Hội đồng Giám mục để làm gì?

Tháng Mười 15, 2010

Thêm một Đại hội các Giám mục

Đại hội lần thứ XI của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGM/VN) khai mạc ngày 04-10-2010 tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng Giáo phận Tp. Hồ Chí Minh và kết thúc ngày 06-10-2010. Qua hôm sau, ngày 07-10-2010 ta đã có thể đọc Biên bản của Đại hội, cũng như Thư HĐGM/VN gửi cộng đồng Dân Chúa. Đến ngày 09-10-2010 lại có bài Đức cha Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch HĐGM/VN trả lời ông Gia Minh, biên tập viên đài Á châu tự do.

Bối cảnh của Đại hội lần này

Đọc hai văn kiện vừa nói trên đây, cũng như nghe bài trả lời phỏng vấn của Đức cha Phó Chủ tịch HĐGM/VN, ta có cảm tưởng Giáo Hội Việt Nam đang trong thời kỳ bình an vô sự, “bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Nhưng bất cứ ai theo dõi tình hình, đặc biệt qua các bài viết trên mạng, đều biết chắc rằng : mọi chuyện không êm xuôi như vậy. Biến cố đầu tiên gây kinh ngạc, hẳn là cuộc lễ tấn phong cha Nguyễn Năng làm giám mục Phát Diệm ngày 08-09-2009, cách đây hơn một năm, với cả rừng biểu ngữ bày tỏ lòng ngưỡng mộ, yêu mến, tin tưởng, gắn bó đối với Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giu-se Ngô Quang Kiệt. Hơn bất cứ ai, các vị giám mục khi tiến lên lễ đài không thể không thấy các biểu ngữ tung hô Đức Tổng Kiệt. Sự việc này lại tái diễn, lần này ngay tại nhà thờ Chính Toà Hà Nội ngày 07-05-2010, cách đây chỉ mới hơn 05 tháng, nhân lễ nhậm chức Phó Tổng Giám mục Hà Nội của Đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn. Sự việc đã được đoán trước, nên Ban tổ chức đã phải ra thông báo căn dặn mọi người đi tham dự thánh lễ “đừng mang theo những gì không cần thiết” (!). Thế nhưng bất chấp các lời dặn dò đó, cả rừng biểu ngữ tung hô Đức Tổng Kiệt cùng với những hình chân dung phóng to của ngài được nhiều người đeo trước ngực, tất cả đã tràn ngập quảng trường nhà thờ lớn Hà Nội, đến nỗi đoàn đồng tế thay vì trang trọng đi vào cửa chính, đã phải len lỏi đi vào cửa hông, và sau thánh lễ thì âm thầm rút lui theo cửa hậu. Một chuyện chưa từng xảy ra trong suốt lịch sử mấy trăm năm đạo Công Giáo tại Việt Nam !

Ghi nhận của Phó Chủ tịch HĐGM/VN

Ngay tại cuộc lễ này, nhìn lại các sự việc trong thời gian qua, chứng kiến những gì đang diễn ra ngay tại buổi lễ, Đức cha Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch HĐGM/VN đã nhận xét cách thẳng thắn : “Điểm tích cực đầu tiên là mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại. Kỷ niệm 50 năm thành lập, Hàng Giáo phẩm Việt Nam bước vào một giai đoạn mới qua đó, các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn. Điểm tích cực thứ hai là dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một.

Đã hẳn là như thế. Nhưng quan trọng hơn cả là câu kết, vẫn của Đức cha Linh. Ngài nói : “Trong bối cảnh và tinh thần Năm Thánh 2010, chúng ta hãy xem đây là cơ hội sống tình hiệp thông cách đặc biệt hơn : chúng ta cần phải can đảm hơn khi đối diện với các dị biệt, chúng ta cần phải mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn, nhưng đồng thời trải nghiệm được cái giá phải trả để bảo vệ tình huynh đệ trong đại gia đình Giáo Hội.” Câu kết luận này không hơn không kém là một lời hứa của vị Phó Chủ tịch HĐGM/VN, là sẽ “mổ xẻ chuyện Giáo Hội cách rốt ráo hơn, công khai hơn”. Ai nghe những lời như thế mà không cảm thấy phấn khởi. Hẳn có người nghĩ thầm trong bụng : Cuối cùng các giám mục cũng phải thấy, phải nhận ra thôi. Và một khi nghĩ như thế rồi thì kiên trì chờ đợi. Tôi ở trong số những người đó.

