họ là “Đến để phục vụ” chứ không phải đến để áp dụng đường lối “Giáo sỹ trị” vốn đã không còn hợp thời sau Công đồng Vaticano II.

Nhắm mắt bước vào vũng lầy

Vậy nhưng, đã không có những tầm nhận thức như vậy, “Dàn đồng ca áo tím” thấy lòng dân nổi sóng đã bất chấp thực hiện nốt giai đoạn cuối của vở kịch mà họ đã dày công xây dựng và được sự hậu thuẫn, khuyến khích bởi nhà cầm quyền CSVN. Trong đầu họ, họ cho rằng đoàn “chiên” Hà Nội nói riêng và đoàn chiên Việt Nam nói chung, thực chất chỉ là một đàn cừu không hơn không kém, đuổi là đi, lùa là về chuồng, tất cả quyền lực nằm trong tay họ.

Chiến dịch vận động, tỉa tót để nhằm đẩy được Đức Cha Kiệt ra khỏi Hà Nội được vận hành rất nhịp nhàng, ăn khớp. Những ngày đó, theo thông tin chúng tôi nhận được, thì Tòa GM Nha Trang đã trở thành đại bản doanh cho những cuộc họp thực hiện chiến dịch này không chỉ của các ĐGM trong nhóm đồng ca, mà là của cả các cán bộ, quan chức nhà nước từ Hà Nội vào, từ Sài Gòn xuống.

Tòa Giám mục Nha Trang, đại bản doanh vở bi hài kịch của GHVNTòa Giám mục Nha Trang, đại bản doanh vở bi hài kịch của GHVN

Ngay chính trong GP của Giám mục Võ Đức Minh, giám mục Nha Trang đã thể hiện rất rõ đường lối cai trị đàn cừu như thế và đã rất “thành công”. Đó là đường lối yêu thương giáo dân đến cùng… đường và dùng lời Chúa bịt miệng giáo dân rất hiệu quả với phương châm “Ý bề trên là Ý Chúa”.

Tại GP Nha Trang, các vị trọng trách được ĐGM Võ Đức Minh chọn, đều có “thành tích” mà nhà cầm quyền CSVN rất khoái, những gót chân an ninh nắm được, cũng chính là cơ hội để họ thăng tiến tại GP này. Một giáo dân đã nói với chúng tôi như sau: Các linh mục địa phương đều được giám mục chăm sóc kỹ “yêu thương đến cùng đường” nhất là những cha trước đây không muốn ngài về Nha Trang.  Nhìn vào TGM NQK, các linh mục địa phương khiếp sợ trước uy dũng của ngài. Trên miệng vị GM luôn luôn phát ra câu: “các linh mục yêu quý”, nhưng qua cách đối xử trở thành “các linh mục yêu quái của tôi”.

Trong khi đó, nhân vật thứ hai trong “Tam ca áo tím” là ĐGM Bùi Văn Đọc đã từng hô hào “Nếu có ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ” để HĐGMVN thực hiện “Phương hướng đối thoại”. Rồi ngài cũng dõng dạc tuyên bố: “Chúa chỉ đòi hỏi chúng tôi “can đảm nói sự thật khi cần”, dù phải trả giá bằng mạng sống”.

Vậy nhưng chẳng cần trả bằng một cái gì ngoài lời nói, ngài cũng đã không đủ khả năng ngay cả khi Thánh Giá bị nhục mạ và đập tan.

Nhưng khi các ĐGM thực hiện đường lối “Im lặng là vàng… úa” bị chỉ trích và đòi hỏi, thì chính ngài lại đưa tấm gương của những người hồi giáo cực đoan khi lãnh tụ tinh thần họ bị xúc phạm để làm “phương hướng hành động” cho giáo dân.(!) Thậm chí, những tiếng nói không vừa lòng ngài, ngài đều xếp vào “thế lực thù địch” – một thành ngữ mà chỉ có CSVN hay dùng.

Hỡi ôi, miệng lưỡi của những người được gọi là Giám mục nhưng đã nhúng sâu vào âm mưu của bọn vô thần và trở thành công cụ của chúng.

Sau khi sự kiện Ngô Quang Kiệt được bạch hóa, hàng ngũ giáo dân Hà Nội chán nản trước tình hình Giáo hội, vậy nhưng đừng tưởng rằng đến đó là có thể kết thúc vở kịch.

Tự đào hố chôn mình

Những cuộc đón rước tưng bừng, hồ hởi, những nụ cười trên môi giáo dân khi đón Đức Cha Kiệt trước đây đã không còn chỗ để tồn tại khi ngài đã ra đi và giáo dân được nhận về một Đức TGM mà họ chưa nhìn thấy “Nhân danh Chúa mà đến” cách rõ ràng, nhưng họ nhìn thấy rõ ràng nhất là ngài đã đến “Nhân danh Nghị quyết của Thành Ủy Hà Nội”.

Vì vậy mà lòng dân xáo trộn, lòng người chao đảo, hẳn điều đó đã làm lắm vị không yên vì tự nhiên “đàn cừu” lại giở chứng?

Nhưng, dù các vị đó có bằng lòng hay không, thì điều đó không ngăn cản lòng tin của Giáo dân Hà Nội vào Thiên Chúa và vào Hội Thánh của Người.

Xin nhắc lại rằng Giáo hội, không chỉ là một vị Giám mục, Hồng Y nào đó, mà Giáo hội là cả hơn 6 tỷ người trên thế giới.

Tấm lòng giáo dânTấm lòng giáo dân

Và Thiên Chúa mà giáo dân tin, không phải là những Giám mục, những chức sắc chỉ biết ngậm miệng ăn tiền, thỏa hiệp với bạo quyền, đi ngược lại sứ mệnh của Giáo hội là “Vì những người đớn đau, nghèo khổ và phần rỗi của các linh hồn”.

