Trước hiện tình Giáo hội tại Việt Nam, nên nghĩ gì và làm gì?

Tháng Mười 13, 2010

1. Về hiện tình Giáo Hội tại Việt Nam

Trước tiên, phải nói ngay rằng tình hình hiện nay tại Giáo hội Việt Nam hết sức đáng bận tâm. Nhiều người theo dõi các vụ việc từ mấy năm qua, cảm thấy bực bội và chán nản. Khởi đầu là những buổi thắp nến cầu nguyện đòi công lý và sự thật, xuyên qua việc yêu cầu chính quyền trả lại toà Khâm sứ, trong một thời gian liên tiếp cả gần hai tháng trời vào cuối năm 2007, đầu năm 2008 giữa tiết đông mưa rét, rồi lan sang tháng Tám năm 2008 tại nhà thờ Thái hà, Đồng Chiêm, Tam Toà, Loan lý, Cồn Dầu v.v… Cuối cùng là cuộc thay bậc đổi ngôi ở toà Giám mục Hà Nội và sự ra đi vội vàng, tủi nhục của Đức Cha Ngô Quang Kiệt ngày 12.5.2010.

Lễ đón Tổng GM Phó Nguyễn Văn Nhơn tại Nhà thờ Lớn Hà Nội

Đó là những giọt nước làm cho chiếc ly đầy tràn, và là ngọn gió thổi bùng lên cơn giận dữ tức tối của giáo dân Hà nội và nhiều giáo dân khác ở khắp nơi trong nước cũng như ngoài nước. Giáo hội chúng ta đang có một sự phân hoá trầm trọng vì phản ứng khác nhau, trước mọi sự diễn ra, là điều khó tránh khỏi, trong cộng đồng tín hữu cũng như trong hàng giáo phẩm, linh mục và tu sĩ. Có thể nói đấy chính là sự chia rẽ không sao che giấu nổi. Nó đập mạnh vào mắt người trong đạo cũng như ngoài đạo. Điển hình là lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục của ĐC Nguyễn Văn Nhơn trước sự lạnh lùng thấm thía của giáo dân Hà nội, bên cạnh những cách thế biểu dương nồng nhiệt lòng mến phục của họ đối với ĐC Ngô Quang Kiệt.

Rồi trên mạng, qua các bài viết của người trong nước cũng như ngoài nước, người ta thấy có một sự sút giảm lòng tín nhiệm của nhiều người đối với Hội Đồng Giám Mục. Qua những bài ấy, có những người nghĩ rằng đó là do ma quỉ tìm cách chống phá Giáo hội. Gần đây, ông Phan Văn Phước ở Dusseldorf bên Đức có viết một bài đề là Ai chống Giáo hội Công Giáo (1.7.2010).

Theo ông, không phải ai nói những điều không hay về các vị chức sắc hay cơ cấu trong Giáo hội là chống phá. Rồi ông đưa ra những dẫn chứng như sau : “Điều thật đáng buồn là người lên tiếng vì yêu Giáo hội thì lại bị chụp mũ là phỉ báng các Đấng thay mặt Chúa cùng các Đấng làm Thầy, chống cha, chống Chúa, chống Giáo hội. Để minh chứng điều vừa nói là có tình có lý, tôi xin nêu lên các danh ngôn sau đây :

a) của Đức Cố Giáo hoàng Gio-an XXIII : “Ai phê bình, thậm chí chỉ trích tôi, người ấy là bạn. Còn ai tâng bốc tôi, người ấy là thù.”

b) của bậc thánh hiền : “Gạo bỏ vào cối, có đâm, có giã, có sứt, có mẻ, có nát mới trắng tựa bông.”

c) của Sainte-Beuve : “Đối với tôi, được phê bình là điều thú vị để biết tư tưởng của người khác, chứ không phải để khống chế các tư tưởng ấy.”

d) của Heinrich Heine : “Người muốn được khen là người trọng lời phê bình.”

Cho dù chẳng ai muốn có tình trạng như trên trong Giáo hội chúng ta hiện nay, nhưng thật chẳng may khi sự chia rẽ đó lại do chính những hành động của người trong Giáo hội chúng ta gây nên. HĐGM của chúng ta mất một phần thế giá. Nhiều linh mục trong một vài giáo phận kia không còn tin phục giám mục của mình nữa. Tại một giáo phận khác, có những linh mục xin rời khỏi các chức vụ được giao phó. Có nơi linh mục than van vì bị giám mục làm bẽ mặt trước cán bộ. Một số tín đồ công khai bày tỏ thái độ phản kháng khi viết : “Đã 35 năm qua đi, với bao nhiêu định hướng mang tính chỉ đạo và bao nhiêu sáo ngữ cũng như lạm dụng sự vâng phục của khối tín hữu để cắt đầu bỏ đuôi lời Chúa mà “ban ra” hết thông báo này đến thư chung nọ, để rồi ngậm ngùi ru nhau cho khoả lấp đi những điều thiếu sót, những điều không biết nói, không dám nói.” (Phạm minh Tâm: nói chuyện với đầu gối)

Lý do mấu chốt của sự hoài nghi và mất tin tưởng vào HĐGMVN dẫn đên nhiều ngộ nhận đối với Toà Thánh Vatican là bức thư của ĐHY Bertone đề ngày 30.1.2008 gửi ĐT Kiệt hồi ngài còn tại chức, khuyên giáo dân thôi cầu nguyện ở Toà Khâm sứ và việc bổ nhiệm ĐC Nhơn làm Tổng Giám Mục Phó với quyền kế vị. Phải chăng đúng như nhiều người cho rằng do những thông tin sai lạc và những ý kiến của đa số các giám mục muốn mà HĐGM VN đã lôi cả Vatican vào cách hành xử theo hướng của Nhà Nước và vô hình trung lọt vào quĩ đạo của họ. Trước sự hoài nghi và bất tín nhiệm này, HĐGMVN tỏ ra lúng túng, khó ăn khó nói với cộng đồng tín hữu và có nói ra, người ta cũng ít tin và cho là “ngôn ngữ gỗ”, như bản Lời chủ chăn của ĐHY Phạm Minh Mẫn đề là: “Việc cần làm trong hiện tình của chặng đường theo Chúa hôm nay”, phát cho các người đi dự lễ phong chức linh mục ngày 11.6.2010 vừa qua. Có linh mục nhận mà không đọc, có người đọc mà thấy nhạt nhẽo không có sức thuyết phục.

Ngoài ra, những ai đọc Sự kiện Ngô quang Kiệt” từ bài số 1 cho đến số 10 (đăng trên Nữ Vương Công Lý -BBT) hẳn đã thấy rõ một nửa sự thật chưa được nói tới, nay được bạch hoá để trả lời cho Cơ quan thông tin của HĐGM.

Muốn nói gì thì nói, nguyên một sự yên lặng trước các việc đã xẩy ra và trước một tình trạng đất nước như hiện nay thì sự yên lặng của HĐGM sẽ bị coi như một sự ngầm thoả thuận, một trạng thái bị thuần hoá. Thuần hoá là từ của giám mục Nguyễn Quang Tuyến nói với linh mục Nguyễn Hữu Lễ trong thời gian chữa bệnh ở Mỹ. Linh mục Lễ đã dùng lại từ này để nói về các giám mục. Cũng lại linh mục Lễ đã làm xôn xao dư luận tại Mỹ năm 2007, khi viết bài nói về mục vụ xin tiền. Hồi đó, người ta kịch liệt phản đối ông. Nhưng bây giờ nhiều người lại cho là ông có lý.

Giáo dân với Đức cha Giuse Ngô Quang KiệtNói chung, phần đông người công giáo V.N. lúc nào cũng có lòng trọng kính các giám mục, ngay cả bây giờ. Sự trọng kính đó có điểm hay và không hay. Hay là duy trì được sự gắn bó giữa mục tử với “đàn chiên” và không hay là làm cho các mục tử yên trí lớn rằng vì lòng trọng kính, “đàn chiên” sẽ không dám phê bình nhận xét gì cả về lời lẽ, hay cung cách hành xử của mình, bởi nói phạm đến cha là phạm đến Chúa. Chính vì lòng trọng kính này phần nào bị sứt mẻ trong tình thế hiện nay, mà có những người tỏ ra lo ngại cho sự hợp nhất của Giáo hội.

2. Vậy phải nghĩ thế nào?

2,1 Một sự rạn nứt

Phải thành thật công nhận rằng đã có một sự rạn nứt trong Giáo hội, trước sự ra đi khỏi toà Tổng Giám Mục Hà nội của ĐC Ngô Quang Kiệt, đành rằng sự ra đi đó có thể là cái giá phải trả cho việc khả dĩ thiết lập bang giao giữa Nhà Nước và Toà Thánh và việc ĐGH sang thăm Việt Nam. Thêm vào đó là lời tuyên bố của ĐHY Phạm Minh Mẫn rằng Giáo hội miền Bắc còn sống theo não trạng tiền Công Đồng.

2,2 Một sự mất uy tín

HĐGMVN mất uy tín vì sự yên lặng triền miên của mình qua các sự việc nổi cộm liên quan đến các cuộc bức hại của chính quyền đối với “con chiên bổn đạo”, và tình hình lâm nguy của đất nước trước hoạ ngoại xâm cũng như sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo lý.

2,3 Một sự giảm thiểu

Sự giảm thiểu lòng trọng kính trông thấy của nhiều giáo dân đối với hàng Giáo phẩm và linh mục vì tác phong và cách hành xử của một số vị.

2,4 Mất tự do và độc lập

HĐGM bị coi như mất tự do và độc lập trước chính quyền, và xem ra như là một thứ đồ trang trí để củng cố cho chế đõ.

2,4 Một sự nhát đảm của HĐGM không dám nói dám làm những điều thuộc bổn phận và chức vụ của mình.

2,5 Một khuynh hướng yên thân, không muốn làm hay nói điều gì có thể gây khó dễ cho mình, tuy bổn phận do chức vụ hay ích chung đòi phải làm, phải nói.

3. Vậy phải làm sao ?

3,1 Cầu nguyện và phó thác

Vấn đề tiên quyết vẫn là cầu nguyện và phó thác, xin Chúa ra tay sắp xếp và định đoạt lại theo chương trình của Người.

3,2 Không để mình bị ru ngủ

Cần tỉnh táo đề phòng để khỏi bị ru ngủ và mê hoặc bởi các cơn cám dỗ về danh vọng quyền lực, và những đặc quyền đặc lợi cùng những ảo ảnh,vẻ hào nháng bên ngoài của các cơ sở, nhà thờ, dòng tu, trung tâm mục vụ, lễ nghi hoành tráng, mà quên rằng đạo không phải là thế và chỉ có thế.

3,3 Khiêm tốn

Nhận rằng mình có lỗi và tìm cách sửa chữa chứ không lo biện hộ và tránh né.

3.4 Hiên ngang

Không đối đầu, nhưng hiên ngang nhận mình là những người tin theo Chúa mà không sợ hãi hay thoả hiệp với cái xấu, cũng không tìm cách làm đẹp lòng người đời như thánh Phao-lô nói: “Nếu tôi còn tìm cách làm đẹp lòng người đời thì tôi không phải là đầy tớ của Đức Ki-tô.” (Gl 1,10)

3.5 Lấy lại uy tín

HĐGM cần lấy lại uy tín bằng các hành động thiết thực hợp với tư cách và sứ mệnh của mình. Mà một trong những hành động hàng đầu, ấy là : “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.” (2 Tm 4,2)

3.6 Dám nói

Dám nói, khi cần phải nói, về những sự việc liên quan đến quyền lợi và uy tín của Giáo hội cũng như giáo dân, như trường hợp anh Năm bị đanh chết ở Cồn dầu và lời tuyên bố của bà Ngô thị Thanh Thuỷ về linh mục Phan khắc Từ.

Kết luận

Những điều nói ra trên đây thật đau lòng và buồn chán. Sự thật là thế đó. Nhưng nói ra liệu có mấy ai nghe và chắc sẽ bị gán ghép cho là theo phe chống đối HĐGM. HĐGM đã bị tấn công rồi, sao lại còn toa rập mà tấn công nữa. Phần đông các linh mục tu sĩ và nhiều giáo dân nghĩ như thế. Người ta cứ bảo nói làm gì nữa cho người ngoài biết để người ta khinh thường Giáo hội. Nhưng lương tâm buộc phải nói trước tình trạng đáng buồn này.

L.m. Anrê Đỗ xuân Quế o.p.


Ai miệt thị dân tộc?

Tháng Mười 12, 2010

Ba Lan và chuyện miệt thị dân tộc

Theo tin mới ghi nhận ngày 09/10/2010 từ nước Ba Lan, một quốc gia Trung Âu cựu chư hầu của Liên bang Sô viết, ngày 6 tháng 10 Quốc hội Ba Lan đưa ra dự thảo nghị quyết lấy năm 2011 là “Năm Czesław Miłosz”, mang tên một nhà văn Ba Lan. Czesław Miłosz là luật gia, nhà ngoại giao, nhà ngoại giao, nhà thơ, nhà văn, sử gia văn học. Ông trốn thoát chế độ CS từ năm 1951và sống lưu vong trên đất Pháp và Hoa Kỳ. Ông từng nhận nhiều giải thưởng văn chương cao quý trong đó có giải Nobel về Văn học (1980). Sau khi chủ nghĩa CS sụp đổ, ông hồi hương năm 1993 và là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan và Hội Nhà văn Ba Lan.

Vì căm thù chê độ Cộng sản thống trị Ba Lan bằng bạo lực và áp bức khiến người dân Ba Lan và cả đất nước Ba Lan không ngóc đầu lên nổi, ông Czesław Miłosz, trong nhiêu tác phẩm của mình, đã trút cơn giận lên đất nước mình với những lời lẽ mà người ta cho là miệt thị dân tộc, như: Đối với Ba Lan không có chỗ nào trên trái đất” (trong cuốn “Năm của Hunter”), “Nếu người ta cho tôi phương pháp, tôi sẽ làm nổ tung đất nước này trong không trung” (trong cuốn Châu Âu gia đình), “Ba Lan là mảnh vườn tối tăm” (trong cuốn Nghĩa vụ cá nhân)[1]

Sau nhiều tranh cãi gay gắt, Quốc Hội Ba Lan hiện thời cuối cùng đã đi tới dồng thuận. Bất chấp những mối nghi ngờ và thành kiến, tất cả các đảng trong Quốc hội đều chính thức tuyên bố sẽ bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết chọn năm 2011 làm năm kỷ niệm và tôn vinh ông Czesław Miłosz[2] gọi năm 2011 là “Năm Czesław Miłosz”.