Cứ việc “tái đắc cử”

Sau các biến cố nói trên, Đại hội các Giám mục chính là lúc lời hứa trên đây của Đức cha Phó Chủ tịch HĐGM/VN có cơ may thành hiện thực. Nếu vấn đề chưa được ghi trong chương trình nghị sự, thì mục không thể thiếu đó phải được bổ sung, nhằm giúp các giám mục cùng nhau kiểm điểm tình hình để điều chỉnh, để sửa sai nếu cần. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Biên bản Đại  hội không hề ghi bất cứ một khoảnh khắc nào, dù nhỏ, cho thấy các giám mục đã đề cập đến những vấn đề nóng bỏng đốt cháy tâm can người tín hữu suốt thời gian qua. Đa số các vị trong Uỷ Ban Thường Vụ cũng như các vị đứng đầu các Uỷ Ban trực thuộc HĐGM đều được “tái đắc cử”. Sau khi kết quả của Đại hội được thông tri cho cộng đông Dân Chúa, nhiều người đã bày tỏ nỗi thất vọng ê chề.

Nhiều người thất vọng khi không thấy có thay đổi về nhân sự. Nhưng theo tôi, đây chưa phải là vấn đề. Khi không có những nhận định đúng đắn về tình hình để rồi từ đó rút tỉa kinh nghiệm, đồng thời tìm được hướng đi thích hợp với hoàn cảnh, thì có thay đổi nhân sự trong các chức vụ cũng chẳng đi tới đâu.

Tìm cách chống chế, biện minh

Chắc vì đoán trước được phản ứng của công luận nên Đức cha Nguyễn Chí Linh mới có bài trả lời phỏng vấn đài Á châu tự do ngày 09-10-2010. Đọc bài trả lời đó, cảm tưởng đầu tiên của tôi là Đức cha Linh có vẻ như đã quên những gì đã xảy ra trong những tháng vừa qua, quên những gì ngài đã nói tại lễ nhậm chức Phó Tổng Giám mục Hà Nội ngày 07-05-2010. Về nhân sự trong Uỷ ban thường vụ HĐGM/VN thì, theo lời Đức cha Linh “không có thay đổi gì nhiều”. Về cơ cấu thì lần này “có thêm Uỷ ban Công Lý và Hoà Bình” do Đức cha Nguyễn Thái Hợp làm chủ tịch. Nếu có ai thắc mắc tại sao đến giờ này mới có Uỷ ban này, thì lý do là vì “từ trước đến nay do tình hình nhân sự không đủ”. Thật ra thì 4 vị trong Uỷ ban thường vụ cộng với 17 vị đứng đầu các Uỷ ban là 21 vị, thì tổng số các giám mục đã vượt con số này từ khuya rồi. Và chẳng biết có phải để thính giả nghe đài đừng “tưởng bở”, hay vì muốn trấn an Nhà Nước Cộng Sản, mà ngay sau khi đề cập đến việc thành lập Uỷ ban Công Lý và Hoà Bình, đức cha Linh đã vội vàng minh định : “Có lẽ dư luận chung hiểu khái niệm ‘công lý và hoà bình’ khác với quan điểm của Giáo Hội Công Giáo. ‘Công lý’ cũng đồng nghĩa với ‘tình thương’. Bản thân tôi thì nghĩ rằng công lý không đồng nghĩa với tình thương. Có chăng là người tín hữu Chúa Ki-tô, khi tranh đấu cho công lý, khi đòi hỏi các quyền chính đáng của mình phải được tôn trọng, thì chính mình cũng phải tôn trọng luật bác ái yêu thương như Chúa Ki-tô dạy. Vậy thôi. Có vẻ đức cha Linh tìm cách chống chế, tìm cách biện minh cho HĐGM/VN, nhưng với những lý lẽ thiếu tính thuyết phục.