Thật đã đến lúc cần suy nghĩ một điều: Đến trước Ngai tòa Thiên Chúa, Chúa cũng có thể hỏi một Giám mục như một giáo dân: “Khi ta đói, các ngươi đã không cho ăn, khi ta rách rưới, các ngươi đã không cho ta mặc” Thì khi đó, các ĐGM thỏa hiệp sẽ trả lời ra sao?

Hội đồng Giám mục Việt Nam đã có một thời được mọi giáo dân ngưỡng vọng và kính phục,chỉ cần nghe tên, mọi tín hữu đã thấy được niềm tin và lòng tự hào về tổ chức này. Tổ chức này đã trở thành nơi “thiêng liêng” được giáo dân dành cho sự kính trọng và tin tưởng đặc biệt.

Nhưng! Hội đồng Giám mục Việt Nam lại là một tổ chức lỏng lẻo không có nguyên tắc, không quy tắc, không có đường lối rõ ràng đã thể hiện sự lúng túng, bất nhất và thiếu sự nhất quán, chặt chẽ đã để cho một nhóm khuynh loát, lèo lái đi theo con đường thỏa hiệp với mỹ từ “Đối thoại” đã dần dần thể hiện những yếu kém của mình.

Phải khẳng định rằng, trong đó không thiếu các ĐGM đạo đức và hăng say, không thiếu các ĐGM thật sự là “mục tử nhân lành”.

Nhưng như ĐHY Phạm Minh Mẫn vẫn thường hay dùng “thói đời” là vậy. Những người công chính, ít khi quyết liệt và mạnh mẽ cho bằng con cái thế gian. Những cuộc họp, những buổi luận bàn, các ĐGM đạo đức ngại va chạm vì sự hiệp nhất, vì tình yêu thương đã phải nhường diễn đàn cho “Dàn đồng ca” có thể lực điều khiển và khuynh loát, hướng dẫn đưa HĐGMVN đi vào ngõ cụt khó lối thoát.

Khi Thánh giá Đồng Chiêm bị đập nát, khi các linh mục, giáo dân bị đánh tơi bời, HĐGMVN đã im tiếng dù đã có bao tiếng kêu than, đòi hỏi rất thẳng thắn.

Vậy thì làm gì có cơ hội để HĐGMVN lên tiếng trong đời sống giáo hội và xã hội?

Và đó cũng chính là vấn nạn mà HĐGMVN đang gặp phải, chưa thể dứt ra khỏi những vết trượt mình đã làm nên.

Còn giáo dân, những bức xúc sẽ qua đi, nhưng để tìm lại trong họ những gì đã có là lòng tin yêu, sự mến phục và lòng trung tín vâng phục tuyệt đối như trước đây, hẳn là điều không dễ dàng.

Đó chính là một thảm trạng của GHCGVN hiện nay.

Nữ Vương Công Lý

Kỳ tới: Giáo hội sẽ đi về đâu?


"Sự kiện Ngô Quang Kiệt": Kỳ 3 – Ván cờ không đánh mà tự thua của giáo hội công giáo

Tháng Sáu 21, 2010

    Điều tưởng là không thể có nhưng là sự thật

    Khi Nguyễn Thế Thảo chủ tịch UBNDTP Hà Nội tuyên bố thẳng thừng trong cuộc triệu tập các ngoại giao đoàn tại Hà Nội ý định đưa TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội, nhiều người đã nghĩ rằng Nguyễn Thế Thảo đang mang chứng bệnh hoang tưởng, vì với một chủ tịch TP, dù có muốn bằng chết cũng không có cách nào làm được việc đó.Tổng GMHN  Giuse Ngô Quang Kiệt trước UBNDTP Hà Nội
    Nhưng không ai biết được rằng: Nguyễn Thế Thảo không hoang tưởng mà đầy tự tin khi nói lên ý đồ đó.

    Những cơ sở nào để Nguyễn Thế Thảo có thể đặt ra một điều ngoài sức tưởng tượng của mọi người?

    Chỉ cần chăm sóc hàng giáo phẩm

    Thật ra, để nắm lấy Giáo hội Công giáo, nhà nước CSVN đã không phải từ bây giờ mà từ ngày xa xưa, nhiều chính sách, nhiều mưu đồ từ lớn đến nhỏ, từ chính đáng đến hèn hạ, từ đường đường chính chính đến những ngón “võ bẩn” đã liên tục được thực thi.

    Gần 60 năm cai trị của chế độ cộng sản ở miền Bắc và 35 năm cai trị toàn quốc, với hàng chục cơ quan nghiên cứu, ban tôn giáo, các loại công an, an ninh tôn giáo dày đặc, nhà cầm quyền đã rất dễ rút ra bài học: Để nắm chắc đạo công giáo, chỉ cần tóm được hàng giáo phẩm, thế là xong, bởi giáo dân Việt Nam có đức tính vâng lời tuyệt đối.

    Đức tính vâng lời của giáo dân Việt Nam là một truyền thống tốt đẹp, nhưng điều gì cũng có mặt trái của nó. Nếu giáo dân được coi sóc bởi một linh mục đạo đức, thanh sạch và sốt sáng, thì sự vâng lời của giáo dân nâng tầm đạo đức ở đó lên một bước.
    Trái lại, những người không đủ bản lĩnh trước những mưu mô (mà mưu mô thì luôn sẵn có đối với các chức sắc tôn giáo trong thiên đường XHCN) để nhà nước, công an nắm được “điểm yếu” thì chính sự vâng phục và tôn kính lại làm hại cho họ. Những chức sắc đó không dễ nhận mình là sai, là có lỗi, là vẫn mỏng dòn yếu đuối… trong khi chính các chức sắc vẫn chưa phải là thánh. Cũng chính vì bảo vệ cái “uy tín” mà nhiều khi thật ra không còn nữa của mình, nhiều vị sẽ lao theo con đường hướng dẫn của công an, bởi nếu bị tiết lộ sẽ chẳng còn đất sống.