Tại Việt Nam: Lời phát biểu của vị TGM

Ngày 20/9/2008, công khai tại Trụ sở UBND Thành phố Hà Nội, trước mặt đông đảo quan chức Đảng và Chính quyền CSVN, Đức TGM Ngô Quang Kiệt dõng dạc tuyên bố:

“Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng. Thế nhưng chúng ta không phải chỉ có tình cảm mong muốn là đượcphải có lý luận xây dựng thật là vững chắc trền nền tảng pháp lý. (Xin đọc “Nguyên văn lời phát biểu của ĐTGM Ngô Quang Kiệt trong cuộc họp với UBND Hà Nội,”

Nguyên văn câu kết luận lời phát biểu của Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt là thế đó sau khi ngài trình bày quan điểm “phản biện” trung thực của ngài, nhận định phê bình sắc bén và chính xác cái cơ chế bất minh bất chính của chế độ mà Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND Thành phố là nhân vật điển hình. Vị Tổng Giám mục nhắm thẳng vào ông Thảo: “Ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân thành phố đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo hội Công giáo trong những năm qua, nhất là dịp lễ Noel…chúng ta phải công nhận trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho. Tức là cái này là cái ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo điều đó cho người dân, chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải cái ân huệ ‘Xin Cho’.”

Xuyên tạc, trả thù

CSVN liên tục sử dụng quyền thông tin độc tôn, độc đảng ra sức xuyên tạc, bóp méo ý tưởng đầy thiện hảo của Tổng Giám mục Kiệt bằng cách chỉ rút ra một phân đoạn trong câu nói của vị lãnh đạo tôn giáo rằng “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét”, rồi diễn dịch phóng đại nó ra thành một ý xấu, để chụp cho cái mũ “miệt thị dân tộc”.

Cả nhà nước lẫn truyền thông đảng trị hùa vào nhau tấn công Đức Tổng Giám mục trong khi đó lại nghiêm cấm không cho ai nói lên tiếng nói trung thực, bênh vực lẽ phải khiến những người có thiện tâm trong nước, cả lương lẫn giáo, buộc lòng phải tìm chỗ để nói lên sự thật. Nhờ kỹ thuật điện tử, tiếng nói của những người trung thực chân chính ấy được bung ra khỏi nước, tung đi khắp năm châu để cho công luận người Việt trên thế giới nhận rõ chính-tà.

Tội nghiệp thay! Những con người tử tế, trung thực và yêu nước ấy lại bị nhà cầm quyền trong nước săn lung, quy chụp cho cái tội phản động, tay sai của “thế lực thù địch diễn tiến hòa bình”.

Riêng với Đức TGM Ngô Quang Kiệt, CS Hà Nội quyết nhân cơ hội này triệt hạ cho bằng được uy tín của ngài đồng thời tiếp tục gán ghép cho những người lên tiếng bênh vực sự thật là “vọng ngoại”, “cực đoan quá khích”, “tạo điều kiện cho các thế lực thù địch kích động, đánh phá…” (công văn của UBND TP Hà Nội số 1370/UBND-TNMT ngày 21/8/2008). Chỉ trong tài liệu này, CS Hà Nội có tới 2 lần lặp lại lời kết tội ĐTGM Ngô Quang Kiệt: “… lời phát biểu hàm ý miệt thị dân tộc của ông Ngô Quang Kiệt” hoặc “ông Ngô Quang Kiệt phát ngôn những từ ngữ hàm ý miệt thị dân tộc”.

Đặc biệt trên trang chủ của báo An Ninh Thủ Đô online trong nhiều tháng cuối năm 2008 và gần suốt một năm sau liên tục xuất hiện hàng ngày hàng giờ cái điệp khúc “Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt miệt thị dân tộc – Bạn nghĩ sao?” Một hình thức khích động, xỏ xiên, chửi bới, nhục mạ, phỉ báng hạ cấp, nhắm vào uy tín của “đối tượng”, chỉ vì uy tín của Đức Tổng là vật cản lớn cho sự sống còn và phát triển của chủ nghĩa độc tôn, độc tài khát máu và nhũng loạn (Nhũng loạn, chứ không đơn thuần nhũng lạm!). Cùng với tờ ANTĐ, báo Hà Nội Mới cũng đóng vai nô bộc ngậm máu phun mặt người, bẩn thỉu tấn công Đức TGM Ngô Quang Kiệt và người Công giáo Hà Nội bằng những lời vu khống hàm hồ như vậy.

Lật tẩy lưu manh

Là người dân Việt tôn trọng lẽ phải, tôn trọng sự thật, chúng tôi không thể im lặng trước thái độ ngoan cố và dã tâm sâu độc của CSVN.

Cái tiền đề “miệt thị dân tộc” trên tờ ANTĐ và trên các công văn chính thức của CS Hà Nội đã là lời khẳng định kết tội, thì câu hỏi “bạn nghĩ sao” mà tờ ANTĐ nêu ra cho người đọc trả lời trên thực tế chỉ là cách ép buộc “người góp ý” đưa ra những lời đáp tâng bốc chế độ và triệt hạ đối phương mà thôi! Đố ai dám trả lời ngược lại. Mà giả dụ có ai gửi đến báo ANTĐ một câu trả lời ngược với mục đích tuyên truyền của đảng, tác giả câu trả lời có lẽ khó mà yên  thân với cơ quan an ninh CS. Và dĩ nhiên câu trả lời chẳng những sẽ không được đưa lên mặt báo mà còn được dùng làm bằng chứng để ghi tên người trả lời vào sổ bìa đen liệt vào thành phần phản động chống Đảng. Lại giả sử có ai đó cắc cớ hỏi ngược lại báo ANTĐ “ai miệt thị ai” thì liệu công cụ bạo lực của đảng có cho kẻ ấy sống yên không?

Sự thực, báo ANTĐ có lẽ chẳng cần có người trả lời đúng ý đảng. Cò mồi đầy dẫy! Thủ thuật tuyên truyền xã hội chủ nghĩa mà! Vả lại, sự ngụy tạo câu trả lời và tên người trả lời lắm khi cũng là đòn dương đông kích tây hữu hiệu, một mũi tên hạ ba bốn con nhạn thì tại sao lại không tận dụng cơ hội này???

Tờ ANTĐ đã dùng tới chiêu thức ấy.

Bên dưới bài viết “Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt miệt thị dân tộc – Bạn nghĩ sao?”, báo ANTĐ ngày 22/9/2008 trưng ra một loạt ý kiến với địa chỉ email và danh tánh người góp ý trong đó có cái e-mail “được cho” là của ng van hung (loan_in2007@yahoo.com) trả lời rằng, ông Tổng Giám mục là “kẻ làm chính trị đội lốt tôn giáo phá hoại về an ninh chính trị, làm bất ổn đời sống xã hội…”. Thế nhưng chỉ vài ngày sau, Nguyễn Văn Hùng chính hiệu có địa chỉ email là loan_in2007@yahoo.com, đã lên tiếng lật tẩy tờ ANTĐ ăn cắp địa chỉ email của anh, để chế ra một nội dung mà anh Hùng không hề viết và cũng chẳng hề gửi cho báo nào kể cả báo ANTĐ (Xin đọc tờ An Ninh Thủ Đô ngày 22/9/2008 và bài viết của chính Nguyễn Văn Hùng tức ng van hung (loan_in2007@yahoo.com) dưới nhan đề “Lật Tẩy An Ninh Thủ Đô” đăng trên nhiều blog và báo điện tử ngày 28/9/08).

Nguyễn Văn Hùng này vốn là thành viên của một tổ chức đấu tranh cho dân chủ, dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam. Cho nên, mưu mô xảo quyệt của tờ ANTĐ là dùng một cái email ngụy tạo, đánh gục một lúc 2 “kẻ thù” lợi hại – ĐTGM Ngô Quang Kiệt và anh Nguyễn Văn Hùng. Lại thêm một lợi thế khác là gây xáo trộn cho tổ chức đấu tranh của anh Hùng, tạo sự ngờ vực giữa họ với nhau để đẩy tổ chức ấy tới chỗ mâu thuẫn nhau và tan rã.  Một chuyện nhỏ ấy cũng đủ bộc lộ chân tướng lưu manh của CSVN huống hồ là bao chuyện lớn nhỏ khác.

Dùng tuổi thơ truyền bá đạo tà

CSVN còn sử dụng một thủ đoạn hạ cấp ác độc khác bỉ ổi và đê hèn gấp bội, đó là phịa ra những mẩu đối thoại hỗn xược, xấc láo, đặt vào miệng trẻ em, đưa lên tờ báo dành cho thiếu niên, xúi giục trẻ con bôi nhọ, nói xấu nhà lãnh đạo tôn giáo hầu gieo rắc hận thù, hoang mang, đố kỵ chứa đầy tính mất dạy trong đầu óc tuổi trẻ. (Báo Thiếu Niên Tiền Phong số 79 (9-2008) trang 3, mục “câu chuyện thứ tư”, tựa đề “Ông ấy có còn xứng đáng?”). Lối xử sự tồi tệ ấy của Cộng sản chẳng những làm nổi bật sự vô giáo dục của chính họ, mà còn cho thấy vì sao nền giáo dục trong nước ngày một thêm quái đản, một thứ nền giáo dục đầu độc tuổi thơ, bày vẽ trẻ con tập tò cái thói điêu ngoa hồ đồ, nhồi nhét trong đầu óc các em tính tị hiềm, đố kỵ, thù ghét, hỗn xược, xấc láo hoàn toàn nghịch lại truyền thống dân tộc “KÍNH GIÀ, NHƯỜNG TRẺ” đồng thời chống lại nền giáo dục đào tạo nhân phẩm con người, tập cho con trẻ tính thật thà, trung thực và lòng yêu chuộng công lý.

Vậy thì ai miệt thị dân tộc? Đã không dạy cho giới trẻ lòng nhân hậu và trung thực thì chớ, CSVN còn dùng tuổi thơ quảng bá tà đạo, dẫn dắt các em đi theo con đường bất trung, bất tín, bất nghĩa! Cố tình tiêm nọc độc bất lương vào đầu óc lớp trẻ một cách nham hiểm đê tiện, đó không phải chỉ là miệt thị dân tộc mà còn ám sát thủ tiêu cả tinh thần dân tộc trong đầu óc giới trẻ. Sách lược “trăm năm trồng người” đó à? Thế thì tội nghiệp biết mấy cho đất nước và mẫu người tương lai của một đất nước tràn ngập gian dối này! Chẳng nhục nhã lắm sao cho một quê hương mà sách lược giáo dục đầy nọc độc lộng hành đến mức ấy?  Làm sao xã hội Việt Nam có thể tốt hơn lên được khi càng ngày các trò lươn lẹo xảo trá lưu manh càng lên ngôi bá chủ khắp đất nước?

Nhà thơ Lê Thành Nghị trong bài viết Tín Hiệu Trung Thực nêu rõ: “Mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người bắt đầu từ tính trung thực. Niềm tin ban đầu cũng bắt nguồn từ đó, và rồi cội rễ của mọi sự quyết định, sắc thái của mọi hành vi cá nhân và sự bền chắc của tình cảm cũng bắt nguồn từ đó. Vì vậy giáo dục tính trung thực là then chốt đối với mỗi công dân[3].”

Nhưng tiếc thay! Những bài viết như vậy có bao giờ các quan chức CSVN đọc tới! Những người cầm đầu cai trị dân nước lại dạy con em không được làm người chân thật. Thế thì ai miệt thị dân tộc, ai phỉ báng Tổ quốc?

Hàng rào mảnh chai và mũi sắt nhọn hoắt

Có một thời (năm 2006), báo Thanh Niên mở ra một Diễn đàn với chủ đề “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ.” Diễn đàn kéo dài khoảng ba tháng xem ra sôi nổi và thu hút được nhiều tiếng nói. Dĩ nhiên, Diễn đàn có cái giới hạn của nó vì không phải tiếng nói nào cũng được đón nhận, nhất là những tiếng nói đụng chạm tới đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa, những tiếng nói phương hại cho việc tuyên truyền củng cố quyền lực độc đảng. Tuy nhiên, vẫn có những tiếng “đối kháng” khéo  “lách”, đã được đăng tải trên báo, sau đó được tập hợp trong cuốn sách có nhan đề “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ” tập 1 và tập 2.  Không ít bài viết mà cả nhan đề lẫn nội dung rất dễ bị lên án là miệt thị dân tộc, là chống phá, may mắn vượt được cái truông nhà Hồ đầy cọp dữ để đến với người đọc., đại loại như:  “Nước chưa lớn, mỗi người Việt phải tự xấu hổ” (tập 2, trang 45); “Không thể lớn nếu cứ mãi đi sau người khác” (tập 2, trang 63); “Văn hóa ‘biết ngượng’”; “Hãy nói thật và ngẩng đầu lên” (tập 2, trang 124)…

Lại cũng không ít nội dung chứa đựng những ý tưởng phê phán “phản biện” mà các quan chức CSVN cho là rất khó nghe!. Chẳng hạn, một tác giả “dám” viết: “Tôi đã đi hơn 50 nước trên thế giới, tôi sợ nhất ở Việt Nam là cái hàng rào. Hàng rào kiên cố cắm đầy mảnh chai và những mũi sắt nhọn hoắt…”

Đó là“những hàng rào, barrie tâm lý hết sức nguy hiểm, cản trở con người đến với nhau, hợp tác với nhau, dẫn đến nếp nghĩ và lối sống hạn hẹp, ích kỷ[4].” Tác giả kết luận: “Tôi nghĩ, để đi tới chân lý, mọi ý kiến công dân đều bổ ích.”