Trọng tâm cuộc trả lời phỏng vấn

Hình như trọng tâm cuộc trả lời phỏng vấn nằm ở cuối bài, khi Đức cha Linh khẳng định : “… đa số người giáo dân Việt Nam sống đạo bình thường chứ không đòi HĐGM/VN phải làm thế nọ, thế kia.” Ta có thể hiểu nôm na thế này : Mấy người căng biểu ngữ, mấy người viết lách trên mạng, chỉ là một nhóm nhỏ tý teo, so với tuyệt đại đa số giáo dân hiền lành, ngoan ngoãn, nghe chuông đổ thì đi nhà thờ, nghe đọc lời nguyện thì thưa “A-men”, nghe lời chào “Chúa ở cùng anh chị em” thì đáp lại “Và ở cùng cha”, có người đến quyên góp thì xỏ tay vào túi móc tiền ra, v.v… Họ đâu có thắc mắc, đâu có đặt vấn đề, đâu có ký thỉnh nguyện thư đòi hỏi chuyện này chuyện nọ !

Đa số không đương nhiên đúng

Điều không thể nghi ngờ là tuyệt đại đa số giáo dân Việt Nam sống thầm lặng, chu toàn nghĩa vụ của mình với Thiên Chúa và với anh em, nhất mực vâng lời bề trên, hiếm khi dám công khai thắc mắc. Sở dĩ tuyệt đại đa số không hề đặt vấn đề, thường khi vì thiếu thông tin, có khi vì không thấy vấn đề, cũng có khi vì muốn yên thân nên không dám bày tỏ ý kiến. Cứ nhìn vào các xứ đạo mà xem, có được mấy nơi mà giáo dân có thể thẳng thắn góp ý với cha xứ. Nói chi với giám mục. Sau mỗi bài viết, tôi nhận được rất nhiều thư, phần lớn là của anh em linh mục từ khắp nơi, ở trong và ngoài nước, khích lệ, cám ơn tôi “đã nói những điều họ nghĩ mà không dám nói”.

Nhưng điều không kém hiển nhiên là chẳng phải đa số đương nhiên đúng. Qua rất nhiều bài viết đầy tâm huyết, đầy tính xây dựng, nhiều sự kiện được nêu lên không thể chối cãi, với những lập luận vững chắc, không thể bẻ gãy, người có trách nhiệm không được phép làm ngơ. Không thể giải quyết vấn đề bằng cách làm ra vẻ không có vấn đề. Nhiệm vụ người lãnh đạo là chỉ đường cho người khác. Nhưng khi tự mình bưng tai bịt mắt, thì đâu còn thấy đường mà chỉ cho ai !

Trách nhiệm của Hội Đồng Giám Mục

Sau khi tôi viết bài “Đạo để làm gì?” (Nữ Vương Công Lý, ngày 14-05-2010), có người đã gợi ý cho tôi viết một bài mang tựa đề “Hội Đồng Giám Mục để làm gì ?” Lúc đó tôi nghĩ nếu mình làm như thế sẽ bị cho là hỗn. Thế nhưng đến ngày 20-08-2010, cũng tờ Nữ Vương Công Lý đăng tải bài: “Hội Đồng Giám Mục : Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam” của Lê Thiên, trong đó tác giả đã khám phá ra được 86 điều khoản liên quan đến HĐGM. Xin ghi lại sau đây một đoạn tôi đã viết trong bài “Từ Đại hội nhà văn đến Đại Hội Dân Chúa” (NVCL ngày 28-08-2010). Đoạn đó trích lời khẳng định của Lê Thiên như sau : “… theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm ‘tiếng nói cho những người không có tiếng nói’ trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự ‘lên tiếng hay không lên tiếng’ để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm.