    Một trong những thủ đoạn của công an áp dụng cho các chức sắc tôn giáo là giao lưu, là thân mật gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu… bằng những lời ngọt như “mía lùi”. Rồi sự thân mật đó lớn dần, đến một lúc nào đó tỉnh ngộ, thì những bằng chứng chống lại mình đã có đầy đủ trong tay công an, muốn quay về cũng khó. Và cứ thế ma đưa lối, quỷ dẫn đường.

    Những điều kiêng kỵ nhất của hàng giáo phẩm công giáo đối với giáo dân và dễ mất uy tín nhất, đó là đức “khiết tịnh”. Cũng chính đức khiết tịnh là cửa ải khó khăn nhất của những người tu hành, nếu không có đời sống đức tin vững vàng và sự hiệp nhất với tình yêu Thiên Chúa. Nắm được điểm yếu này, các cuộc tiếp xúc, các hoàn cảnh o ép, tạo điều kiện… của các cấp luôn rộng mở để các chức sắc tự đánh mất mình. Khi ma quỷ cùng kết hợp với mưu mô của cộng sản, thì thiên đàng cũng phải đổ nát là chuyện không khó.

    Ngoài ra, cũng tùy đặc điểm cá nhân từng người khác nhau trước sự cám dỗ bởi danh tiếng, thích nổi bật, tiền của, danh vọng… những chiêu thức áp dụng cho mỗi người đều có những tham mưu và kế hoạch cụ thể. Có thể với người này là bản “thỏa thuận hợp tác” trước khi được nhà nước đồng ý cho cất nhắc, cho bổ nhiệm. Có thể với người kia là những hình ảnh, chứng cớ thu được bằng hệ thống theo dõi có hệ thống từ khi khởi nghiệp đời tu… Tất cả đều được bảo vệ cẩn thận “như bảo vệ con ngươi của mắt mình”.

    Nhiều khi, chẳng phải do chính các vị tu hành đó gây ra tội lỗi gì, nhưng lý lịch cha ông, họ hàng, anh em có quan hệ với “các thế lực thù địch”… cũng là một cái giá để công an đem ra mặc cả trong việc có đồng ý hay không việc bổ nhiệm.

    Nhiều vị đã nhận được câu nói rất đặc trưng như sau: “Ở Việt Nam, dù Chúa có chọn, nhưng đảng không chọn thì đừng hòng nhận chức”.

    Với vô vàn lưới hiểm giăng ra, các chức sắc giáo hội dù đi đường nào cũng khó thoát.

    Và khi cá đã mắc lưới, thì vẫn được quẫy đạp nhưng trong sự tuyệt vọng hoặc ngoan ngoãn bơi theo sự chỉ đạo của an ninh.

    Những cái quẫy đạp vô vọng của con cá mắc lưới

    Dù Hội Thánh đã xác định rõ con người là sự mỏng dòn, yếu đuối và mong manh, việc phạm lỗi là chuyện dễ có, và kêu gọi sự sám hối thành tâm để được tha thứ. Nhưng ít có một vị nào trong hàng giáo phẩm vượt qua được những sự mặc cảm, giấu giếm để tạo nên một vỏ bọc hoàn hảo trước con mắt dân chúng. Chính điều này đã dần dẫn bị công an, chính quyền lợi dụng làm sức ép khi họ có trong tay những bằng chứng chống lại những chức sắc, đấng bậc này.

    Khi đã nhận được vị thế cao trọng trong giáo hội với những cái giá phải trả không nhỏ, các tiến chức cũng dễ dàng bằng nhiều cách để giữ lấy vị trí đó hoặc thăng tiến cao hơn. Từ đó xuất hiện sự thỏa hiệp, sự hợp tác hoặc ít nhất cũng là sự im lặng, sự nhượng bộ, giả điếc làm ngơ… trước những điều lẽ ra phải lên tiếng.

    Nhưng để biện minh cho những việc trái khoáy này, các chức sắc đã dẫn nhiều lý do nghe có vẻ rất “chính đáng” nào là: Thánh ý Chúa, sự khôn ngoan, đối thoại, hòa bình, yêu thương kẻ thù, nhẫn nhục…. đủ cả những ngôn từ đẹp đẽ nhất được trích dẫn từ Thánh Kinh.
    Trong địa hạt toàn giáo hội, các giám mục chỉ lo chăm sóc cho những quyền lợi giáo phận mình được “tốt đời, đẹp đạo”, được tưng bừng phấn khởi là xong, còn bên cạnh là chuyện người khác. Chính điều đó phá hủy tình hiệp nhất trong giáo hội.
    Một linh mục mạnh mẽ hiệp thông, nói lên sự thật, chăm lo đời sống nhân dân được nhân dân mến yêu nhưng không được nhà cầm quyền ưa chuộng, chỉ cần một cuộc thăm viếng tới Giám mục Giáo phận, thì ngay lập tức linh mục đó được cho nghỉ hưu hoặc thuyên chuyển đến nơi thâm sơn cùng cốc mặc giáo dân kêu gào.

    Hai mươi năm qua, những thỏa thuận của Vatican với nhà nước Việt Nam trong việc bổ nhiệm các tiến chức đã phát huy nhiều hậu quả tai hại, nay đã đến lúc phát tác.