Ý kiến của ĐTGM Ngô Quang Kiệt chẳng bổ ích lắm sao? Tại sao những kẻ có trách nhiệm trị nước lại hốt hoảng trước ý kiến đầy xây dựng của ngài, để vừa dựng lên cái “hàng rào kiên cố cắm đầy mảnh chai và những mũi sắt nhọn hoắt…” vừa đào thêm những cái hố sâu hoắm cốt chôn vùi uy tín của ngài và manh nha vùi chôn cả tôn giáo của ngài?

Bấm trúng huyệt

ĐTGM Hà Nội không nói bâng quơ giữa trời. Không nói với con chiên mình. Cũng không nói với quảng đại quần chúng. Thậm chí không nói với truyền thông. Ngài nói thẳng với người lãnh đạo thành phố trong khi hai bên trực diện nhau trong một buổi “làm việc” nghiêm túc do chính quyền triệu tập, công văn của UBND TP Hà Nội số 1370/UBND-TNMT ngày 21/8/2008 nêu rõ buổi “làm việc” chứ không phải buổi họp). Điều này cho thấy Đức Tổng Giám mục đang ở vào tư thế nào. Ở giữa hang hùm mà ngài chẳng chút sợ hãi. Ngài bình tĩnh bộc bạch tấm lòng trung thực, dù biết lời thật chẳng những mất lòng mà còn nguy hiểm cho bản thân.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt khẳng khái nhắm thẳng vào quan chức đầy quyền uy mà ngài đang đối diện là ông Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo: “Ông Chủ tịch nói rằng: Uỷ ban nhân dân thành phố đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo hội Công giáo trong những năm qua…”

Tiếp theo, ngài đáp lễ một cách ngoạn mục lời nói của ông Thảo: “Khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho. Tức là cái này là cái ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo điều đó cho người dân, chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải cái ân huệ ‘Xin Cho’.” Chắc chắn ông Thảo và bộ tham mưu của ông choáng váng cúi gầm mặt vì lãnh trận mưa pháo bất ngờ từ đòn phản công không đoán trước này!

Vị Chủ chăn Công giáo còn nhắc nhở ông Thảo: “Hay như chúng ta phải làm theo pháp luật, thì cái gì cũng phải có cơ sở pháp lý.” Nguyên câu nói ngắn gọn này đã là một gáo nước lạnh tạt vào mặt đám lãnh lãnh đạo CS Hà Nội. Họ hay khoe khoang mình làm theo pháp luật, nhưng lại tự cho mình cái quyền dốt luật mà lại hô hào “nhân danh luật pháp” xử phạt, trừng trị người dân thấp cổ bé miệng, nhưng trong tế phép trị nước của họ là búa và liềm, dao găm, mã tấu và nhà tù!

Như một quả bom nặng ký nổ tung giữa buổi làm việc, lời khẳng định ghi trên của Đức TGM Ngô Quang Kiệt càng làm cho phía nhà cai trị độc tài trở nên điên tiết:  (Xin đọc nguyên văn lời phát biểu của ĐTGM Ngô Quang Kiệt trong cuộc họp với UBND Hà Nội ngày 20/9/2008 trích dẫn ở phần đầu bài viết này).

Từ một bài phát biểu đượm tình dân tộc của Đức TGM, tập đoàn CSVN chỉ rút ra vỏn vẹn có một mảng nhỏ trong câu nói của ngài, rằng “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét”, để đánh lận con đen, chụp cho nhà lãnh đạo tôn giáo cái mũ “miệt thị dân tộc”.

Rồi thì cái slogan (khẩu hiệu quảng cáo) “ông TGM Ngô Quang Kiệt miệt thị dân tộc” cứ được nhai đi nhai lại trên các công cụ truyền thong CSVN, cố che tai bịt mắt công luận không cho bàn dân thiên hạ nghe thấy cái thâm thúy của các phần khác trong toàn bài phát biểu của ĐTGM Kiệt.

Nạn nhân bị dạt bên lề

Ngoài những báo ANTĐ. Hà Nội Mới, Nhân Dân, chúng tôi hơi buồn cười về sự góp mặt, góp tiếng của tờ Thanh Niên. Tờ báo này năm 2006 cố cổ võ một Diễn đàn tranh biện về một “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ”, nay lại quay lưng với chính mình, tự phản bội lại mình để hoàn thành nhiệm vụ công cụ đánh hôi, đánh hội đồng mà đảng giao cho. Tờ Thanh Niên này đã đặt những câu hỏi xách mé như: “Sẽ nghĩ gì về một vị chủ chăn có thái độ hằn học lạc loài như vậy đối với chính đất nước sinh ra ông ta? Một TGM như vậy liệu có xứng đáng để các giáo dân, giáo sĩ tin tưởng” (báo Thanh Niên, Chủ nhật 21.09.2008 trang 5).

TGM Ngô Quang Kiệt “có thái độ hằn học” thật không? Và thế nào là “lạc loài”? Báo Thanh Niên dùng nghiệp vụ thông tin trung thực hay sử dụng chiêu thức tuyên truyền bóp méo bịp bợm? Hãy mở lại băng hình buổi họp tại UBND hôm 20/9/2008 để xem và nghe vị TGM nói gì và nói với cung cách, thái độ nào đi đã.

Quả thật, báo Thanh Niên ngoảnh mặt với chính mình, nói ngược lại những gì nó đã cổ võ trên Diễn đàn nói trên và từ Diễn đàn ấy mới có chất liệu để hình thành tập sách “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ.

Báo Thanh niên có nhớ không ai đã bảo rằng “Viết về Việt Nam, về chính đất nước quê hương mình thì làm sao kìm nén những xúc động…, nhất là trong những bài tràn âm hưởng phê phán…”? (Sđd tập 2, trang 252).

Ai đã đưa ra những lời này trên giấy trắng mực đen: “Chỉ khi còn tình yêu, còn nỗi đau, còn biết ‘yêu với căm hai đợt sóng ào ào’… người ta mới thố lộ những nỗi niềm mà bình thường người ta không dễ đọc được”? (Tập 2, trang 252).

Báo Thanh Niên giả mù sa mưa để không nhìn thấy tình yêu, nỗi đau và niềm khát vọng của vị TGM khi ngài bày tỏ “chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật… tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng” liền sau câu nói “rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”?

Cái hộ chiếu không phản ảnh dân tộc, nó chỉ là thứ giấy tờ hành chánh của một chế độ cai trị. Khi nó là sản phẩm của cái cơ chế thối nát, thì nó cũng có phần trách nhiệm giật lùi đất nước, làm cho Việt Nam trở nên nhỏ đi, “lùn[5] đi”, yếu đi và “hèn đi” đến nỗi bị người nước ngoài xoi mói, khinh dễ,  ai mà  không nhục?

Báo Thanh Niên còn nhớ không ai đã viết: “Sự thiếu tự trọng, tham lam bất chấp nhân cách của một bộ phận quan chức, những ‘công bộc của dân’ là những vết hoen ố trên thân mình Tổ quốc chúng ta” (Sđd, trang 254).

Vậy những tên vô lại làm dơ nhớp thân mình Tổ quốc bằng những hành vi bất chính, mất nhân cách ấy hay ai khác là thủ phạm miệt thị dân tộc? ĐTGM Ngô Quang Kiệt đã chẳng cảnh giác như thế sao? Công hay tội?

Báo Thanh Niên đã chẳng có lần lên tiếng báo động: “Điều đáng sợ nhất chính là khi cái xấu, cái ác trở nên ‘bình thường’ trong xã hội, còn những người lương thiện chính trực… lại thành ‘hiện tượng bất thường’, thành những người bị dạt ra bên lề của ‘cơ chế’” (Sđd, trang 254). Chẳng những chỉ một mình thầy Đỗ Việt Khoa (như báo Thanh Niên đã nêu đích danh) là nạn nhân bị “dạt ra bên lề” từ bao nhiêu năm nay chỉ vì dám làm người tiên phong tố cáo tiêu cực trong giáo dục ở Việt Nam, mà nhiều người thiện tâm, thiện chí có lòng với đất nước trong đó có Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng bị “dạt ra bên lề” như vậy.

Quá nhục? Ai nhục? Do ai?

Rõ ràng ĐTGM Ngô Quang Kiệt chẳng những là nạn nhân hàng đầu bị “dạt ra bên lề”, ngài còn bị phỉ nhổ, bị nhận xuống vũng bùn trong khi thủ phạm thì an nhiên tự tại, rung đùi đắc thắng! Vậy thì cái ác không chỉ trở nên “bình thường”. Nó vượt hẳn lên trên mức bình thường để ngự trị trên đỉnh cao của quyền lực tuyệt đối cùng với những kẻ đã tác tạo ra cái ác và phát tán cái ác trên khắp đất nước lan ra cả ngoại quốc, như chuyện viên chức sứ quán Việt Nam tại Nam Phi buôn lậu sừng tê giác mới đây là một trong trăm ngàn thí dụ.

Theo đài BBC ngày 19/11/2008, người buôn lậu có tên là Vũ Mộc Anh, bí thư thứ nhất của sứ quán CSVN tại Nam Phi bị “quay phim đang nhận sừng tê giác từ một tay buôn lậu ngay trước cửa cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở thủ đô Pretoria.” Ban đầu, phía CSVN ngoan cố chối bai bải. Nhưng khi hình ảnh quay phim được công chiếu trên truyền hình Nam Phi, đại sứ VN tại Nam Phi Trần Duy Thi mới thú nhận “đã xác định được danh tính người của đại sứ quán trong đoạn băng được coi là quay cảnh buôn lậu sừng tê giác.”

Ông Thi than thở: “Chuyện này rất nghiêm trọng. Người ta quay hình cả lá cờ Việt Nam như thế. Quá nhục nhã.”

TGM Kiệt chỉ nói nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu! Còn ông đại sứ CSVN tên Thi thì kêu lên “Quá Nhục nhã!” Vì cả “lá cờ cũng bị quay hình.” Thì ra cái biểu tượng của cái gọi là nước CHXHCN Việt Nam cũng đồng loã hay bảo trợ, bao che cho hoạt động buôn lậu ở xứ người?

Trước đó một ngày, ngày 18/11/08, đài BBC đã có một bản tin khác: “Đại sứ quán nước cộng hòa Czech (một quốc gia từ Tiệp Khắc, Đông Âu cũ) tại Hà Nội sẽ ngưng cấp thị thực cho công dân Việt Nam vì ‘tội phạm tăng’ trong cộng đồng Việt tại Czech.”

Theo BBC, thông tấn xã CTK của Czech trích lời Bộ trưởng Ivan Langer nói rằng “số vụ tội ác do người di dân từ Việt Nam tăng lên nhanh” và các vụ việc cũng “nghiêm trọng hơn”. Như vậy có nhục nhã không cho dân tộc Việt Nam, và ai làm nhục dân tộc đây, nếu không phải là CSVN là kẻ có trách nhiệm “trồng người”?

Lại nữa, khi tấm hình Công an CSVN bịt miệng Lm Nguyễn Văn Lý giữa Tòa án được tung ra khắp thế giới thì tự tấm hình đó nói lên gì? Ai là thủ phạm làm nhục dân tộc Việt Nam đây?

Trở lại thời kỳ năm 1958, khi Phạm Văn Đồng vâng theo mệnh lệnh của Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị Đảng CSVN dâng Công hàm lên Trung cộng, công nhận chủ quyền của nước Trung Hoa Cộng sản trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, thì đó chẳng phải là hành động bán nước, hành động miệt thị dân tộc nghiêm trọng nhất sao?

Mới đây không biết do trùng hợp ngẫu nhiên hay do chủ tâm, Giáo sư Hoàng Tụy dù đang ở tuổi bát tuần, sức khỏe yếu kém, vẫn thốt lên: “Bệnh giả dối đang thành nổi nhục lớn”.

Trả lời cuộc phỏng vấn của Bùi Hoàng Tám, báo Khuyến học & Dân trí ngày 28/11/2008GS, giáo sư Hoàng Tụy nói: Sự giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành giả dối. Thế nhưng đã có hơn một nhà khoa học nước ngoài nói thẳng với tôi rằng, điều thất vọng lớn nhất mà ông ta cảm thấy là sự giả dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở các tầng nấc.”

Nhìn sang lãnh vực giáo dục tại Việt Nam, giáo sư Hoàng Tụy phát biểu tiếp một cách quả quyết: “Bản chất của giáo dục là trung thực và sáng tạo. Nhưng sáng tạo thế nào khi mà mọi thứ đều phải theo một lề lối, khuôn phép đã quy định sẵn, gần như bất di bất dịch từ mấy chục năm – giữa một thế giới thường xuyên biến động. Rồi trung thực thế nào được khi mà người ta hàng ngày phải sống trong một môi trường giả dối.”

Người Việt xấu xí? Coi chừng: miệt thị dân tộc!

Trong bài “Anh em khinh trước, làng nước khinh sau” trên báo Tiền phong ngày 26/05/2007, tác giả Nguyễn Hoàng Đức ghi nhận: Có một nhà tư tưởng nói: ‘Một dân tộc không biết xấu hổ về mình thì chẳng thể khiến mọi người tôn trọng… Loại người không biết xấu hổ, chỉ là hạng ‘vô sỉ’ – tức không biết sỉ nhục, thì chỉ là hạng ‘vô lại’– không thành người được, cũng không đáng để gặp lại.”

Ông Hoàng Đức nêu ra hàng loạt những nước thú nhận mình “xấu xí”: “Trung Quốc từng coi mình là thiên tử, trung tâm của thiên hạ, vậy mà họ cũng tự xét mình và tự thú qua cuốn sách Người Trung Quốc xấu xí. Giàu như Nhật Bản vậy mà họ cũng xét mình qua cuốn sách Người Nhật xấu xí. Nước Mỹ, kinh tế hùng mạnh, khoa học tiên tiến hàng đầu, vậy mà họ cũng can đảm nhận ra nhiều cái xấu của mình trong cuốn Người Mỹ xấu xí. Ngay Paris kia, được mệnh danh là thành phố đẹp nhất thế giới, vậy mà các văn hào của họ, đặc biệt là Victor Hugo đã đua nhau dè bỉu một ‘vũng bùn hoa lệ’ bên dòng sông Seine ô uế, ẩn nấp đầy rẫy tội lỗi ghê tởm ở dưới cống ngầm.”