Với hàng loạt quyền hạn pháp định, không một HĐGM nào tự cho phép mình nại ra bất kỳ lý do gì để tránh can dự vào việc đấu tranh bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền sống của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, tự do tỏ bày tư tưởng hay phát biểu quan điểm, quyền tự do cư trú cùng các quyền tự do căn bản chính đáng khác… !”

Không dừng lại nơi những nguyên tắc trừu tượng, Lê Thiên đi thẳng vào các vấn đề thời sự đặc biệt trong hai năm vừa qua : “Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước, đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận. Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên, hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng” ? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc.

Kết luận

Cho đến giờ này, chưa hề có ai, kể cả các vị khoa bảng trong HĐGM/VN chứng minh được là Lê Thiên đã sai. Mà nếu Lê Thiên không sai, thì quả là HĐGM/VN đã không chu toàn bổn phận của mình theo đòi hỏi của Giáo luật. Thế thì chẳng có gì quá đáng nếu ta thẳng thắn đặt câu hỏi : Hội Đồng Giám Mục để làm gì ?

Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com

Phỏng vấn Linh mục Chân Tín về một số vấn đề của GHCGVN

Tháng Tám 29, 2010

Như Nữ Vương Công Lý đã đưa tin và có bài bình luận, ngày 27/8/2010, câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình đã tổ chức buổi tọa đàm “Chân dung vị mục tử” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố TGM Phalo Nguyễn Văn Bình.

Để chuẩn bị cho cuộc tọa đàm này, linh mục Chân Tín, người đã một thời làm cố vấn cho Đức TGM Phaolo Nguyễn Văn Bình, người am hiểu về TGM Phaolo Nguyễn Văn Bình rất sâu sắc đã gửi đến một bản tham luận.

Tiếc thay, thay vì một buổi thảo luận trong tinh thần của sự thật, chân lý, ban tổ chức hội thảo đã thực hiện theo sách lược nhà cầm quyền CSVN vẫn hay dùng: Cắt xén, bịt miệng.

Trước khi cuộc tọa đàm khai mạc, Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp đã đề nghị linh mục Chân Tín cắt một số đoạn trong bản tham luận của mình. Nhưng linh mục Chân Tín đã không đồng ý vì những ý kiến được viết ra đã qua nhiều suy nghĩ cân nhắc cẩn thận.

Vì vậy, bản tham luận đã không được trình bày tại cái gọi là “Cuộc tọa đàm”.

Thiển nghĩ, nếu bản tham luận có những vấn đề chưa đúng, cũng cần có sự phân tích và mổ xẻ để đi tìm đến sự thật. Tuy nhiên, ở đây BTC Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình đã không làm như vậy, vẫn vận dụng phương cách hành động mà nhà cầm quyền CSVN thường làm là cắt xén hoặc bịt miệng người phát biểu, bất chấp sự thật ở đó ra sao.

Qua sự kiện này, người ta càng thấy rõ hơn, mục đích của việc tổ chức cái gọi là “tọa đàm” này, nhằm mục đích đưa lên hình ảnh một Đức TGM Nguyễn Văn Bình với những lời lẽ tô vẽ, nhằm dựng lên một hình tượng, làm bình phong che đỡ cho các Giám mục khiếp nhược  và thỏa hiệp với cộng sản núp bóng và đưa GHVN đi theo đường hướng quốc doanh hóa.