    Dĩ nhiên, nói lên điều này, không có ý gom tất cả hàng giáo phẩm vào đây, nhưng tác động của những chính sách này phải thẳng thắn công nhận là không hề nhỏ.
    Và chính quyền Cộng sản biết rất rõ khi nào cần lật con bài nào.
    Chính vì vậy, khi Nguyễn Thế Thảo tuyên bố việc “đưa TGM Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội” là khi nhà cầm quyền Hà Nội đã lượng được khả năng nào để thực hiện việc đó.

    Phương cách thực hiện

    Ai cũng biết, sức mạnh của giáo hội Công giáo theo đường lối Thiên Chúa là Sự thật, vì “Ta là đường, là Sự thật và là Sự sống” bên cạnh đó, một giáo hội mạnh mẽ là giáo hội hiệp nhất và biết đồng hành cùng những người đau khổ.

    Vì vậy, khi giáo hội mất đi sự thật và sự hiệp thông, thì sức mạnh của giáo hội chỉ là… con hổ giấy. Nắm được điều này, nhà cầm quyền CSVN ra sức dùng đủ mọi mánh lới để chia rẽ GH.

    Những cuộc tiếp xúc với những lời hoa mỹ, trịnh trọng ngọt ngào và những hoa tươi, những câu nói đẹp lòng từ quan chức cộng sản đã nhiều khi làm cho các bậc tu hành nghĩ rằng mình đang được trọng vọng và giáo dân cũng thế.

    Một trong những phương pháp nhà cầm quyền hay làm là đến với từng vị trong hàng Giáo phẩm VN “khuyên răn”, thỏa hiệp về lợi lộc, về quyền lợi của mình… để các vị đó im lặng.

    Người ta thấy rõ điều đó qua những chuyến thăm của Thủ tướng Dũng đến Tòa GM Đà Lạt và sau đó là nhượng bộ ở Trung Tâm Mục vụ, xin một thì cấp cho ba. Điều đáng nói hơn, là việc khởi công rầm rộ được đưa lên TV nhà nước ngay trước những lời thóa mạ cách vô sỉ với giáo dân và linh mục ở Tam Tòa bị nhà cầm quyền dùng vũ lực đánh cho tan tác và sau khi TV nhà nước đã nhục mạ, cắt xén vu cáo một TGM đáng kính của Hà Nội.

    Người ta thấy trong những ngày nước sôi lửa bỏng ở Thái Hà, các giám mục, linh mục và giáo dân khắp nơi đến với Thái Hà, thì Đức GM Bùi Chu Hoàng Văn Tiệm không hề có mặt, và ngay khi đó là Nhà thờ Khoái Đồng được trả lại. Thậm chí một nguồn tin chưa được kiểm chứng nói rằng linh mục chủ tế Thánh lễ nhận lại nhà thờ Khoái Đồng còn tuyên bố: “Không cần cầu nguyện, vẫn đòi được nhà thờ”?

    Rồi ở một TGP khác như TGP Huế với vị TGM luôn lấy “im lặng là vàng” bỗng nhiên được nhà nước trả lại hơn 20ha đất đai La Vang, nơi mà trước đây đã phải có cả đội cảm tử mới chặn lại được đoàn xe ủi đất làm khách sạn trên đồi Thánh Giá.

    Người ta cũng thấy sau đó một số giáo phận khác với những tài sản đòi hàng bao năm không được trả lại nay được giải quyết vội vàng.

    Chính những điều đó đã che lấp đi một sự thật là những nơi như Khâm sứ, Thái Hà, Tam Tòa… người ta đang đòi một cái lớn lao hơn: Sự thật, Công lý. Chính sự nhìn nhận chỉ là miếng đất, ngôi nhà thờ… mà một số giáo phận đã đi vào con đường “chỉ biết phần mình” mà thiếu đi sự hiệp thông.

    Thường cha ông ta đã nói: “Ăn của chùa thì ngọng miệng”. Ở đây, “của chùa” là ân huệ mưa móc mà chính quyền CS đã ban cho một số nơi khác để cô lập TGPHN dưới sự lãnh đạo của TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đang đòi Công lý, Sự thật.

    Sự thiếu hiệp thông lên tiếng với những bất công xã hội và GM Nhon chao TRngay trong hàng ngũ các Giám mục là cơ hội vàng cho nhà cầm quyền tiêu diệt một TGMHN bằng tất cả các thủ đoạn đê hèn. Trong khi đó, lá bài được một số giám mục đưa ra là “đối thoại” với nhà nước hòng kiếm sự yên thân.

    Trong những ngày nước sôi lửa bỏng khi nhà cầm quyền mang chó, cảnh sát và vũ khí tới bao vây Tòa TGMHN để làm “vườn hoa” Tòa Khâm sứ, thì Hội đồng GMVN đã không có một tiếng nói đanh thép, dứt khoát trước hành động vô luân và vô luật này. Ở đó TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt nhận được từ Chủ tịch HĐGMVN Nguyễn Văn Nhơn câu nói ứa nước mắt: “Chúng tôi chỉ đồng cảm mà không đồng thuận”.
    Khi đã không “đồng thuận”, thì chẳng thế “đồng hành”, còn sự “đồng cảm” chỉ để cho TGMHN thấy sự cô đơn của mình qua ánh mắt thương hại.

    Người ta còn nhớ, tại lễ an táng Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng, Tòa thánh đã ủy nhiệm cho Hồng Y Phạm Minh Mẫn làm sứ thần Tòa Thánh để đến dự lễ tang. Một thông tin đáng tin cậy cho biết: Với vai trò sứ thần Tòa Thánh, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã đặt vấn đề với các Giám mục không được đến Thái Hà để “Giáo hội mở đường đối thoại”.

    Quả nhiên, kể từ lễ tang HY Phạm Đình Tụng, các Giám mục đã không đến Thái Hà, dù có những vị đã đăng ký dâng Thánh lễ tại đó từ trước.