Hoàng Đức còn khéo léo nhắc nhở đừng ai kết tội những tác giả trên miệt thị dân tộc của họ: “Tất cả các tác giả của các cuốn sách đó, không phải những nhà vệ sinh lẩm cẩm, ‘bới bèo ra bọ’, chê bai quê hương, mà chính là, họ tìm cách lặn sâu vào sự ‘biết sỉ’ của dân tộc, mong dân tộc trở nên trong lành hơn, mạnh mẽ hơn, kiêu hãnh hơn.”

Cuối cùng, Nguyễn Hoàng Đức đi tới kết luận:Tự sỉ là con đường không thoát khỏi để có được lòng Tự trọng. Bởi nếu chúng ta không tự nhìn thấy mình, thì thiên hạ sẽ ‘chỉ tận tay day tận trán’ những cái xấu của ta”.

Có lẽ ông Đức dè dặt khi dùng chữ “nếu”, thậm chí tuồng như không dám nói thẳng “Người Việt xấu xí” như các tác giả Mỹ, Pháp, Nhật, Nga, Trung Quốc nêu trên. Nhưng Đức TGM Ngô Quang Kiệt thì nói thẳng, huỵch tẹt “nhục nhã vì đi đâu cũng bị soi xét.”

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, khi được Tiền Phong phỏng vấn ngày 11/9/2006, đã trả lời: Chỉ khi ta thấy thói xấu cắm rễ sâu ở trong ta như thế nào thì mới hy vọng thay đổi được. Không phải chỉ một người, hai người, anh hay tôi, mà cả xã hội phải tự nhận thức. Nói theo thuật ngữ y học là nhiều người cùng ‘hội chẩn’”.

Ông Vương Trí Nhàn cũng đề cập tới những nước Nga, Tàu đã “dám” soi rọi lại mình, nhìn nhận mình xấu xí. Ông viết: “Người Nga cũng viết về thói xấu của mình để thay đổi mình đấy chứ. Gần ta, tương đối giống ta là Trung Quốc. Họ có Người Trung Quốc xấu xí, Người Trung Quốc tự trào, Trung Quốc dân tộc tính, Trung Quốc nhân cách bệnh trạng phê phán. Tác phẩm nhiều người đã đọc hoặc biết là AQ chính truyện của Lỗ Tấn đã có từ lâu đấy thôi.”

Ông Vương Trí Nhàn có ý định viết về “người Việt xấu xí”, nhưng dường như ông chưa dám nói lên nhận xét của chính ông về “người Việt xấu xí” vì sợ bị lên án chăng? Nên ông đã phải bõ công sưu tầm góp nhặt và trình làng những nhận xét của tiền nhân về “người Việt xấu xí” để dọn đường cho cuốn sách của riêng ông sau này như ông tâm sự. Chắc chắn Vương Trí Nhàn không có ý bêu xấu dân tộc, miệt thị dân tộc, ông chỉ mong muốn làm sao người Việt mình bớt xấu hơn thôi. Ông Vương Trí Nhàn không “đóng cửa bảo nhau”, ông mở toang cửa cho người ta nhìn thấy cái xấu trong nhà mình giống như người Mỹ, người Nga, người Nhật, người Tàu kia thôi!

Bài phát biểu của Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cũng nói lên ước nguyện làm sao cho người Việt mình bớt xấu đi. Ngài không mở toang cửa, mà thực hiện đúng cung cách “đóng của bảo nhau”, nói riêng với những người lãnh đạo thành phố Hà Nội: “Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng. Thế nhưng chúng ta không phải chỉ có tình cảm mong muốn là được mà phải có lý luận xây dựng thật là vững chắc trền nền tảng pháp lý.”

Thiết tưởng nếu những người làm báo Thanh Niên còn lương tri trong sáng, chính trực, hãy bỏ cái thói quen làm bồi bút đi mà đưa bài phát biểu của vị TGM vào vị trí trang trọng nhất của trang nhất cuốn sách “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ,” thay vì bóp méo sự thật lên án, kết tội một cách bất công, bất minh, bất chính bằng giọng hằn học cá mè một lứa với báo Nhân dân, ANTĐ, Hà Nội Mới… cùng đài truyền thanh, truyền hình và các văn thư của đảng.

Ấu trỉ lắm! Hèn hạ lắm! Nhục nhã lắm!

Kết luận

Kết thúc bài viết này, chúng tôi xin ghi lại lời tâm sự “suýt chết vì nói thật, nói sớm” của một trí thức trong nước. Nhà trí thức ấy là Phó giáo sư Tiến sĩ Đào Công Tiến mà báo Khoa học & Đời sống ngày 14/8/2006 giới thiệu như sau: PGS, TS Đào Công Tiến sinh năm 1937 tại Bến Tre. Ông nguyên là Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế học Việt Nam (VEA), Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo VNRP (Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu vì sự phát triển của nông thôn bền vững). PGS, TS Đào Công Tiến đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng II.

Trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi: “Ông đã từng gặp ‘tai nạn” vì tính ‘nói thẳng, nói thật’ của mình? Ông Đào Công Tiến trả lời: “Làm sao tránh khỏi, nhưng tính mình thế. Tôi không chỉ nói thẳng nói thật mà còn nói… sớm nữa nên từng “suýt chết” khi còn làm việc trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Sau này, có lần tại hành lang của một cuộc họp, Thủ tướng Phan Văn Khải chỉ tay vào tôi nói đùa “Ông này cầm đèn chạy trước ô tô, may mà không bị ô tô cán“… Dù trong cương vị nào tôi cũng lấy sự trung thực làm đầu.”

Đức TGM  Ngô Quang Kiệt không có cái “thế” là một công bộc của Đảng và Nhà nước xhcn như PGS TS Đào Công Tiến, nên ngài không những “bị ô tô cán” một lần, mà còn bị nghiền đi ghiền lại bầm dập, đến nỗi gục ngã ngay trên quê hương mình và rồi bị vất vào bóng tối chỉ vì… ngài chưa chịu chết! Vâng! Thưa Đức Tổng! Ngài sống để tiếp tục làm chứng nhân cho Chân lý và Công lý dù ngài bị các thế lực thù địch trong nước cùng toa rập nhau hãm hại ngài, khóa tay, cùm chân, bịt miệng ngài và nghiền nát!

Cho dẫu xác thân Đức Tổng Kiệt có bị giết chết dần mòn trong đọa đày (hay bị thủ tiêu) thì tinh thần bất khuất của một Chủ Chăn đích thực như ngài vẫn ngời sáng như tinh thần Đức HY Nguyễn Văn Thuận và tinh thần Đức TGM Nguyễn Kim Điền! Rạng danh cả Giáo Hội Việt Nam lẫn Tổ quốc Việt Nam!


Lê Thiên

Nghe lời phát biểu của Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt trước UBNDTP Hà Nội:

http://www.youtube.com/v/vQpPNIl44L0?fs=1&hl=en_US


[1] Theo Lê Đức Diễn. Nói xấu dân tộc vẫn được vinh danh.  Talawas ngày 09/10/2010

[2] -nt-

[3] Nhiều tác giả – Tiếng Nói Nhà Văn (Tập 1, Hà Nội 2006. .Nhà thơ Lê Thành Nghị: Tín hiệu trung thực, trang 45

[4] Ts Lương Hoài Nam: Hãy nói thật và ngẩng cao đầu! (Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ, trang 131.

[5] Nơi bài viết “Nước chưa lớn, mỗi người Việt phải tự xấu hổ” của Châu Tân An trong tạp 2 cuốn “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ” có tiêu đề này:”Phải đào tạo làm sao để đừng làm… ‘lùn’ đất nước” (trang 49).


Thư gửi bạn đọc: Hướng đi nào cho GH Công giáo VN và người yêu mến Giáo hội của Sự thật, Công lý phải làm gì?

Tháng Mười 3, 2010

Thưa quý vị bạn đọc

Ngày mai (4/10/2010) Hội Đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) sẽ bắt đầu kỳ họp thứ 2 năm 2010 tại Trung tâm Mục vụ TGP Sài Gòn.

Đây là một kỳ họp khá đặc biệt, nó sẽ diễn ra không phải trong không khí êm ả của những kỳ họp trước đây của HĐGMVN. Kỳ họp này diễn ra trong bối cảnh đất nước và GHVN đang trải qua những cơn chuyển mình khác thường.

Tại cuộc họp này, theo đúng lệ thường, sẽ kiểm điểm lại tình hình GHCGVN thời gian qua, bầu lại cơ quan lãnh đạo của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, định hướng cho GHCGVN bằng đường hướng của HĐGMVN trong giai đoạn tới.

Những vành khăn tang trắng để tang Thánh giá, cũng là để tang uy tín của HĐGMVN trong nhiệm kỳ vừa qua?

Thời gian qua, nhiều sự việc đã diễn ra trực tiếp với GHCGVN, tại đó, nhiều vấn đề được đặt ra rất gay gắt, rất cụ thể và đòi hỏi sự đáp ứng nhanh chóng của HĐGMVN. Tuy nhiên, qua những sự việc đã xảy ra và những phản ứng của HĐGMVN, người ta thấy rất rõ những sự rạn nứt, những phân hóa, những vấn đề tồn tại trong hàng ngũ GMVN đã làm nản lòng các tín hữu và những người yêu mến GHCGVN và đất nước Việt Nam.

Thực tế mà nói, những cách hành động, đường hướng của GHCGVN thông qua HĐGMVN trong nhiệm kỳ vừa qua đã dẫn đến những rạn nứt, những khó hiểu, những ly tán trong lòng GHCGVN. Nhiều phản ứng với từng hành động cụ thể, với đường lối của từng GM, từng nhóm và ngay cả HĐGMVN. Đó là một nhiệm kỳ mà những người yêu mến GHCG dù không muốn cũng phải thừa nhận là sự thất bại đau đớn của HĐGMVN trong nhiệm vụ dẫn dắt đàn chiên Việt.

Tất cả những tiếng nói của cộng đồng tín hữu Việt Nam có tác dụng nào với HĐGMVN hay không? Những tác dụng đó như thế nào? Liệu “Dàn đồng ca áo tím” với tinh thần khiếp nhược trước cái ác, sự dối trá, thỏa hiệp với sự dữ trong chiêu bài “Đối thoại” có tự tung tự tác và thao túng, lũng đoạn HĐGMVN hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào hàng ngũ các GM Việt Nam, các tu sĩ, linh mục, giáo dân… con cháu trung thành của 130.000 bậc tiền nhân tử đạo Việt Nam.

Giáo hội Công giáo Việt Nam với gần 500 năm được gieo vãi hạt giống Tin mừng, 350 năm thành lập hai Giáo phận tiên khởi và 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam là bề dày không dễ ngày một ngày hai bị quốc doanh hóa một cách nhục nhã và đau đớn như hiện nay một số người đang muốn hướng đến.

Những điều giáo dân, cộng đồng tín hữu và những người thao thức với GHCGVN đang trăn trở có được kỳ họp của HĐGMVN này đáp ứng hay không? Chúng ta còn phải chờ trong vòng tuần này sau khi kỳ họp kết thúc.

Đưa tượng Hồ Chí Minh đặt trước tượng Đức Mẹ - tà đạo hay dị giáo?

Một số vấn đề đó đã được Nữ Vương Công Lý bạch hóa trước cộng đồng dân Chúa.

Nhiều tiếng nói phản biện được cất lên, nhiều thư ngỏ, nhiều tâm thư đã được gửi đến HĐGMVN đến nay tưởng như đã nói lên được nỗi lòng của giáo dân Việt Nam để các vị chức cao vọng trọng hiểu được tâm tư của họ.

Quan trong hơn hết, các vị sẽ hiểu rõ hơn điều này: Giáo dân Việt Nam đã trưởng thành, đã có nhận thức độc lập trong việc tin yêu Thiên Chúa và nhìn nhận đường lối của Hội thánh, không còn là một thời kỳ dài với não trạng “Giáo sĩ trị” mà cố Giáo Hoàng Gioan Phalo II đã kịch liệt phản đối từ sinh thời.

Thậm chí, trước “Sự kiện Ngô Quang Kiệt” Nữ Vương Công Lý đã nhanh chóng lập Thư Thỉnh nguyện gửi tới Đức Giáo Hoàng Benedict XVI và các Bộ ở Tòa Thánh Vatican. Bản Thỉnh nguyện thư đã được sự hưởng ứng tích cực, nhiệt tình của đông đảo tín hữu, linh mục, tu sĩ… và nhiều người trong cũng như ngoài cộng đồng dân Chúa khắp nơi trên thế giới.

Hồi đáp của Thư ký Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI về Thư thỉnh nguyện

Để làm được những điều đó, Nữ Vương Công Lý hết sức cảm ơn sự nhiệt tình tham gia của mọi người, cùng cất cao tiếng nói cho Sự thật, Công Lý được tỏ hiện với tấm lòng thiết tha yêu mến Giáo hội Công giáo Việt Nam tông truyền, thánh thiện, hiệp nhất… và với đất nước Việt Nam đang lầm than dưới gót sắt của chế độ tàn bạo.

Thưa quý vị bạn đọc,

Nhiều tiếng nói của độc giả, của những tâm hồn thao thức với Giáo hội và đất nước thời gian qua đã gửi đến Nữ Vương Công Lý đòi hỏi phải có một hướng đi, một hành động cụ thể để không chấp nhận sự “quốc doanh hóa” Giáo hội CGVN theo đường lối “Phúc âm, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” như mô hình Trung Quốc vẫn hiện diện.

Tuy nhiên Nữ Vương Công Lý xác định rằng, đó là những nhiệm vụ và công việc lớn lao của tất cả mọi người, mọi các nhân, tổ chức trong  và ngoài Giáo hội yêu mến Công lý và sự thật, trong và ngoài đất nước yêu mến quê hương, xứ sở và dân tộc. Khả năng của Nữ Vương Công Lý cũng chỉ có hạn như một “tiếng kêu giữa sa mạc” mà thôi nếu không được sự ủng hộ nhiệt tình của mọi con tim của độc giả.

Trong điều kiện sau kỳ họp HĐGMVN kỳ này, nếu những tiếng nói của cộng đồng dân Chúa không thể lọt tai HĐGMVN và HĐGMVN không đáp ứng những tâm tư đó, bỏ ngoài tai mọi tiếng kêu than để dẫn GHCGVN đi theo đường hướng thỏa hiệp và chấp nhận sự ác, sự dối trá, sự dữ… đi rời xa con đường của Hội thánh là bênh vực những người đau khổ, đồng hành cùng Dân tộc khổ đau này đưới sự áp bức của chế độ độc tài Cộng sản thì mỗi trái tim, mỗi con người đều phải cất tiếng nói của mình.