Mời quý vị xem video phỏng vấn linh mục Chân Tín về vấn đề này và một số vấn đề khác liên quan đến GHVN.


http://www.youtube.com/v/z4bwDwr-tNQ?fs=1&hl=en_US

Nữ Vương Công Lý


Từ Đại hội nhà văn đến Đại hội dân Chúa

Tháng Tám 28, 2010

Sự thật sẽ làm cho các ông được tự do” (Ga 8,32)

Sự kiện gần nhất

Trong những ngày này, truyền thông Việt Nam không ngớt lời ca ngợi Giáo sư Ngô Bảo Châu, một tài năng trẻ Việt Nam, 38 tuổi, đã nhận giải toán học Fields. Trong khi đó, một nhà trí thức khác, Phạm Minh Hòang, giảng viên Đại học Bách khoa Sài Gòn, rời Việt Nam năm 1972 qua Pháp du học, rồi trở lại Việt Nam năm 1990 vào thời kỳ “đổi mới”, nay đang chờ ngày ra toà, chắc không vì lý do gì khác hơn là vì đã mớm cho sinh viên những ý tưởng tự do, dân chủ. Chẳng biết nếu khoa học không nhằm mục đích phục vụ con người thì đối tượng của nó sẽ là cái gì !

Đại hội Nhà Văn Việt Nam

Vẫn là chuyện thời sự liên quan đến giới trí thức Việt Nam xảy ra chỉ mới đầu tháng 8 này, chính xác là trong hai ngày 5 và 6 tháng 8: tại trường Học viện Hành chính Quốc gia đã diễn ra Đại hội Nhà Văn VIII, với số tham dự viên lên đến bảy tám trăm, trong số đó quãng 2/3 là các đảng viên cộng sản. Nghe đâu chi phí dành cho Hội Nhà Văn lên đến trên 86 tỷ đồng trong thời gian 2005-2010. Điểm đặc biệt là lần này trong Chủ toạ đoàn có nhà văn trung tướng công an Hữu Ước, không biết có quen cầm bút bằng cầm súng hay không.

Đến lượt nhà văn bị bịt miệng

Nhưng yếu tố đã tạo ra sự chú ý tại đại hội Nhà Văn Việt Nam lần này không là gì khác hơn là một số nhân vật thuộc cánh “lề trái” như Ngô Minh, Bùi Minh Quốc, với những bài viết không được trình bày công khai tại Đại hội, nhưng được biết đến nhờ đưa lên mạng.

Tuy nhiên có lẽ tiếng nói mạnh mẽ nhất là Trần Mạnh Hảo, tác giả bài tham luận được phổ biến trên mạng trước cả khi Đại hội bắt đầu. Tuy được viết theo đơn đặt hàng của nhà văn Hữu Thỉnh, Chủ tịch hội Nhà Văn Việt Nam, nhưng lại không được phép đọc tại Đại Hội. Không những thế, tại hội trường, khi tác giả bài tham luận chỉ muốn ngỏ lời với dăm câu ba chữ thôi, thì cứ đụng đến micro nào là đường dây micro đó y như bị sét đánh, thành ra cuối cùng chẳng nói năng gì được.

Lý do chẳng có gì khó đoán, đó là vì nội dung của bài tham luận “có vấn đề”. Nguyên cái tiêu đề thôi cũng làm cho ai yếu bóng vía phải giật mình: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Đọc những chữ, những câu đầu tiên, ta có cảm tưởng đang chứng kiến cảnh một võ sĩ vừa nhảy lên khán đài đã vung tay múa kiếm: “Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không!  Sợ vợ ư? Không!  Sợ công an ư? Không!  Sợ kẻ cầm quyền ư? Không!  Sợ chết ư? Không ! ”. Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật.

Sau khi đặt câu hỏi và tự trả lời, tác giả liền chứng minh: “Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.