    Cũng trong dịp lễ tang HY Phạm Đình Tụng, một số Giám mục về dự lễ tang đã không chú trọng lắm đến Thánh lễ mà chỉ nhăm nhăm “khuyên” TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt rằng nhân dịp này phải tỏ sự hữu nghị, thiện chí với nhà nước bằng cách tận dụng cơ hội này để đi “cảm ơn UBNDTP Hà Nội”(!) Quả nhiên, khi TGMHN và đoàn tùy tùng đến UBNDTPHN, thì đã không được đón tiếp.

    Những thái độ, cách hành động của một số giám mục trong thời gian “khổ nạn Ngô Quang Kiệt” là nguyên nhân chính để TGMHN hiểu rõ sự cô đơn, khó khăn của mình.

    Đó là nguyên nhân của những biến động tiếp theo của căn bệnh mất ngủ, của những lá đơn từ chức, của quyết định thay thế TGMHN cách khá lộ liễu sau này.

    Không chỉ có ở trong GHVN, con đường ngoại giao, tiếp xúc của Hà Nội còn vươn tới tận Vatican, nơi mà những người công giáo bình thường bao giờ cũng có cái ngước mắt cung kính, ngưỡng mộ và tin tưởng rằng những quyết định từ đó hẳn ít có sai lầm bởi đó là “Giáo hội mẹ khôn ngoan”.

    Nhưng bàn tay ma quỷ, lông lá của CSVN đã không chừa cả nơi thâm nghiêm nhất của Giáo hội Mẹ. Chính vì vậy mà Nguyễn Thế Thảo đã tự tin khi tuyên bố bằng mọi cách đuổi TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội.

    Trong cuộc cờ “đồng hành với dân tộc” này, Giáo hội Công giáo Việt Nam không đánh mà đã tự thua.

    Ngày 20/5/2010

    Nữ Vương Công Lý

    Kỳ tới: Những bước chân ngoại giao

    “Sự kiện Ngô Quang Kiệt”: Kỳ 5 – Vở kịch “hoàn hảo”

    Tháng Sáu 21, 2010

    Ở đây, việc đưa Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà nội đã được thực hiện bằng quyết định của chính Đức Thánh Cha, người có quyền quyết định mà không có một giáo hữu nào được chống đối. Như vậy, vở kịch đã đạt được kết quả khả quan phần đầu.

    Nhưng, sẽ là hoàn hảo hơn nếu như khán giả không nhận ra những điều bất thường, không nhìn thấy bàn tay người đạo diễn tinh vi đằng sau hậu trường đang lèo lái vở kịch theo chiều hướng tiêu cực và không la ó phản đối.

    Đặc biệt sự phản đối đó có nguy cơ làm cháy vở diễn các phần còn lại, mà phần kết mới là quan trọng cho toàn bộ chương trình.

    Kịch bản và những diễn viên chính

    Ai cũng biết Giáo hội Việt Nam cho tới giờ này vẫn thuộc Miền Truyền Giáo. Vì thế, những vấn đề liên quan tới việc bổ nhiệm Giám mục vẫn thuộc Bộ Truyền giáo. Trong vụ việc Đức cha Kiệt phải rời khỏi chức vụ, để hợp pháp hóa chuyện đi ở của ngài, người ta đã đẩy vấn đề qua sang lãnh vực ngoại giao và Đức cha Giuse trở thành con cờ trong chính sách ngoại giao của Tòa Thánh. Trong đó, nhà cầm quyền Hà Nội yêu cầu đánh đổi đức cha Kiệt với việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà cầm quyền Hà Nội.
    Khởi đầu chiến dịch ngoại giao này là việc lần đầu tiên trong lịch sử, nhà cầm quyền Hà Nội đứng ra mời phái đoàn ngoại giao Tòa Thánh sang Việt Nam vào tháng 2/2009.
    Các lần khác là do Vatican đề nghị. Cũng trong chuyến làm việc lần này, một nhân vật mới lần đầu tiên xuất hiện trong phái đoàn ngoại giao là Đức ông Cao Minh Dung – đặc trách vùng Đông Nam Á, người mà nhà cầm quyền Hà Nội tin tưởng vì đã có công trong vụ rước Thánh giá về Tòa Giám mục Hà Nội.
    Nội dung của buổi làm việc không được công bố chính thức, bản tin TTXVN của nhà nước loan tin rằng: “Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường bày tỏ mong muốn Tòa thánh Vatican đóng góp tích cực vào đời sống Công giáo ở Việt Nam, tăng cường quan hệ đoàn kết giữa các tôn giáo và qua đó tới khối đoàn kết toàn dân ở Việt Nam, làm cho Giáo hội Công giáo Việt Nam gắn bó với dân tộc và đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước”.