Hội đồng Giám mục VN chào Thủ tướng (hay xin chỉ thị) sau kỳ họp HĐGMVN?

Khi đó, tất cả chúng ta đều phải hành động.

Cụ thể: Nữ Vương Công Lý sẽ phát động một cuộc xin chữ ký Thư Thỉnh nguyện gửi Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI và các Thánh bộ được phát động rộng rãi với thời gian 1 tháng để trình bày ý nguyện, tâm tư của Giáo dân Việt Nam và đó cũng là tiếng kêu của mọi người tới Vatican trước tình hình hiện trang của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, nhất là trước cái gọi là “Đại Hội Dân Chúa” 24/11/2010.

Nếu những tiếng nói của cộng đồng dân Chúa không thể lọt tai HĐGMVN và HĐGMVN không đáp ứng… để dẫn GHCGVN đi theo đường hướng thỏa hiệp và chấp nhận sự ác, sự dối trá, sự dữ… Khi đó, tất cả chúng ta đều phải hành động.

Nếu buộc phải làm điều đó, BBT Nữ Vương Công Lý xin tất cả mọi người, mọi giáo họ, giáo xứ, hội đoàn nhiệt tình tham gia bằng chính trái tim yêu mến Giáo hội, yêu mến Sự thật, Công Lý của mình để công việc chung có kết quả tốt nhất.

Xin quý vị hết sức bình tĩnh, góp ý cho Nữ Vương Công Lý và cùng tham gia với chúng tôi bằng một tinh thần yêu mến Giáo Hội, Đất nước Việt Nam đang bị đe dọa bởi họa ngoại xâm bành trướng..

Tất cả mọi góp ý dù theo chiều hướng nào, BBT Nữ Vương Công Lý cũng xin cảm ơn quý vị. Tuy nhiên, xin được nhận những ý kiến, những góp ý có tinh thần xây dựng với ngôn ngữ trình bày hòa nhã, thể hiện văn hóa ứng xử tốt đẹp và tinh thần người Kito hữu.

Mọi ý kiến xin gửi về hộp thư nuvuongcongly@gmail.com

Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã cùng đồng hành với Nữ Vương Công Lý thời gian qua và xin được tiếp bước trong thời gian tới.

Ngày 3/10/2010

Ban Biên tập Nữ Vương Công Lý


Đừng Sợ Sự Thật: Từ mẫu gương của ĐGH Gioan Phaolô II đến Tinh Thần Ngô Quang Kiệt – Phần II

Tháng Chín 5, 2010

Vai trò của ĐGH Gioan Phaolô II trong biến cố Đông Âu đã được nghiên cứu một cách sâu rộng trong hai mươi năm qua. Chẳng phải ai cũng thấy được diễn tiến này đang xảy tới và vai trò của ngài trong đó. Năm 1967, chi bộ đảng Cộng Sản tại Krakov gửi một báo cáo về  Đức Hồng Y Karol Wojtyla đến mật vụ Ba Lan, cho rằng ” ông thiếu tổ chức và phẩm chất lãnh đạo”. Tướng Jaruzelski, Bí Thư Đảng CS Ba Lan, sau này than thở là các đồng nghiệp CS của ông đã thiển cận khi chọn Karol Wojtyla làm GM Krakov và ông đã xác nhận: “Chúa Thánh Thần hoạt động theo những cách thế bí ẩn”.


Nhưng Đảng CS Liên Xô có cảnh giác nhiều hơn. Họ luôn tâm niệm lời cảnh cáo của Lenin: “Ý niệm thần linh là thứ đáng ghê tởm nhất không thể tả được trong những thứ nguy hiểm nhất”. Phóng viên người Canada Eric Margolis, sau này đã tường trình: “Tôi là nhà báo phương Tây đầu tiên đến bên trong trụ sở KGB vào năm 1990. Tướng lãnh KGB đã nói với tôi rằng Vatican và Giáo Hoàng là kẻ thù nguy hiểm nhất trên thế giới đối với họ”. (Một ngày nào đó, chúng ta có lẽ sẽ học được từ lịch sử là phải chăng mối quan tâm đó đã được hiện thực năm 1981 trong cố gắng ám sát ĐGH. Như Gioan Phaolô II đã viết trong cuốn Memory and Identity (Ký Ức và Căn Tính): “Một số người đã hoạch định nó và một số khác đã can phạm nó”.)

Tựu chung, lời của Mikhail Gorbachev, vị lãnh đạo Sô Viết trong một bài báo trên tờ La Stampa năm 1992 có thể tóm gọn về tầm mức vai trò của ĐGH Gioan Phaolô II: “Tất cả những gì đã xảy ra ở Đông Âu trong những năm vừa qua đã không thể nào hiện thực được nếu không có sự hiện diện của vị giáo hoàng này và vai trò quan trọng ngài quảng diễn trên diễn trường quốc tế”.

Ngài đã làm gì và làm cách nào? Thuật ngữ “ác” là chẩn đoán đúng, nhưng toa thuốc là gì? Trong lễ cung hiến ngôi nhà thờ tại Nowa Huta, ĐHY Wojtyla đã phê phán Đảng Cộng sản đang nỗ lực xây dựng “một thành trì không có Thiên Chúa”. Đó là cái chẩn đoán. Khi trở về Ba Lan hai năm sau trong cương vị giáo hoàng, ngài đã tuyên bố: “Đức Kitô không thể bị gạt ra ngoài lịch sử của con người trong bất kỳ một nơi nào trên trái đất”. Người dân đã phản ứng bằng kêu gào: “Chúng tôi muốn Thiên Chúa – We want God”. Toa thuốc cho Cái Ác là Thiên Chúa.

Đọc lời tuyên bố của ĐGH Gioan Phaolô II, ai có thể tránh không nghĩ tới biến cố Thánh Giá Đồng Chiêm?

Radek Sikorski, cựu bộ trưởng ngoại giao của nước Ba Lan tự do, đã viết, “Trước khi người dân đòi hỏi được dân chủ và các quyền xã hội, họ phải đạt được lòng tin vào phẩm giá con người của chính mình”. Đó là điều kiện tiên quyết cho việc giải thoát: Bạn bắt buộc phải biết bạn có tự do trước khi bạn được tự do. Đây là những gì ĐGH đã phục hồi cho họ. “Đừng sợ! Bạn không cần phải sợ sự thật. Biết sự thật đó, và nó sẽ đưa bạn đến tự do”. (“and you will know the truth, and the truth will make you free”.  Jn 8:32)

Ai có thể quên được lời tuyên bố khẳng khái của Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt trước UBND TP Hà Nội: “Tự do tôn giáo là một cái quyền, chứ không phải là cái ân huệ xin-cho”. Ngài đã phục hồi cho giáo dân cái biết đó. Đã hàng chục năm phải xin phép đủ mọi thứ, người dân không còn biết đến cái sự thật đó nữa.

Mỗi con người không chỉ cần có can đảm thể chất để được tự do nhưng, trên hết, phải có can đảm trong tâm trí để nhận diện và nói sự thật. Cuộc sống trong tinh thần sự thật là những gì xua đuổi sự sợ hãi. Một ví dụ về điều này được biểu lộ bởi một nhân viên chính phủ Iraq, Haifa, cô tham dự buổi lễ tưởng niệm cho ĐGH tại giáo xứ St Joseph ở Baghdad, ngay sau khi ngài qua đời. Cho dù dưới đe dọa của bạo lực, cô nói: “Nếu tôi chết , tôi sẽ chết ở đây trong nhà thờ với Chúa Giêsu. Khi bạn có một đức tin trong linh hồn, nó sẽ giết chết mọi thứ sợ hãi bên trong cơ thể của bạn”.

Thật chẳng có lời nào đơn sơ và trọn vẹn hơn, để nói lên tâm tình của hàng trăm ngàn giáo dân TGP Hà Nội trong các buổi cầu nguyện trước Tòa Khâm Sứ và Thái Hà, khi toàn lực lượng công an cảnh sát Hà Nội hăm dọa làm cỏ họ.

Điều đáng lưu tâm là Gioan Phaolô II vẫn luôn tiếp tục gọi sự vật bằng tên thật của chúng. Như ngài đã khước từ tuân thủ vào chế độ nô lệ cũ, ngài cũng không bẻ cong theo sự dối trá mới của thứ tự do xảo. Ngài bảo tồn tính toàn vẹn của từ ngữ do bởi lòng trung thực của chính mình đối với Lời (Word/Logos). Ngài dương cao hy vọng cho sự phục hồi đạo đức bằng cách kêu đòi nó. Và, nếu điều đó xảy ra , nó được hiện thực bởi vì lời của ngài không hư mất.

Cuối cùng, điều gì đã trợ giúp cho ngài để thực hiện được những gì ngài đã làm? Không có giải thích nào đủ cả. Có một sự việc được nhớ lại, một tháng trước khi ngài mất, thời gian mà mọi người chú ý đến sự chịu đựng của vị giáo hoàng và ai cũng nghĩ rằng, ngài đang chìm ngập trong đau đớn. Một hôm, người phụ tá gần gũi nhất đi tìm ngài trong phòng, nhưng không thấy, ông bèn đi vào nhà nguyện riêng của ngài. Nơi đó, ông thấy ĐGH ngồi trên ghế nơi bàn thờ, hai cánh tay của ngài ôm xung quanh nhà tạm, và ngài đang hát bằng tiếng Ba Lan. Vị phụ tá bỏ chạy ngay. Sau đó vào buổi chiều, ông hỏi Gioan Phaolô II là ngài đã làm gì trong nhà nguyện. ĐGH trả lời là ngài đã hát một bài mà mẹ ngài thường hay hát cho nghe, những khi ngài buồn lúc còn bé, và làm thế để an ủi Chúa chúng ta. Sự gần gũi mật thiết khủng khiếp mà ngài đạt được với Chúa Giêsu Kitô đã thay đổi thế giới, bởi vì Đức Kitô chiếu rọi qua ngài trong cách mà hàng tỷ người có thể thấy được. Gioan Phaolô II đã thấm nhập vào Thiên Chúa cách trọn vẹn mà người khác có thể nhìn thấy Chúa qua ngài.

Nhìn về Đan Viện Châu Sơn – Ninh Bình, nơi Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt đang sống đời chiêm niệm kết hiệp với Đức Kitô, chúng ta ước mong dấu ấn của Chúa Kitô vẫn ngày càng sáng dọi hơn lên trên cuộc đời của ngài, một mẫu gương nhân cách cao đẹp tạo hứng khởi đạo đức cho hàng triệu giáo dân khắp mọi nơi.

Từ nguồn hứng khởi tạo niềm tin này, ngài trở nên mẫu gương sống cuộc đời “Không Sợ” trong tình yêu, bởi vì, “tình yêu luôn mang lại chiến thắng”.

Phạm Hương Sơn


Xin hãy hiểu cho Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt

Tháng Tám 31, 2010

Đã gần một tháng, kể từ ngày Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt về Đan viện Châu Sơn. Sự kiện này, như đã thấy, trở nên một dấu chỉ, một sự khích lệ cho dân Chúa, cho những người yêu chuộng công lý và hòa bình. Bởi biểu tượng của công lý – Đức Cha Kiệt – đã trở về Việt Nam.

Như tôi biết, nhiều giáo dân sau khi nghe tin Đức Cha Kiệt trở về đã đi lễ trở lại và giữ đạo hẳn hoi. Nhiều người đã bật khóc khi nghe tin Đức Cha Kiệt trở về… Có thể nhiều vị sẽ cười những giáo dân ấy rằng, họ giữ đạo vì Đức Cha Kiệt, nhưng nếu vì một Mục tử biết nói lên những điều cần thiết cho giáo hội và xã hội hôm nay mà giữ đạo thì âu cũng là điều phải lẽ. Các vị Mục tử phải trở nên dấu chỉ và niềm tin vào Chúa cho giáo dân, đó cũng là điều mà mỗi vị Mục tử phải suy nghĩ, hành động và cố gắng mỗi ngày. Nếu 6 triệu giáo dân Việt Nam, vì những vị Mục tử của mình mà tin kính Chúa, giữ đạo mỗi ngày sốt sáng hơn, biết xả thân vì tha nhân, vì quốc gia, dân tộc hơn… thì đó là cái phúc của Giáo hội Việt Nam. Nhưng nếu như còn nhiều vị Mục tử làm cho giáo dân phải vấp phạm, giảm sút niềm tin hay chẳng còn nhận thấy các vị là những “Đấng thay mặt Chúa” thì các vị Mục tử phải sám hối lại mỗi ngày về tư cách của mình, đặt mình trước mặt Chúa xem liệu mình có còn xứng đáng là Mục tử của giáo dân Việt Nam nữa hay không! Đó là điều cần thiết!

Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt với trẻ em

Trở lại chuyện Đức Cha Kiệt… Có lẽ, nhiều đoàn giáo dân đã rất thất vọng khi đi cả trăm cây số về Đan viện Châu Sơn (Nho Quan – Ninh Bình) mà không được gặp Đức Cha Kiêt. Thậm chí có những đoàn tín hữu đã khóc, gào lên “Cha ơi!” rất tha thiết, nhưng Ngài vẫn bước đi “đầu không ngoảnh lại”! Phải chăng Ngài không còn tha thiết với giáo dân của mình? Phải chăng Ngài đã chẳng còn để ý gì khác? Phải chăng Ngài không còn quan tâm đến những gì đang diễn ra? Xin thưa: với trái tim Mục tử nhân lành, Ngài vẫn là Đức Cha Kiệt như khi còn làm Tổng Giám mục Hà Nội!

Tôi may mắn đã được gặp Ngài lâu giờ vào một buổi chiều êm ả trung tuần tháng 8. Vẫn phong thái bình tĩnh, vẫn giọng điệu ôn tồn, vẫn nhiệt huyết nóng hổi… Ngài vẫn giữ cho mình một phong cách và tinh thần “Ngô Quang Kiệt”! Có lẽ, điều Ngài trăn trở thì vẫn rất nhiều, và mong ước của Ngài cho giáo hội, cho đất nước vẫn luôn canh cánh hàng đêm.

Chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều về giáo hội, về xã hội và cả những ưu tư, trăn trở của hàng triệu giáo dân Công giáo Việt Nam. Thật ra, Ngài vẫn lắng nghe, vẫn dõi theo từng biến chuyển của giáo hội, vẫn ưu tư mỗi khi có những tiếng nói quan tâm đến Ngài, quan tâm đến hiện tình giáo hội. Tôi thấy nơi Ngài sự lạc quan, niềm tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng… Chỉ một vị Mục tử với đời sống nội tâm sâu sắc mới có thể có những tâm tình và thái độ đó ngay cả trong lúc gian nan…

Cuộc nói chuyện của chúng tôi được phụ họa bởi tiếng chim, tiếng gió trong Đan viện Châu Sơn… Một khung cảnh thanh bình khiến tấm lòng của một người từng chịu nhiều sóng gió chắc cũng ấm lại. Ngài nói rằng: “Tất cả những gì cần nói, cần làm, Cha đã nói, đã làm rồi”! Phải, tôi thực sự không dám đòi hỏi gì thêm nữa nơi Ngài, tôi muốn Ngài được bình an, để tích thêm sinh lực cho những tháng ngày sắp tới, theo như ý định của Chúa quan phòng, mặc dù tôi không hiểu được chương trình của Chúa!

Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đi xuồng thăm giáo dân bão lụt tại Đồng Chiêm

“Điều cần thiết nhất cho đất nước, cho giáo hội Việt Nam hiện nay chính là sự thật. Vì thiếu sự thật, người ta không dám nói thật với nhau, không dám tin tưởng nhau…” – Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt

Nhìn phong thái của Ngài trong từng lời nói, từng cử chỉ… tôi hiểu được Ngài đang hy sinh và an vui với những hy sinh ấy! Điều Ngài mong muốn, ấp ủ thì còn rất nhiều… nhưng tôi tin chắc, Ngài đã chiến thắng, chiến thắng mọi trở ngại đến từ nhiều phía, và quan trọng hơn hết, Ngài chiến thắng chính bản thân mình.

Tôi hy vọng và mong muốn mọi giáo dân Việt Nam, nếu còn yêu mến Ngài, xin hãy để Ngài có thời gian nghỉ ngơi sau những truân chuyên mà Ngài, với tư cách là Mục tử nhân lành, sẵn sàng thí mạng sống vì đoàn chiên, đã phải chịu đựng.

Cuộc sống thanh bình, huynh đệ trong Đan viện Châu Sơn thực sự đang là động lực giúp Ngài thanh tịnh tâm hồn. Thánh lễ vào lúc 5g30 chiều mỗi ngày của Ngài thực sự là lương thực linh thiêng cho tâm hồn Ngài. Có thể rồi đây, Ngài sẽ thực sự thâm nhập vào đời sống “lao động” của Đan viện, nhưng tinh thần cầu nguyện mà Ngài vẫn luôn có sẽ giúp Ngài an vui, cho dù còn nhiều lắng lo, trăn trở cho giáo hội và xã hội. Tinh thần phó thác vào Chúa quan phòng nơi Ngài sẽ chẳng bao giờ làm Ngài mất hy vọng vào những điều tốt đẹp sẽ đến, cho dù có chậm trễ đôi chút.

Tôi xin giáo dân Việt Nam hãy thêm lời cầu nguyện cho Ngài… Tôi biết chắc rằng: hầu hết các Giám mục miền Bắc vẫn bằng cách này hay cách khác đồng hành với Ngài, bên cạnh Ngài trong lời cầu nguyện, hay trong các cuộc viếng thăm không một dòng tin tức hay hình ảnh… Xin hãy để cuộc sống cầu nguyện của Ngài tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta trên con đường tìm về sự thật là Thầy Giê-su chí thánh!

Rồi đây Ngài sẽ ân cần tiếp xúc đoàn con cái khắp nơi về với Ngài trong Đan viện Châu Sơn, nhưng chắc chắn không phải thời điểm hiện tại. Nên, nếu có một lúc nào đó Ngài phải yên lặng bước đi, không tiếp xúc với con cái của mình theo từng đoàn đến Đan viện, xin mọi người hãy hiểu rằng: trái tim Ngài đang thổn thức, và cũng có thể là đang rỉ máu! Nhưng tất cả mọi điều Ngài làm, dù có vẻ là vô tâm, nhưng Ngài đang nghĩ cho đại cuộc, cho lợi ích chung của giáo hội…

Tôi sẽ nói điều này với Ngài trong lần gặp tới…

Thuận Tâm


Kịch bản nào cho kỳ họp HĐGMVN sắp tới?

Tháng Tám 30, 2010

Theo thông báo mới nhất, kỳ họp HĐGMVN thường niên lần II năm nay sẽ được tổ chức tại Sài Gòn từ 4 – 8/10/2010.

Sau những biến động trong Giáo Hội Việt Nam thời gian qua, nhiều người công giáo thành tâm thiện chí mong muốn đây sẽ là kỳ họp khai mở một giai đoạn mới trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Tiếng nói của người giáo dân sẽ được các đấng bậc trong Hội Thánh lưu tâm đưa vào bàn nghị sự làm tiền đề cho những quyết sách định hướng cho Giáo Hội Việt Nam trong tương lai?

Người khác thì lại cho rằng, sau những gì đã bị bạch hóa, kỳ họp này sẽ là một kỳ họp mà “dàn đồng ca áo tím” với chủ trương “thỏa hiệp và câm nín chính là đường hướng của Công đồng Vatican II” sẽ không còn sức để “khuynh loát” –  từ dùng của Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh – và một chương mới sẽ mở ra cho Giáo hội Công giáo Việt Nam? Bởi người ta vẫn tin vào sự thật sẽ giải thoát cho Giáo hội chúng ta.

Tuy nhiên, những diễn biến đang xảy ra trong Giáo Hội, với “dàn đồng ca áo tím” hiện diện cách đặc biệt trong thánh lễ phong chức đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp – giáo phận Vinh và cuộc tọa đàm “Chân dung một vị Mục tử” vừa được Câu Lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình tổ chức nhằm chứng minh đường lối “thỏa hiệp và câm nín kiểu Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình” thích hợp với lập trường của Công đồng Vatican II.

Hội Đồng GMVN bay ra Hà Nội, xếp hàng "chào" Thủ tướng VN sau khi họp HĐGMVN tại Vũng Tàu

Với lá thư Mục tử tháng 9/2010 của Đức Hồng y G.B Phạm Minh Mẫn kêu gọi người tín hữu trở thành người “công giáo và công dân tốt” – từ ngữ mà dạo gần đây chính quyền cộng sản thường dùng để nói về người công giáo… thì nhiều người e ngại, trong cuộc họp HĐGMVN tới đây, không biết kịch bản nào sẽ được “dàn đồng ca áo tím” đưa ra để tiếp tục lập trường “thỏa hiệp với cộng sản, câm nín trước tội ác bạo quyền” mà các ngài đã quyết chọn?

Trong cuộc họp HĐGMVN vào tháng 10 tới đây, một điều nữa mà người tín hữu Việt Nam đang quan tâm, đó là đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt – đương kim Tổng Thư ký HĐGMVN, sẽ tham dự kỳ họp này thế nào?

Đức TGMHN Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN đã không hề lên tiếng trước những vấn nạn của giáo hội ngay trong nhiệm kỳ của mình sẽ tiếp tục giữ chức Chủ tịch HĐGMVN khóa tới?

Trong kỳ họp HĐGMVN lần trước, tháng 4/2010, vì lý do “sức khỏe”, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã không thể tham dự kỳ họp. Tuy nhiên, có một điều mà ít người biết, đó là ngay trước kỳ họp HĐGMVN, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã viết một bức tâm thư trải nỗi lòng của ngài trước các Đức giám mục Việt Nam và gửi tới Đức cha Giuse Võ Đức Minh – Phó Tổng thư ký HĐGMVN để đưa ra thông qua HĐGMVN, một bức thư điện tử khác chứa đựng nội dung mà theo ngài cần phải được bàn luận tức khắc trong khóa họp của HĐGMVN.

Ngay sau đó, bức thư được đức cha Giuse Võ Đức Minh chuyển tới xin ý kiến đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn – Chủ tịch HĐGMVN. Nhưng đến đó thì bức thư đã bị bức tử và bức thư này sau đó đã không được đưa ra bàn luận trong kỳ họp tháng 4/2010?

Theo thông tin chúng tôi nhận được, sau khi các thông tin đã bị bạch hóa, thay vì lắng nghe nỗi lòng của người giáo dân, thay vì phải sám hối theo đúng tinh thần của Năm thánh 2010, nhóm các giám mục thỏa hiệp càng liên kết với nhau và quyết tâm thực hiện cho bằng được chủ trương “thỏa hiệp” đã được vạch sẵn.

Các giám mục trong “dàn đồng ca” này đang tìm hết mọi cách để chứng minh cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam thấy rằng chủ trương thỏa hiệp là “đúng đắn, hợp với Công đồng Vatican II và đôi bên Nhà thờ – Nhà nước cùng có lợi”.

TGMHN, Chủ tịch HĐGMVN Nguyễn Văn Nhơn chào thăm UBTƯ Mặt trận Tổ Quốc VN ngày 23/8/2010

Khi cả một HĐGMVN nhất trí thỏa hiệp, nhượng bộ và hợp tác thì nhà nước CSVN được lợi thì đã nhìn thấy sẵn, nhưng Nhà thờ có lợi hay không lại là chuyện khác. Nếu có thì có lợi cho ai? Chắc chắn không phải là giáo dân, những tầng lớp bần cùng nghèo khổ trong xã hội mà họ là một phần nhỏ của phần lớn dân chúng Việt Nam đang rên xiết dưới bạo lực, bạo quyền và tước đi quyền làm người của họ. Cũng không hề có lợi cho các vị trong hàng giáo phẩm sống đúng mực của những người tu hành, dấn thân cho Thiên Chúa và tha nhân.

Có một điều chắc chắn rằng, sau những gì đã và đang xảy ra trong Giáo hội, kỳ họp HĐGMVN vào tháng 10 tới đây, sẽ không còn là một cuộc họp êm ả, với “nhóm khuynh loát” làm chủ diễn đàn như các kỳ họp trước. Bởi dù có cố tình im lặng cho êm chuyện và “đoàn kết”, không thích lớn chuyện hoăc cãi cọ, thì các đức giám mục can đảm, thật sự dấn thân cho Thiên Chúa, cho Giáo hội sẽ không thể không thấy trách nhiệm của mình rằng: “Đồng lõa với những việc đó cũng là tội ác”.

Tuy nhiên, nếu một số các vị giám mục sống đúng tinh thần Phúc âm, hiến tế chính bản thân mình và hi sinh cho những người đau khổ, những vị vừa qua đã ủng hộ lập trường của Đức cha Kiệt, vẫn im lặng và chủ trương “làm thinh cho nó lành” như xưa nay vẫn có, thì xem ra nhóm các Giám mục “thỏa hiệp” vốn đang chiếm số đông trong HĐGMVN, sẽ lại thắng thế.

Theo chúng tôi được biết có một kịch bản do dàn đồng ca áo tím thể hiện đã bắt đầu được dàn dựng công phu.

Sau một thời gian dài im tiếng, hoặc “lên tiếng như không lên tiếng”, kỳ họp này chắc chắn HĐGMVN buộc phải lên tiếng về các sự kiện diễn ra trong Giáo Hội thời gian qua và trong Thư chung của HĐGMVN kỳ này không thể không nhắc tới các sự kiện đã xảy ra vừa qua nếu HĐGMVN không muốn một lần nữa chôn mình sâu đưới lớp bùn dày phủ lên uy tín.

Nhưng lên tiếng thế nào để chứng minh cho công luận và giáo dân thấy rằng dàn “đồng ca áo tím”, đặc biệt “nhóm tam ca áo tím” hoàn toàn trong sạch không như những gì truyền thông công giáo đã công bố trong thời gian qua. Nhất là cần phải lên tiếng thế nào để từ nay có thể “bịt miệng truyền thông”, để có thể thoải mái thực hiện đường hướng khiếp nhược, thỏa hiệp đã vạch ra mà không ngại bất cứ sự cản trở nào. Khi đó, không cần một đàn chiên đông đúc, đạo đức mà chỉ còn lại đàn cừu ngoan ngoãn được dắt đi.

Đây quả là thâm ý cao siêu, nhưng đây cũng lại là điều không dễ dàng thực hiện.

Tuy nhiên, con cái thế gian thì luôn khôn ngoan hơn con cái sự sáng. Theo dự định, nhóm đồng ca sẽ thuyết phục các giám mục đồng ý với nhau rằng trong kỳ họp HĐGMVN lần trước không hề có các “cuộc mặc cả gay gắt” như trang nuvuongcongly.net đã loan trong bản tin “Hội đồng Giám mục VN đang họp và những cuộc mặc cả gay gắt”. Cũng như một vài vị giám mục đã cố tình nói rằng “trong cuộc họp đó làm gì có cuộc mặc cả nào?”.

Thực chất, đây là việc cố tình “chẻ sợi tóc ra làm tư” để tìm một lý do nhằm bắt bẻ người khác để che lấp một sự thật không thể chối cãi về những cuộc mặc cả gay gắt với nhà nước CSVN trong các vấn đề liên quan đến GHVN thời gian qua, nhất là trong “Sự kiện Ngô Quang Kiệt”.

Những cuộc mặc cả gay gắt không chỉ diễn ra trước đó mà ngay cả sau khi Đức cha Ngô Quang Kiệt đã được Vatican chấp nhận từ chức để Đức cha Nguyễn Văn Nhơn vừa nhậm chức Tổng Giám mục Phó Hà Nội được mấy ngày lên chức Tổng Giám mục.

(Vấn đề này, chúng tôi sẽ trình bày trong một dịp thuận tiện khác, nhưng những người theo dõi thông tin có hệ thống đã không khó nhận thấy những cuộc mặc cả đó như thế nào qua các phương tiện truyền thông công giáo. Điển hình như mới đây là cuộc gặp gỡ vòng 2 giữa HN và Vatican).