Rồi dựa vào định đề của K.Marx: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”, tác giả lần lượt nêu lên ý tưởng của cố tổng thống Ba-lan Lech Kaczinxki: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất, luôn luôn giải phóng con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hoà hợp.” Tác giả cũng nhắc lại chủ đề cuộc hội thảo do Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức đại Đà Lạt trong hai ngày 12-13 tháng 07 năm 2010, chủ đề đó là “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay.” Tác giả cũng không quên nhắc lại lời cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh căn dặn văn nghệ sĩ: “Cởi trói như thế nào… Cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí… Tôi cho rằng khi sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Ba sự thật

Sau khi đã cẩn thận rào trước đón sau, tác giả lần lượt đề cập đến 3 sự thật :

SỰ THẬT MỘT: chưa bao giờ, số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà, anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”… rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải…

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực… Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục . Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa…là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ…lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam…

SỰ THẬT HAI: Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không? Không!  Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền!  Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi…

SỰ THẬT THỨ BA: Nói một đàng, làm một nẻo, hay là danh không chính thì ngôn không thuận.

Đảng, Nhà Nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.”

Trên đây chỉ là mấy trích đoạn của một bài viết dài gần 16 trang A5 với những ví dụ rất chi tiết, rất cụ thể để chứng mình rằng: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước.” Thiết nghĩ không riêng gì tôi, mà bất cứ ai quan tâm đến văn học, đến con người, đến đất nước, đọc bài này xong chỉ có thể vui mừng, cảm phục và tri ân nhà văn Trần Mạnh Hảo đã “dám liều mạng nói lên những sự thật cay đắng nhất, khủng khiếp nhất của đất nước chúng ta hiện nay, những sự thật chết người, ai ai cũng biết, mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra.”

Hướng về Đại hội Dân Chúa

Đại hội các Nhà Văn vừa nói trên đây khiến tôi liên tưởng tới một Đại hội khác sẽ diễn ra tháng 11 tới đây, đó là Đại hội Dân Chúa. Chẳng phải tôi không biết đến những gì là tích cực mà mọi thành phần dân Chúa đã và đang góp phần xây dựng để Giáo Hội Việt Nam được như hôm nay. Nhưng điều tôi e ngại, là những thành công đạt được sẽ ru ngủ chúng ta, không cho chúng ta can đảm nhận ra những yếu kém cần khắc phục, những sai lầm cần sửa chữa. Nếu theo lời Trần Mạnh Hảo, chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước, thì cũng chỉ có sự thật mới giải phóng được Giáo Hội Việt Nam hôm nay. Và cùng với Trần Mạnh Hảo tôi cũng xin được chỉ ra ba sự thật :

Sự thật một: Những điều Trần Mạnh Hảo nói trên đây liên quan đến sự tồn vong của đất nước, của dân tộc là điều hiển nhiên không thể phủ nhận. Câu hỏi đặt ra là trước thảm trạng đó, Giáo Hội Công Giáo chúng ta đã có động thái nào để chứng minh là mình gắn bó với dân tộc, với đất nước. Trong khi các nhà trí thức nhận ra ý đồ xâm lược của ngoại bang nhân vụ bauxite Tây Nguyên, đã nhanh chóng và mạnh mẽ lên tiếng, không những chỉ những người sống trong nước, nhưng cả đến những người Việt ở nước ngoài, kể cả những người không còn giữ quốc tịch Việt Nam, trong khi có những sinh viên, học sinh mạnh dạn kéo nhau đi biểu tình, rồi đến khi bị công an sách nhiễu, canh chừng quá kỹ, thì đêm đêm tìm cách lén vẽ lên tường mấy chữ HS-TS-VN để biểu hiện lòng yêu nước, biểu hiện quyết tâm bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, quyết tâm giữ gìn sự toàn vẹn của lãnh thổ, thì Giáo Hội Công Giáo không có nổi một cử chỉ, một tiếng nói, cứ bình chân như vại, như thể những chuyện đó chẳng liên quan chi tới mình. Vậy sự thật có phải là Giáo Hội Công Giáo đang quyết tình đứng bên lề dân tộc?