    Nhưng theo thông tin nhận được, trong lần làm việc này, nhà cầm quyềnHà Nội đã lấy việc đưa Đức cha Giuse ra khỏi Hà Nội làm điều kiện cho việc thiết lập ngoại giao.
    Những ngày ở Hà Nội trong chuyến về làm việc lần đầu tiên này, Đức Ông Cao Minh Dung luôn tìm cách lẩn tránh mọi người và tỏ vẻ hốt hoảng mỗi khi có người đề cập tới vấn đề cầu nguyện cho công lý và hòa bình.
    Đức ông Cao Minh Dung trong phái đoàn ngoại giao TT đến Việt Nam 2.2009
    Nguồn tin cũng cho biết cụ thể: Trong chuyến thăm Việt Nam này, phải đoàn Ngoại giao của Tòa Thánh không nghỉ ở Tòa TGMHN mà được nhà nước bố trí ở khách sạn. Đức ông Cao Minh Dung không thể về Huế, nhưng nhà nước đã cho xe vào quê đón họ hàng, anh chị em ra ở nhà khách chính phủ để tâm sự, hàn huyên thoải mái hơn.
    Câu hỏi nhiều người ta đặt ra: Tại sao nhà nước ưu ái Đức ông này như thế?
    Ngay sau khi kết thúc những ngày làm việc tại Hà Nội, phái đoàn Tòa Thánh đã tới thăm Lavang rồi tới Đà Lạt. Kể từ đây, việc đưa Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội và việc bổ nhiệm Đức cha Nhơn ra Hà Nội được thực hiện cách bài bản, với những kịch bản được soạn sẵn.
    Đạo diễn cho vở kịch này là Đức ông Cao Minh Dung (chúng tôi sẽ có bài viết riêng về ngài) và các “diễn viên” trong nước gồm Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Đức cha Giuse Võ Đức Minh và Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc (ba giám mục gốc Giáo phận Đà Lạt) và một vài nhân vật khác mà người ta thường gọi là “Tam ca Áo tím”, nhưng thực chất phải nói là “Lục ca áo tím” thì mới đầy đủ.
    Hình các Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, Võ Đức Minh, Bùi Văn Đọc hồi còn trẻ. Ảnh Simonhoadalat
    Các Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, Bùi Văn Đọc là phụ phong trong lễ tấn phong đàn em là GM Võ Đức Minh
    Kể từ đây, một đường dây thỏa hiệp với nhà cầm quyền cộng sản nhằm đánh đổi Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt với việc thiết lập bang giao của Tòa Thánh với nhà cầm quyền cộng sản bắt đầu được các diễn viên và đạo diễn thực hiện cách hết sức tinh vi. Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt trở thành nạn nhân và là con cờ trên bàn ngoại giao của Tòa Thánh.
    Cần nhớ lại những phát biểu của phái đoàn ngoại giao những ngày còn ngụ tại Hà Nội. Trong cuộc gặp gỡ với các chủng sinh Chủng viện Hà Nội, Đức ông Parolin đã nói rõ Tòa Thánh mong muốn cải thiện mối quan hệ ngoại giao đã dậm chân tại chỗ trong suốt thời gian 20 năm kể từ lần đầu Đức Hồng y Etchegaray tới Việt Nam năm 1989.
    Sự cải thiện ấy, trước tiên bằng việc cải thiện nhân sự. Đức ông Cao Minh Dung thay Đức ông Nguyễn Văn Phương – người đã làm thông dịch viên cho Tòa Thánh suốt 20 năm qua trong các chuyến công tác tại Việt Nam.
    Trở lại vấn đề ngoại giao để đưa Đức cha Kiệt ra khỏi Hà Nội, một mặt, tại quốc nội, nhà cầm quyền cộng sản tìm mọi cách để o bế Đức cha Chủ tịch Nguyễn Văn Nhơn bằng việc cấp đất xây Trung tâm Mục vụ, bằng việc Thủ tướng lần thứ hai viếng thăm Đức cha Nhơn tại Tòa Giám mục Đà Lạt (ngày 18/8/2009) và dùng truyền thông công kích Đức cha Kiệt, các linh mục Thái Hà, Tam Tòa và những nơi đang nóng lên về những đòi hỏi công lý hòa bình.
    Mặt khác, tại Ý, ngày 22/8/2009, Đại sứ Đặng Khánh Thoại đã có buổi làm việc với đại diện ngoại giao đoàn Vatican bàn về việc thiết lập quan hệ ngoại giao và tiếp tục chơi đòn “trở ngại lớn nhất” là sự hiện diện của Đức Cha Kiệt tại Hà Nội.
    Với những bước ngoại giao đầu tiên này, kể cả những báo cáo không đúng sự thật về Đức cha Kiệt trong vụ Tòa Khâm sứ, dưới con mắt của Quốc vụ Khanh và ngoại giao đoàn, Đức cha Giuse khả kính, không còn là vị chứng nhân của công lý, nhưng là sự trở ngại cần loại bỏ trên con đường tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao và việc loại bỏ này được giao cho vị đặc trách vùng Đông Nam Á: “Đức ông Cao Minh Dung”.

    Với tài cán và kinh nghiệm của một người từng trải trong lãnh vực ngoại giao tại nhiều đại diện Tòa Thánh ở nhiều nơi, cùng với tham vọng trở thành khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam khi Tòa Thánh thiết lập quan hệ ngoại giao, và với những mối quan hệ sẵn có, Đức Ông Cao Minh Dung đã hoàn thành vai trò của mình để đưa Đức cha Kiệt ra khỏi Hà Nội.
    Theo thông tin chúng tôi có được, hiện nay Đức ông Cao Minh Dung đã có đề án thành lập “Đại diện ngoại giao của Tòa Thánh cho Việt Nam” để giải quyết các vấn đề ngoại giao với VN có thể văn phòng đặt tại Singapore hoặc Philippin chứ chưa đặt tại Hà Nội. Đại diện Tòa Thánh cho Việt Nam sẽ do Đức ông Cao Minh Dung điều hành, phụ trách và đã lựa chọn một người thông hiểu nhiều ngoại ngữ để làm việc tại đó cũng một số người khác do Đức ông Cao Minh Dung lựa chọn.
    Nếu điều này là hiện thực, Đức ông Cao minh Dung sẽ tiếp tục cùng với “dàn diễn viên áo tím”- với tham vọng lần đầu tiên trong lịch sử có công thiết lập quan hệ ngoại giao, cùng với chiếc mũ đỏ sẽ được ban phát khi hoàn thành nhiệm vụ, sẽ cùng nhau diễn nốt vở kịch gây nên những nỗi bi thương trong lòng người Công giáo Việt Nam trong suốt thời gian qua và chắc chắn sẽ còn để lại những hậu quả khôn lường cho Giáo hội Việt Nam.
    Nữ Vương Công Lý

    Kỳ tới: Những chi tiết của vở kịch bi hài

    “Sự kiện Ngô Quang Kiệt” Kỳ 4: Những bước chân ngoại giao

    Tháng Sáu 21, 2010
      Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến Tòa TGMHN

      Trong vụ việc Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt phải rời khỏi Hà Nội, chính sách nắm các “lãnh đạo tôn giáo” của nhà cầm quyền Hà Nội đã phát huy tác dụng cho nhà nước và tác hại to lớn với Giáo hội Việt Nam.