Vấn đề mấu chốt là ngoài dàn đồng ca áo tím đang chiếm số đông và đang giữ các vị trí quan trọng trong Giáo hội Việt Nam, phần lớn các giám mục Việt Nam còn lại vì bản tính hiền lành, muốn “yên cho lành”, nên cũng không hiểu được nội tình, sự thật “thực” của nội bộ HĐGMVN. Do đó, các ngài sẽ khó phản bác được những gì mà các ngài không biết và không chứng kiến. Điều này thể hiện rõ trong các bài phỏng vấn Đức cha đương kim Phó Chủ tịch HĐGMVN Giuse Nguyễn Chí Linh rằng “ngài rất bất ngờ” tuy vẫn đoán biết rằng “có một thế lực nào đó đang chống phá giáo hội”.

Với kịch bản đó, các GM sẽ phải đồng ý một Thư Chung, nhằm “giải độc” cho những âm mưu đã có và sẽ có để “dàn đồng ca” rộng tay hoạt động.

Về vấn đề nhân sự, với thế áp đảo số đông, với ý định tiếp tục con đường thỏa hiệp đã chọn và nhắm chứng minh cho cộng đồng Dân Chúa thấy không hề có sự rạn nứt nào trong nội bộ HĐGMVN, nhóm các giám mục thỏa hiệp phải làm thế nào để tiếp tục giữ các vị trí chủ chốt trong ban lãnh đạo HĐGMVN. Có như thế các vị mới có thể tiếp tục lèo lái con thuyền Giáo Hội tới với bến “xã hội chủ nghĩa vinh quang”.

Trong hoàn cảnh, dàn đồng ca áo tím chiếm số đông và hiện đang giữ các chức vụ quan trọng, số các vị giám mục còn lại không nhiều và xưa nay hầu như ít có tiếng nói trong các kỳ họp HĐGM, thì việc cơ cấu nhân sự nhằm phục vụ cho mục đích “tiếp tục chủ trương thỏa hiệp” của dàn đồng ca áo tím là điều hết sức khả thi. Các vị giám mục theo tinh thần của đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, dù có cầm lá phiếu bầu trong tay trong kỳ bầu cử sắp tới, thì cũng khó có thể thay đổi được tình hình do bởi thế yếu.

Một dàn lãnh đạo HĐGMVN mới đã được dự định có thể sẽ là: Đức Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn tiếp tục giữ chức vụ Chủ tịch HĐGMVN, chức danh Phó chủ tịch sẽ được trao cho đức cha Giuse Võ Đức Minh, Tân giám mục giáo phận Vinh Phaolo Nguyễn Thái Hợp với tiếng tăm về khả năng tri thức và mới mẻ trong HĐGMVN, khéo ăn nói… sẽ được trao cho chức vụ Tổng Thư ký. Một số ban bệ trong HĐGMVN sẽ được cơ cấu lại sao cho thích hợp với hoàn cảnh tình hình. Một số vị vốn không nhất trí với đường lối thỏa hiệp, có hành động và phát ngôn mạnh mẽ, sẽ được mời ra ngoài “ngồi chơi xơi nước”.

Nếu sự thật “thực” diễn ra đúng như kịch bản hiện nay “dàn đồng ca” đã soạn sẵn cho kỳ họp HĐGMVN sắp tới, thì chẳng còn gì để mà hy vọng một tương lai tốt đẹp cho Giáo hội Công giáo Việt Nam. Từ đây, GHCGVN sẽ mạnh mẽ “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc” vào con đường quốc doanh hóa. Một giáo hội mô hình Trung Quốc đã và sẽ hình thành trong lòng GHCGVN là điều không xa.

Lời kêu gọi “Giáo hội Việt Nam chân thành sám hối” mà các vị đã mạnh mẽ lên tiếng trong đêm khai mạc Năm Thánh tại Sở Kiện (24/11/2009), bên mộ các thánh Tử đạo Việt Nam, sẽ chỉ là một “vở diễn” của những “Sơn đông Mãi võ” của thời hiện đại.

Giáo hội Việt Nam sẽ lại tiếp tục “đồng hành bên lề dân tộc”“sống phúc âm giữa lòng đảng cộng sản” như vật trang trí cho chế độ độc tài toàn trị, bỏ qua tiếng kêu khóc của người nghèo, của người cùng khổ.

Con đường đưa Giáo hội Công giáo Việt Nam “tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc” lên chủ nghĩa xã hội theo định hướng “Phúc âm, Dân tộc, Chủ nghĩa Xã hội”, cũng sẽ chẳng còn bao xa.

30/8/2010

Nữ Vương Công Lý


Hội Đồng Giám mục: Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam

Tháng Tám 20, 2010

Thời gian gần đây, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) được nhắc đến nhiều trên truyền thông Công giáo tại Việt Nam cũng như ở hải ngoại. Nhưng có lẽ một số giáo dân người Việt chưa hiểu hay hiểu khá mập mờ về cơ chế “HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC,” thậm chí còn ngộ nhận rằng HĐGMVN có nguồn gốc và nhiệm vụ giống như Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo!!!

Xin thưa ngay: Hội Đồng Giám Mục là một tổ chức hoàn toàn thuộc về Hội Thánh Công giáo hoàn vũ, một cơ chế được thiết lập bằng Giáo luật (GL) mà Bộ Giáo Luật năm 1983 quy định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn ở tại các điều khoản từ số 447 tới 459.

Đức Cha Phêrô Nguyễn Soạn, Giám mục giáo phận Quy Nhơn – Tổng Thư ký HĐGMVN (2007) lưu ý: “Bộ Giáo Luật cần được mọi người biết đến, không những là đối tượng khảo cứu cần thiết cho các chuyên viên giáo luật, mà còn là cẩm nang cho tất cả mọi thành phần Dân Chúa.” Thế nên việc một người giáo dân dù là thấp hèn tìm hiểu Giáo luật liên quan tới tổ chức và định chế HĐGM thì không phải là một hành vi hỗn xược, một sự tò mò có tính cách cấm kỵ, mà là một bổn phận thiết yếu của “mọi thành phần dân Chúa.”

Hội Đồng Giám Mục, một định chế.

Theo phân tích của linh mục James A. Coriden, một chuyên gia nổi danh về Giáo Luật,  trong quyển “An Introduction To Canon Law – Giáo Luật Nhập Môn” (Nhà Xuất bản Paulist, New York * Mahwah, New Jersey, Hoa Kỳ – 1999), thì HĐGM là một cơ chế mới, được thiết lập bởi Giáo Luật sau Công đồng Vaticanô II. Tuy rằng trước Công đồng này, thỉnh thoảng các Giám mục trong cùng một quốc gia có ngồi lại với nhau hàng năm như là công nghị địa phương, nhưng chưa hề được tổ chức thành cơ cấu định chế pháp quy như ngày nay.

Giáo Luật 1983 phân định rõ trách nhiệm của một HĐGM. Thành viên Hội Đồng là tất cả các Giám mục chánh, phó và phụ tá cùng những Bề Trên Dòng được chuẩn y trong cùng một quốc gia hay một vùng lãnh thổ đặc nhiệm. HĐGM được ban cho tư cách pháp nhân (449 §2), có một cơ quan thường trực gọi là Ban Thường vụ (gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, Phó Tổng Thư ký) cùng các ủy ban trực thuộc (điều 452 và 457).

HĐGM được ủy thác một số nhiệm vụ mục vụ nhân danh các tín hữu trong quốc gia liên hệ, ngoại trừ các thẩm quyền về tín lý và tư pháp thuộc trách nhiệm của riêng từng Giám mục.

Vai trò, trách nhiệm của một HĐGM

Sứ vụ chính yếu của một HĐGM là phục vụ lợi ích cao nhất cho con người trong quốc gia hay lãnh thổ liên hệ ở tại bất cứ nơi nào và thời kỳ nào như Điều 447 chỉ rõ: “Hội Đồng Giám Mục, một định chế thường trực, là tổ chức kết hợp các Giám mục của một quốc gia hay một địa hạt nào đó, cùng nhau thi hành chiếu theo luật, một số nhiệm vụ mục vụ cho các tín hữu Kitô thuộc địa hạt, để phát huy lợi ích lớn hơn mà Giáo Hội đem lại cho loài người, nhất là bằng các hình thức và phương pháp làm việc Tông đồ thích hợp với hoàn cảnh địa phương và thời đại[1].”

Bản dịch trên đây của HĐGMVN có đôi chỗ không giống với bản dịch Bộ Giáo Luật do các linh mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện và Mai Đức Vinh thực hiện. Bộ Giáo Luật Việt ngữ này được Nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1987. Điều 447 của bản dịch này là: “Hội Đồng Giám Mục, một định chế… nhằm cổ võ thiện ích lớn lao hơn cả mà Giáo Hội cống hiến cho mọi người…”

Lợi ích lớn hơn cho loài người hay thiện ích lớn lao hơn cả ấy phải chăng chính là việc “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn… Công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức…” mà Chúa Giêsu đã công bố, trích dẫn từ ngôn sứ Isaia. (Xin đọc Luca, đoạn 4, 16-21). Như vậy, đối tượng chính của hoạt động mục vụ của HĐGM chính là người nghèo, người mù lòa, những tù nhân và những kẻ bị áp bức.

Đó là tinh thần và nghĩa vụ HIỆP THÔNG giữa hàng giáo phẩm địa phương với nhau cũng như giữa hàng giáo phẩm với mọi thành phần dân Chúa liên hệ. Một khi nghĩa vụ này không chu toàn đúng mức thì nhiệm vụ mà Giáo luật đề ra cho HĐGM có lẽ chưa được tuân thủ nghiêm túc. Trong trường hợp này, HĐGM có nguy cơ trở thành một tổ chức hữu danh thay vì là một cơ chế mục vụ hữu ích thiết thực!

Các giám mục trong cùng một quốc gia là thành viên của HĐGM địa phương. Các ngài đương nhiên là những người ĐỒNG TRÁCH NHIỆM trong bất cứ biến cố nào ở một khu vực địa phương đang cần sự đáp ứng mục vụ nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả.

Đó là tinh thần và nghĩa vụ HIỆP THÔNG giữa hàng giáo phẩm địa phương với nhau cũng như giữa hàng giáo phẩm với mọi thành phần dân Chúa liên hệ. Một khi nghĩa vụ này không chu toàn đúng mức thì nhiệm vụ mà Giáo luật đề ra cho HĐGM có lẽ chưa được tuân thủ nghiêm túc. Trong trường hợp này, HĐGM có nguy cơ trở thành một tổ chức hữu danh thay vì là một cơ chế mục vụ hữu ích thiết thực!

Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm “tiếng nói cho những người không có tiếng nói” trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự “lên tiếng hay không lên tiếng” để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm.

Với hàng loạt quyền hạn pháp định, không một HĐGM nào tự cho phép mình nại ra bất kỳ lý do gì để tránh can dự vào việc đấu tranh bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền sống của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, tự do tỏ bày tư tưởng hay phát biểu quan điểm, quyền tự do cư trú cùng các quyền tự do căn bản chính đáng khác…!

Bản thân mỗi vị giám mục đã là vị ngôn sứ được biệt tuyển từ hàng tư tế lên hàng trưởng lão (elders) với trách nhiệm giám sát (episcopus). Giáo Luật Điều 378 §1 đề ra tới 5 tiêu chuẩn để một vị linh mục “xứng đáng được tiến cử lên chức Giám mục” là:

(1) Trổi vượt về Đức Tin vững vàng, tính nết tốt, đạo đức, nhiệt tâm… thông thái, khôn ngoan…

(2) Có danh thơm tiếng tốt;

(3) Ít là đã trọn 35 tuổi;

(4) Ít là đã năm (5) năm chịu chức linh mục;

(5) Có văn bằng Tiến sĩ, hoặc ít ra có Cử nhân về Kinh Thánh hoặc Giáo luật ở một Cao Đẳng Học viện được Tòa Thánh công nhận.

Một khi đã chấp nhận tham gia hàng ngũ các bậc trưởng-lão-ngôn-sứ-giám-sát, vị giám mục được tuyển chọn đã lãnh nhận Ơn Chúa Thánh Thần để thực thi quyền giáo huấn tông truyền, không thể viện lý do “CON KHÔNG BIẾT ĂN NÓI” mà thoái thác trách nhiệm dù chỉ là một kiểu thoái thác “nhún nhường” mang tính chất lề thói. Vị giám mục ấy càng không được tự cho phép mình nói thay các đấng khác trong cùng Hội đồng rằng “CHÚNG CON KHÔNG BIẾT ĂN NÓI!”

Bên cạnh 14 điều khoản (447-459) quy định cơ chế tổ chức một HĐGM nêu trên, Giáo luật dành ra ít nhất 77 điều khoản ban cho HĐGM nhiều quyền hạn rộng rãi, đặc biệt là quyền hạn đối với Dân Chúa (Quyển 2) và với nhiệm vụ Giáo huấn của Giáo Hội (Quyển 3)[2] mà phạm vi một bài viết không cho phép triển khai, phân tích tường tận từng quyền hạn.

Tựu trung, trách nhiệm chính của một HĐGM quốc gia là chăm lo mục vụ, kịp thời lên tiếng và nếu cần, nhanh chóng có hành động cụ thể giải quyết lập tức các vấn đề đụng chạm đến Dân Chúa, đụng chạm tới việc thờ phượng cùng mọi sinh hoạt tâm linh hay một biến cố đời thường có ảnh hưởng đến tình trạng an cư để hành đạo của đàn Chiên.

Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận. Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng”? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc.

Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào.

Giáo luật điều 452 §2 quy định rõ: “Chủ tịch của Hội Đồng, – và khi vị này bị ngăn trở hợp lệ thì phó chủ tịch – chủ tọa không những các phiên hợp khoáng đại của HĐGM mà cả ủy ban thường vụ nữa.” Khi Đức Cha Chủ tịch đa đoan với một nhiệm vụ khác cấp bách hơn, HĐGMVN không thể coi đó là lý do để không nhanh chóng tìm ra giải pháp tích cực đối phó kịp thời với các vấn đề thời sự nóng bỏng gây xôn xao và cả xáo trộn trong Giáo Hội địa phương, bởi vì còn có vị Phó Chủ tịch sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm “thay thế’ Chủ tịch mà Giáo Luật đã minh định.