Sự thật hai: Tại Na-da-rét, Đức Giê-su đã mặc khải sứ mạng cứu thế của ngài khi trích dẫn lời sấm của I-sai-a: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18). Và sứ mạng của Hội Thánh là tiếp nối công trình cứu độ của Đức Giê-su. Thế thì trên đất nước Việt Nam hôm nay, khi từ bắc chí nam, từ nông thôn đến thành thị, người dân oan bị cướp đất không còn biết kêu ai, vì đi nộp đơn kêu oan thì cứ bị đùn đẩy từ toà dưới lên toà trên, rồi lại từ toà trên xuống toà dưới, khi những người bày tỏ chính kiến cách ôn hoà nhằm góp phần xây dựng xã hội, xây dựng đất nước, những người đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền, bị áp bức, bị tù tội, ngay cả lúc chưa vào tù thì cũng không còn đường sống, vì đi xin việc không ai dám nhận, đi thuê nhà không ai dám cho, khi phụ nữ bị bán làm gái mại dâm, người lao động bị bóc lột tàn tệ, trong những hoàn cảnh bi đát thê thảm như thế, mà Giáo Hội Công Giáo vẫn ngậm miệng làm thinh, thì sự thật hôm nay có phải là Giáo Hội đang quay lưng lại với người nghèo, người bị bóc lột, bị áp bức?

Sự thật ba: Chúng ta viện cớ “không làm chính trị” để khỏi lên tiếng khi phải lên tiếng, chúng ta nói hiệp thông mà chẳng hiệp thông, chúng ta đề ra phương châm hấp dẫn “Đồng hành với dân tộc”, để cuối cùng chỉ đồng hành trên giấy, chúng ta tôn vinh lòng thương xót Chúa, nhưng khi xảy ra các vụ Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, và mới đây nhất là Cồn Dầu, thái độ của ta là ai chết mặc ai. Thế thì câu hỏi đặt ra là: phải chăng chúng ta cũng như những cán bộ cộng sản: “nói mà không làm, hay nói một đàng làm một nẻo?

Mấy điểm tôi nêu trên đây chỉ mang tính gợi ý để ta có thể nhìn lại và suy nghĩ, vì tôi không muốn, mà cũng không có khả năng liệt kê đầy đủ những điều phải tránh, hay những việc phải làm. Hy vọng sẽ còn nhiều người khác góp ý cho Đại hội.

Làm sao tin tưởng vào những vị lãnh đạo tôn giáo chỉ vì muốn được yên thân mà chịu khuất phục bạo quyền?

Vai trò của lãnh đạo

Trong tổ chức nào cũng thế, người lãnh đạo nắm vai trò quan trọng. Chính vì thế mà trong thời gian qua, nhất là từ khi xảy ra những biến động trong Giáo Hội Việt Nam liên quan đến việc thay bậc đổi ngôi tại Toà Tổng Giám Mục Hà Nội, các giám mục đã bị truyền thông phê phán gay gắt, nặng nề. Nhưng làm sao biết được ai đúng, ai sai?

Trước câu hỏi này, diễn đàn Nữ Vương Công Lý ngày 20-08-2010 đăng tải bài của Lê Thiên: “Hội Đồng Giám Mục: Giáo luật và thực tiễn tại Việt Nam”. Đọc xong bài của Lê Thiên, tôi thầm nghĩ: ông này đúng là “bạo phổi”. Là vì dám “đụng” đến giám mục đã là “to gan” rồi, nhưng ở đây Lê Thiên đụng tới cả Hội Đồng Giám Mục (HĐGM)!  Có điều ông không nói vu vơ, nhưng nói có sách. Trong phần chú thích, ông liệt kê ra đến 86 điều trong Bộ Giáo Luật liên quan đến HĐGM! Ông dựa vào đó để chỉ ra quyền hạn và trách nhiệm của HĐGM. Rồi ông khẳng định: “Chúng ta có thể kết luận rằng, theo nội dung Bộ Giáo Luật, HĐGM là một tập thể những vị Chủ Chăn cùng liên đới trách nhiệm làm “tiếng nói cho những người không có tiếng nói” trong một quốc gia. Bất cứ lúc nào và ở đâu trong địa bàn hoạt động của mình, khi xảy ra một biến cố đụng chạm đến đàn Chiên, thì tập thể Chủ Chăn trong HĐGM cũng đều nhanh chóng can dự vào bằng cách này hoặc cách khác, chứ không lưỡng lự “lên tiếng hay không lên tiếng” để rồi đi tới chỗ vô cảm, vô can và… vô trách nhiệm.