      Với miếng mồi “thiết lập quan hệ ngoại giao”, cùng với sự giúp đỡ đắc lực của những nhà tu hành “mắc lưới”, Đức cha Giuse đã phải rời khỏi Hà Nội bằng một kịch bản hết sức tinh vi, đúng như lời Phó Chủ tịch HĐGMVN Giuse Nguyễn Chí Linh nói: “Điều đáng sợ nhất là HĐGMVN không biết mình sẽ là cái gì đối với những người đứng ở hậu trường tìm cách phá hoại giáo hội. Tôi vẫn tin rằng có những người họ có cả một kế hoạch, ngay cả có kịch bản làm cho giáo hội Việt Nam tan nát”.

      Trở ngại “Ngô Quang Kiệt” và những bước đi dọn đường
      Trước tiên, để hiểu được vở kịch này, cần thiết phải xác định đâu là thời điểm mà nhà cầm quyềnHà Nội không còn con đường nào khác phải tìm cách trục xuất Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt?
      Tháng 1/2008, vụ Tòa Khâm sứ nổ ra, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt chính thức phát động phong trào cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình với lời tuyên bố đanh thép: “Nếu có ai phải đi tù vì cầu nguyện, tôi sẽ đi thay”. Cảm thấy ngọn lửa công lý và sự thật có thể thiêu rụi cả một chế độ thối nát, nhà cầm quyền Hà Nội đã phải tuyên bố sẽ đàn áp thẳng tay. Tuy nhiên, nhận thấy những đe dọa ấy không làm giáo dân chùn bước và việc đàn áp rất dễ dàng nhưng hậu quả thì chưa hẳn là như ý muốn. Nhà cầm quyền Hà Nội bèn dùng chiêu khác, một mặt, dụng chiến thuật “đàm phán, đối thoại”, lừa gạt đánh vào sự cả tin của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, mặt khác, họ tìm tới sự trợ giúp từ Rôma.
      Ai cũng biết, sau thời điểm giờ G qua đi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Hưởng đã tới Tòa Giám mục Hà Nội để gặp Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt với những lời hứa ngọt ngào rằng sẽ giải quyết; đồng thời cả hai cùng âm thầm thân hành tới Tòa Giám mục Đà Lạt gặp đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn.
      Ngay lập tức sau đó, một lá thư từ Rôma do Hồng Y Bertone gửi tới Đức cha Giuse yêu cầu rước Thánh giá về.
      Ở đây cần tìm hiểu rõ hơn một chút về lá thư Hồng Y Bertone gửi Đức cha Kiệt yêu cầu rước Thánh giá về. Vào thời điểm đó, tháng 2/2008, nhiều người đã rất ngạc nhiên về lá thư này. Ai là người đã tấu trình lên Quốc Vụ khanh những sự kiện nóng hổi tại Tòa Khâm sứ, nhằm triệt hạ phong trào cầu nguyện cho công lý? Ai là người giúp nhà cầm quyền Hà Nội tác động lên Tòa Thánh để Tòa thánh ra một văn thư hoàn toàn xa rời thực tế đang diễn ra tại Tòa Khâm sứ khi đó?
      Sau lá thư của Hồng y Bertone, Đức cha Giuse đã quyết định rước Thánh giá về – một cuộc rước tràn đầy nước mắt của giáo dân Hà Nội. Vụ Tòa Khâm sứ tạm thời khép lại.
      Cho tới thời điểm này, phải nói rõ rằng, nhà cầm quyềnHà Nội chưa có ý định trục xuất Đức cha Kiệt ra khỏi Hà Nội. Nhưng, người ta đã thấy lộ rõ một nhân vật bí ẩn, đang làm việc tại Rôma, đã tiếp tay cho Nhà cầm quyềnHà Nội giải quyết êm đẹp vụ Tòa Khâm sứ.
      Cách thực hiện lời hứa của chính quyền Cộng sản VN
      Nhưng vụ Tòa Khâm sứ đã không thể giải quyết, những lời hứa của quan chức nhà nước ở cấp cao, tạo lòng tin cho Đức Cha Giuse bởi ngài tin rằng ít nhất họ còn chút “uy tín và tự trọng” với lời nói của mình. Nhưng thật ra, Đức Cha Giuse đã quá tin vào những điều không bao giờ có thật. Những lời hứa của người cộng sản nhanh chóng thể hiện rằng đó là những lời nói của chú Cuội trên cung trăng.
      Phái đoàn cao cấp của Vatican đến hà nội ngày 09/06/2008, mở đầu chuyến thăm Việt Nam một tuần liền. Phái đoàn do Thứ trưởng Ngoại Giao, Đức Ông Pietro Parolin, dẫn đầu đã gặp Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm để tiếp tục bàn về những vấn đề hai bên quan tâm như đất đai, tài sản của Giáo hội và việc bổ nhiệm các Giám mục.
      Phái đoàn cũng đã làm việc với UBNDTP Hà Nội, cuộc làm việc này báo chí không được phép tham dự, thành phần phía VN được chỉ định. Trong cuộc họp đó, hai bên đã có những cuộc tranh cãi nẩy lửa và UBNDTP Hà Nội đã hiện nguyên hình là một kẻ quay quắt. Mọi vấn đề họ gây ra trái pháp luật, vô đạo đức đều được đổ riệt cho Đức Cha Giuse. Đến lúc này, cú lừa mà Đức Cha Giuse nhận được đã hiện hình rõ nét.
      Mọi sự chắc sẽ êm đẹp, Đức cha Kiệt sẽ không bị thù ghét và bị trục xuất, nếu như đã không có vụ việc tại giáo xứ Thái Hà.
      Đức TGMHN thăm giáo dân bị bắt
      Ngày 15/8/2008, giáo dân Thái Hà rước thánh giá vào khu đất của giáo xứ. Một số giáo dân bị bắt. Đức Tổng tới thăm các nạn nhân. Sự can đảm của ngài một lần nữa khiến nhà cầm quyềnlo sợ. Đỉnh điểm của cao trào đấu tranh cho công lý và sự thật là việc Đức cha Giuse đã mắng vào mặt các quan chức “giẻ rách” Hà Nội ngay tại UBND Hà Nội ngày 21/9/2008, rằng: “Tôn giáo là quyền chứ không phải cái ơn huệ xin – cho”.
      Lời nói đó như một nguyên tắc hiển nhiên, một điều tất yếu không cần bàn cãi, cả bộ máy UBNDTPHN ngồi họp nhăn nhở cười cảm ơn Đức Cha Kiệt và ra về.
      Nhưng ngay sau đó, đám thầy dùi đã tham mưu cho nhà cầm quyền Hà Nội một “kế hoạch” mà sau này chính kế hoạch này đã trở thành lưỡi dao chặt đứt chút tín nhiệm cuối cùng của nhân dân Việt Nam và cộng đồng thế giới vào hệ thống lãnh đạo và truyền thông Việt Nam: Cắt xén, vu cáo và bôi nhọ TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt cách bất lương nhất. Những tư liệu truyền thông đã chứng minh điều này ngược lại những gì nhà cầm quyền Hà Nội đã rêu rao.
      TGM Giuse Ngô Quang Kiệt: Tự do tôn giáo là quyền, không phải ân huệ Xin – Cho
      Nhà cầm quyền Hà Nội đã nhận được sự khinh bỉ của công luận thế giới, của ngay cả nhân dân Việt Nam công giáo và không công giáo qua vụ việc vu cáo và “chơi bẩn, ăn gian” cho thấy rõ nhân cách thấp hèn của họ, đặc biệt là sau khi đã nuốt lời hứa với Tòa TGMHN.
      Trót ăn vụng thì phải làm càn, bất chấp liêm sỉ, ngay lập tức, dưới sự chỉ đạo của nhà cầm quyềnTrung ương, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã 2 lần ra văn thư yêu cầu HĐGMVN thuyên chuyển Đức cha Kiệt và các linh mục Thái Hà ra khỏi Hà Nội. Và, trong thế cuộc buộc phải trả lời, HĐGMVN đã đưa ra một bản quan điểm và một Văn thư khẳng định “Đức cha Giuse không vi phạm điều khoản nào trong bộ Giáo luật”.