Về vai trò của HĐGM trong việc đề cử hay tiến cử một nhân vật vào chức Giám mục, GL 377 §2 định rằng “ít ra ba năm một lần, các Giám mục thuộc một Giáo tỉnh hay là tùy hoàn cảnh, các Hội Đồng Giám mục phải bàn nhau kín đáo để lập một danh sách các linh mục …xem ai có tư cách làm Giám mục, thích hợp hơn với chức Giám mục và phải gởi danh sách ấy tới Tông Tòa…” Suy ra từ khoản Giáo luật này, HĐGM không thể không biết danh tánh nhân vật được tiến cử Giám mục trong lãnh thổ mình. Vả lại, chỉ khi nào đã nhận được sự đồng thuận minh danh của nhân vật được tiến cử, Tòa Thánh (Đức Thánh Cha) mới ban hành sắc chỉ bổ nhiệm chứ không bao giờ đặt nhân vật ấy vào sự đã rồi, chẳng những gây bối rối cho đương sự mà GH còn có thể đối diện với bao nhiêu rắc rối không thể tiên liệu! Cho nên, khi một vị tư tế được công bố đảm nhiệm một chức vụ cao hơn (Giám mục hay Tổng Giám mục, Hồng y và cả Giáo hoàng), vị ấy không thể kêu lên là “bất ngờ” đối với mình!

Quyền đời nhúng tay vào việc đạo.

Một khía cạnh khác về quyền bổ nhiệm Giám mục có lẽ tất cả tín hữu Công giáo Việt Nam cũng cần tìm hiểu và nghiền ngẫm, đó là điều khoản số 377 §5 của Bộ Giáo Luật hiện hành: “TỪ NAY VỀ SAU, KHÔNG ĐƯỢC CHO CHÍNH QUYỀN DÂN SỰ QUYỀN LỢI VÀ ĐẶC ÂN BẦU CỬ, BỔ NHIỆM, ĐỀ CỬ HOẶC CHỈ ĐỊNH CÁC GIÁM MỤC.”

Thế thì tại Việt Nam, khi nhà cầm quyền CSVN bảo rằng “ĐƯỢC SỰ CHẤP THUẬN CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM, Giáo hoàng… bổ nhiệm XXX làm Tổng Giám mục…” thì sự chấp thuận ấy được hiểu như thế nào? Không bầu cử. Không bổ nhiệm. Không đề cử. Không chỉ định. Mà là CAN THIỆP VÀO NỘI BỘ CÔNG GIÁO: Có xin mới có chấp thuận – nghĩa là có xin phép mới cho phép! Cho phép ĐÍCH DANH vị XXX làm (Tổng) Giám mục, chứ không phải chỉ cho phép tuyển chọn chung chung trong một thành phần nào đó (hàng giáo sĩ chẳng hạn) thôi!

Phải chăng lời tuyên bố “chấp thuận” của CSVN là lời tuyên truyền hỗn láo? Hay đó là bằng chứng về một sự CAN THIỆP THÔ BẠO vào việc bổ nhiệm một chức sắc cao cấp của tôn giáo? Sự can thiệp này có hàm ý một sự cam kết hay hứa hẹn ngầm nào từ phía nhân vật được chấp thuận đối với kẻ đã ban phép, đặc biệt kẻ ban ơn ơn ấy lại là Cộng sản không? Chưa nghe thẩm quyền Giáo Hội CG tại Việt Nam minh giải điều này với cộng đồng dân Chúa!

Một nét mới: Thư của một Giám mục gửi HĐGM của mình.

Một vấn đề khác liên quan tới Hội Đồng Giám mục Việt Nam:

Mới đây, ngày 19/7/2010, Đức Cha Châu Ngọc Tri, Giám mục Đà Nẵng có gửi cho HĐGMVN một bức thư nhằm thông tin và chia sẻ mục vụ” sự kiện về cái chết người giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu là anh Nguyễn Thành Năm.

Bức thư của Đức Cha Tri Đà Nẵng đã được nhiều tác giả “phản hồi” và phân tích. Ở đây, chúng tôi chỉ nói lên mối quan hệ của bức thư đối với HĐGM, giới hạn trong đề tài đang đề cập.

Không biết trong quá khứ đã có bao nhiêu thư một vị Giám mục VN gửi cho HĐGM của mình nhằm “thông tin và chia sẻ mục vụ” như trên. Nhưng từ trước đến giờ chưa hề nghe thấy có một thư nào từ một Giám mục thành viên gửi cho HĐGM của mình mà được đưa lên mạng lưới toàn cầu phổ biến công khai rộng rãi để mọi người cùng đọc. Người đọc một khi đã được ban quyền đọc bức thư ấy tất cũng có quyền chia sẻ cảm nghĩ của mình về … nó!

Người ta có thể tin là Đức Cha Tri thật tình chỉ muốn tỏ bày tâm tư, trao đổi “thông tin và chia sẻ mục vụ” với HĐGMVN mà thôi. Nhưng sau khi đọc đi đọc lại bức thư nhiều lần, người ta thấy tuồng như bức thư ấy không nhằm chia sẻ kinh nghiệm mục vụ cho bằng nhắm phủ nhận những thông tin “lề trái” về cái chết của anh Nguyễn Thành Năm, giáo dân Cồn Dầu, cũng như nặng lời phê phán những người chủ trương đưa ra những thông tin ấy.

Vô tình hay hữu ý bức thư của Gm Tri đóng vai trò “trạng sư” nhiệt tình biện hộ cho An ninh CSVN (tức Công An) hơn là chia sẻ kinh nghiệm mục vụ, như chính nội dung bức thư bộc lộ: Ngành an ninh nhà nước tuy không trực tiếp “đánh chết giáo dân Cồn Dầu” như tin được loan, nhưng cũng không vô can trong vụ việc này. Dù cuộc thẩm vấn sau cùng diễn ra cách đó đến hai tuần, nhưng đã gây áp lực tâm lý nặng nề, khiến một người vốn mắc bệnh tim như Anh Năm, bị hoảng loạn, sợ hãi, không làm chủ được hành vi của mình, nên đã bị dân phòng bắt.(Dân phòng có đánh chết nạn nhân không?)

Vừa đóng vai trò trạng sư cho “bạo lực cách mạng” (Công an CS), bức thư vừa là bản “cáo trạng” của một công tố viên lên án những người chủ trương trang báo điện tử Nữ Vương Công Lý là “bóng ma” buộc báo này phải nhận trách nhiệm đầu tiên về những hậu quả tai hại do việc đưa tin không chính xác và hình ảnh ngụy tạo, gây hoang mang chia rẽ.” Những cụm từ nhấn mạnh (gạch dưới) trên đây là những kiểu nói quen thuộc ở cửa miệng nhà cầm quyền CSVN và báo chí “lề phải” của họ để kết án ai là “thế lực thù địch.”

Anh Toma Nguyễn Thành Năm, giáo dân bị Công an, dân phòng đánh đến chết

Chúng tôi có cảm tưởng rằng bức thư của Đức Cha Tri cũng như lời phát biểu của Đức Cha Khảm trước đây và lời của một linh mục dọa “dứt phép thông công cho giáo dân nào đọc Nữ Vương Công Lý” đã giúp cho trang mạng này tăng số lượng người đọc hơn là đánh hạ nó. Thiết tưởng NVCL nên tri ân các ân nhân của mình!

Riêng với Đức Cha Tri, chúng tôi mong Đức Cha công bằng hơn một chút trong phán xét của ngài cũng như chịu khó theo dõi thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trước khi kết luận. Chỉ riêng VietCatholic News thôi cũng đã giới thiệu nhiều bản tin từ các nguồn thông tin khác nhau, đa dạng mà chúng tôi chỉ xin phép nêu ra vài hãng tin ngoại quốc sau đây:

Da Nang parishioner dies after police beating

CathNews Asia (07-Jul-2010 03:51)

Catholic beaten to death by Vietnamese police

Catholic World News (06-Jul-2010 17:07)

Vietnam: Mort d’un paroissien de Côn Dâu à la suite d’un interrogatoire accompagné de violences physiques

Eglises d’Asie (06-Jul-2010 09:45)

A Con Dau Catholic dies shortly after being released by police

Asia-News (06-Jul-2010 08:18)

Muore poco dopo essere rilasciato dalla polizia un cattolico di Con Dau

Asia-News (06-Jul-2010 06:30)

Đặc biệt, một đoạn trong bản tin của tác giả Thomas Việt trên VietCatholic News ngày 05/7/2010 cung cấp nhiều nét độc đáo liên quan đến cái chết thương đau của anh Nguyễn Thành Năm giáo dân Côn Dầu. Bản tin này không hề căn cứ vào một tin tức nào từ NVCL, mà đích thân tác giả đang ở trong nước trực tiếp tìm hiểu nội vụ ngay tại Việt Nam:

Ngày 3/7/2010 vừa qua một giáo dân nhiệt thành ở giáo xứ Cồn Dầu ông Nguyễn Năm đã chết vì bị bức cung (tra tấn) dẫn đến việc không thể ăn uống gì được rồi chết.
Tôi có điện đến công an thành phố Đà Nẵng (0511-3822300) vào 7 giờ tối 4/7/2010 để hỏi nguyên nhân thì lúc đầu họ trả lời là do đột qụy mà chết. Tôi không bằng lòng với câu trả lời đó nên điện thoại lần hai thì viên công an trực ngày 4/7/2010 mới lấy giấy lên đọc là “một giờ chiều ngày 3/7/2010 ông Nguyễn Năm tại Cồn Dầu chết. Nguyên nhân: không rõ nguyên nhân.” Sau đó điện thoại và hỏi nữa thì anh ta nói “gia đình người ta không thưa kiện thì thôi chứ cớ gì mày ở Sài Gòn mà chĩa mồm vào”.
3 giờ ngày 5/7/2010 điện lại hỏi nữa thì gặp một anh công an trực khác trả lời: “Gia đình anh Nguyễn Năm báo cáo là anh Năm bị bịnh hoang tưởng và nhịn ăn vài ngày rồi chết”. Tôi hỏi trước đó anh Năm có bị tra tấn không thì viên công an này liền cúp điện thoại…”

Ngoài ra, trong thư “gửi HĐGMVN” Đức Cha Châu Ngọc Tri đã trưng dẫn bản viết tay của người nhà anh Nguyễn Thành Năm. Cách làm việc của Đức Cha Tri thật là khôn ngoan thận trọng. Cái chết của anh Năm xảy ra ngày 03/7/ 2010, đến 19/7/2010, Đức Cha Tri mới “thông tin” cho HĐGMVN về nguyên nhân cái chết dựa trên một bản viết tay người thân của nạn nhân – viết ngay tại Tòa Giám mục Đà Nẵng do yêu cầu của chính Đức Cha Tri.

Tuy nhiên, giá mà Đức Cha Tri khuyên người nhà của anh Năm về nhà thu thập chứng cớ… sau đó “lấy lòng con cái” mà ngay thật trình bày mọi diễn biến dẫn tới cái chết của nạn nhân thì chắc chắn không ai nghi ngờ có… an ninh ở hậu trường thực hiện nghiệp vụ “ép cung”.

Mặt khác, phải chi Đức Cha Tri lập được một ban điều tra độc lập gồm cả giáo sĩ và giáo dân thuộc các ngành chuyên môn để xem xét và công bố kết quả thì kết quả ấy chắc sẽ dễ chấp nhận hơn! Có như vậy bức thư của Đức Cha Tri mới thật sự có giá trị “chia sẻ mục vụ”!

Đáp lại, HĐGMVN có lẽ sẽ chẳng ngại ngùng có một hồi âm (phản hồi) làm vui lòng Đức Cha Tri, làm hài lòng Giáo phận Đà Nẵng, khích lệ an ủi giáo dân Cồn Dầu, trấn an toàn thể dân Chúa trong và ngoài nước và nhất là dập tắt mọi tiếng xì xào về biến cố Cồn Dầu và về cách hành xử của Chủ Chăn. Từ đó chắc chắn tình hiệp thông giữa HĐGMVN và các Đấng Bản Quyền trong nước với mọi thành phần dân Chúa sẽ được triển nở và được củng cố đúng tinh thần Giáo Luật của Hội Thánh Công Giáo khiến cho sức quỷ hỏa ngục “không làm chuyển rung”!

Lê Thiên

Ngày17/8/2010, lethien03@yahoo.com



[1] Chúng tôi sử dụng bản dịch năm 2007 của HĐGMVN.

[2] Bộ Giáo Luật gồm 7 quyển với 1752 điều khoản. Ngoại trừ quyển 6 (bàn về Chế tài trong GH) không đề cập đến HĐGM, 5 quyển còn lại đều nêu lên một mặt vài nào đó thuộc quyền hạn của HĐGM.

Quyển 1 – Tổng tắc:  01 điều (88)

Quyển 2 – Dân Chúa: 26 điều (230 §1; 236; 237 §2; 242 §1; 276 §2; 242 §1; 276 §2; 283; 294; 312; 320 §2; 346 §1; 364; 372 §2; 377 §2-3; 395 §2; 402 §2; 433 §1; 434; 439; 441; 443; 496; 502 §3; 522; 535 §1; 538 §3; 708).

Quyển 3 – Nhiệm vụ giáo huấn của GH: 14 điều (753; 766; 772 §2; 775 §2-3; 788 §3; 792; 804 §1; 809; 810 §2; 821; 823 §2; 825 §1-2; 830 §1; 831 §2).

Quyển 4 – Nhiệm vụ thánh hóa của GH: 22 điều (838 §3; 844 §4-5; 851; 854; 877 §3; 891; 895; 964 §2; 1031 §3; 1062 §1; 1067; 1083 §2; 1112 §1; 1120; 1126; 1127 §2; 1231; 1232 §1; 1236 §1; 1246 §2; 1251; 1253).

Quyển 5 – Tài sản của GH: 7 điều (1262; 1265 §2; 1272; 1274 §2; 1277; 1292 §1; 1297).

Quyển 6 Chế tài trong GH: không điều nào

Quyển 7Tố tụng: 6 điều (1421 §2; 1425 4; 1439 §1-3; 1673; 1714; 1733 §2).