Với hàng loạt quyền hạn pháp định, không một HĐGM nào tự cho phép mình nại ra bất kỳ lý do gì để tránh can dự vào việc đấu tranh bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền sống của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, tự do tỏ bày tư tưởng hay phát biểu quan điểm, quyền tự do cư trú cùng các quyền tự do căn bản chính đáng khác… ! ”

Không dừng lại nơi những nguyên tắc trừu tượng, Lê Thiên đi thẳng vào các vấn đề thời sự đặc biệt trong hai năm vừa qua: “Những vụ xúc phạm đến các biểu tượng thiêng liêng của người tín hữu, như xúc phạm tới Thánh giá, tới các ảnh tượng và nơi thánh, dù xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đất nước, đều không thể coi là chuyện riêng của một cá nhân, một nhóm người, một giáo xứ hay giáo phận. Trong những biến cố dầu sôi lửa bỏng như trên, hay những vụ đàn áp bắt bớ, tù đày, gây thương tích hoặc làm chết người, làm sao HĐGM có thể nhẫn tâm chần chờ, đắn đo để xem có nên “lên tiếng hay không lên tiếng”? Chưa nói tới khía cạnh đạo đức và tình người, mà chỉ căn cứ vào mệnh lệnh của Giáo Luật, thái độ không dứt khoát hay cố tình tránh né trách nhiệm ấy khó có thể biện minh dù bằng bất cứ lý lẽ nào. Chẳng những thế, thái độ ấy còn làm cho niềm tin bị giao động và lung lay tận gốc.”

Không biết trong hàng ngũ các giám mục Việt Nam, đã có bao nhiêu vị chịu dành thì giờ nghiên cứu các tài liệu Công Đồng Vatican II và giáo luật hiện hành liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của HĐGM như Lê Thiên đã làm. Nếu không ai chứng minh được là Lê Thiên sai, thì nay các tín hữu Công Giáo đã có cơ sở để đánh giá lập trường và thái độ các giám mục Việt Nam trước những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước và Giáo Hội.

Kết luận

Sau 350 năm truyền giáo và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm, lạc quan hay bi quan là quyền của mỗi người. Nhưng sự thật khách quan là suốt nhiều thập niên liên tiếp, số tín hữu Công Giáo Việt Nam không vượt quá ngưỡng 7 hay 8 phần trăm. Trong cộng đồng dân tộc 86 hay 87 triệu hôm nay, chúng ta vẫn là thiểu số. Nếu truyền giáo là bản chất người Ki-tô hữu, thì chúng ta còn rất nhiều việc phải làm. Thế nhưng nếu dưới mắt người Việt Nam ngoài Công Giáo, Giáo Hội chúng ta chỉ là một tổ chức mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có tài sản lớn lao, có nhân lực có trình độ, nhưng lại thờ ơ với vận mạng dân tộc, quay lưng lại với đại đa số vốn là những người nghèo, thờ ơ với mọi cuộc tranh đấu cho nhân quyền, cho tự do dân chủ, thì đồng bào ta có gì để chờ mong, có gì để hy vọng? Làm sao tin tưởng vào những vị lãnh đạo tôn giáo chỉ vì muốn được yên thân mà chịu khuất phục bạo quyền? Trong bối cảnh đó, những tiếng nói như Trần Mạnh Hảo hay Lê Thiên là những tiếng nói rất đáng trân trọng.

Sài Gòn, ngày 28 tháng 08 năm 2010
Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm
pascaltinh@gmail.com