      Dù sao, Bản Quan điểm và tờ Văn thư của HĐGMVN, vào thời điểm đó khiến nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng việc đưa Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội không phải là chuyện dễ dàng. Chỉ có Tòa Thánh mới có đầy đủ quyền hạn để thuyên chuyển một vị giám mục ra khỏi địa phận mà vị đó đang quản lý. Vai trò của HĐGM chỉ là tư vấn và tham khảo để Tòa Thánh đưa ra những quyết định phù hợp với lợi ích của Giáo hội địa phương.
      Bên cạnh đó, với bối cảnh cả Tổng Giáo phận Hà Nội rực lửa hiệp thông, từ các Giám mục cho tới các giáo dân (trừ Giám mục Hưng Hóa Antôn Vũ Huy Chương và Giám mục Bùi Chu Giuse Hoàng Văn Tiệm) tất cả đều về Hà Nội chia sẻ hiệp thông với Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, nhà cầm quyền cộng sản thừa hiểu rằng việc dùng bạo lực để đàn áp và trục xuất Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội ngay lập tức là điều không khả thi.
      Biết được những khó khăn này, nhà cầm quyềnHà Nội đã tổ chức rất nhiều cuộc họp để tìm biện pháp đưa Đức cha Giuse ra khỏi Hà Nội. Một nghị quyết đã được nhà cầm quyềnHà Nội ban hành theo đó trong năm 2010 phải bằng mọi giá đưa được Đức cha Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội, và họ quyết tâm thực hiện cho bằng được.
      Sau vụ rước Thánh giá từ Tòa Khâm sứ về Tòa Giám mục Hà Nội, nhà cầm quyền Hà Nội thấy rằng việc thuyên chuyển Đức cha Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội không phải là khó, bởi họ biết rằng đến rước Thánh giá về họ còn làm được thì việc đẩy một Tổng Giám mục có thể thực hiện được.
      Sự tự tin của họ thể hiện rõ nhất qua vụ việc Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo mời ngoại giao đoàn tới UBND Hà Nội để thông báo về việc đưa Đức cha Giuse ra khỏi Hà Nội. Việc Nguyễn Thế Thảo mời các vị đại sứ tới để thông báo về việc đưa đức cha Giuse ra khỏi Hà Nội khi đó đã bị công luận phản đối, chê cười là ngu muội, nhưng thực ra, nó cho thấy thế thượng phong của nhà cầm quyềnHà Nội trong vụ việc này.
      Họ đã chắc được đường đi, vì họ đã nắm được các con bài chủ chốt từ trong nước cũng như từ Vatican, những người một lần đã giúp nhà nước giải quyết thế cờ bí “Thánh giá Tòa Khâm sứ”.
      Nữ Vương Công Lý
      Kỳ tới: “Vở kịch hoàn hảo”