Vì tôi là linh mục

Tháng Bảy 15, 2010

Theo lịch năm thánh thì ngày 30 tháng 06 kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng là ngày thánh hóa linh mục.  Nhân thể xin viết đôi điều vụn vặt về chuyện này.

Đề tài Linh mục, cho đến bây giờ vẫn còn lạ lẫm đối với nhiều người, do vậy lâu lâu nó lại được leo lên sân khấu, phim ảnh hay sách vở. Mỗi lần như thế nó gây nhiều ấn tượng, nhiều chú ý, nhiều ồn ào. Trước 30/4/75, nhà văn nữ Lệ Hằng đã viết cuốn tiểu thuyết “Tóc mây” nói về cuộc tình của Tố Kim, cô gái trẻ sinh viên Đà Lạt với Hà Vĩnh Duy, linh mục nhạc sĩ (?).

Tác phẩm này đã tạo nên một cơn lốc dữ dội, lúc bấy giờ gọi là “hiện tượng tóc mây”. Hình như trước hoặc sau đó không lâu nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” cũng ra lò và chuyền làng. Bài hát này đã tạo nên cơn bão cuốn hút luôn linh hồn của các cô gái nhỏ ngây thơ, thậm chí đến “ma sơ” cũng nghêu ngao khi rảnh việc, lúc buồn buồn:

Vì tôi là linh mục

Không mặc chiếc áo dòng

Nên chi đời đau khổ

Nên trót đời lang thang…

Diễn giải tâm sự buồn của một linh mục đã trót dại yêu một tín đồ, nên cởi bỏ chiếc áo dòng mà đi bụi đời?

Từ đó hễ nghe có cuốn truyện nào viết về Linh mục là vội vã đi mua hay mượn về coi cọp, như: “Bão biển” của Chu Văn, “Người mục tử trong sương mù”… Lúc đầu thì đọc ngấu nghiến vì tò mò, nhưng chỉ đọc năm bảy trang là bản thân làm cách mạng, ngáp dài, ngán tận cổ, nuốt không trôi. Bởi vì ngay từ đầu đã ngửi thấy sặc sụa mùi bôi bác và ý đồ đen tối của tác giả trong luồng. Họ chụp lên đầu những Linh mục tội nghiệp ấy cái mũ “phản động” hay cái mũ “đồi trụy”. Cũng chính vì những toan tính bẩn thỉu và lộ liễu ấy mà nó mau chóng bị bỏ rơi vào quên lãng, thậm chí còn phản tác dụng. Thiên hạ ngày càng thương ông Cha hơn.

Xét về nguyên nhân tu trì thiên hạ thường bảo: Trốn việc quan đi ở nhà Chùa, chán đời hay thất tình đi tu, bởi vì “tu là cõi phúc, tình là dây oan”… Các nhà văn, soạn giả khai thác tận tình chủ đề này như: “Hồn bướm mơ tiên. Hay dàn dựng những vở kịch ăn khách như: “Chuyện tình Lan và Điệp”, “Lá sầu riêng” v.v.…nên nhạc sĩ P. D. có bài thơ:

Ngày em đi lấy chồng

Anh nằm cuộn trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn.

Hay thẫn thờ, lang thang, miệng lẩm nhẩm như kẻ mất hồn:

Ôi biết nói gì cuộc tình lớn quá

Cuộc tình lớn quá ôi biết nói gì

Cuộc tình quá lớn…

Sau cú sốc quá đau vì cuộc tình quá lớn, anh chàng lặng lẽ khăn gói, âm thầm vào nhà dòng nào đó tu thân cho đỡ lẻ loi. Ơn Chúa tuôn đổ, một thời gian sau, anh chàng được thụ phong Linh mục. Trong ngày lễ mở tay, cô này dắt con mình tới và nói:

– Con ạ, gọi cha đi con!

Não nuột!

Cha chớp chớp đôi mắt “mơ huyền” nhìn về chốn xa xăm… Bây giờ mỗi lần nhắc lại chuyện này, linh mục mỉm cười nói với bạn bè: “Nếu không bị cô nàng đá lên đá xuống chắc bây giờ đã là bố cu Ti cu Tèo… chứ đâu có làm cha “thiên hạ” như các bạn thấy đó. Chúa chọn con như sét chọn cây tầm thường. Quả ý Ngài nhiệm mầu hết xẩy!”.

Bên đạo ta lý do thất tình đi tu chẳng phải là không có, nhưng rất hiếm vì chú nhóc vào chủng viện hay nhà dòng hồi tóc còn để chỏm. Thật khó mà hiểu được vì sao chú lại đòi đi tu? Cũng dễ hiểu thôi! Chỉ vì thằng nhóc thấy được các “Cụ” đi giầy Tây, ăn bánh Tây, ở nhà Tây. Ra ngoài đường được cả thiên hạ khoanh tay cúi đầu chào:

– Con xin phép lạy cha ạ!

Có những bậc cha mẹ muốn con cái đi tu cốt để con được nhàn hạ, làm sán lạn tông môn. Như lời hiền mẫu nọ nói với cha phó kia trong cuộc họp hằng tháng:

– Đi tu như các Cha, các Dì thế mà sướng, chứ đèo bòng ở ngoài như chúng con khổ lắm cha ạ!

Đôi khi ông bà già đẩy con mình đi tu chỉ thầm mong có ngày thiên hạ gọi mình “ông cố, bà cố” cho le lói đời với người ta. Ấy vậy mà khi chú nhóc giở chứng muốn từ giã đời tu, ông “chuẩn cố” mắng như ri: “Thà làm con chó nhà Đức Chúa Trời còn hơn làm vương làm tướng ngoài thế gian”.

Những lý do lấn cấn ban đầu, dần theo năm tháng được mài giũa, đẽo gọt, tinh luyện kết tinh thành lý tưởng phục vụ thiên Chúa và tha nhân.

Trong thánh lễ mở tay của cha mới, các vị giảng thuyết thường hùng hổ đến sùi cả bọt mép đề cao vẻ đẹp cao quí của thiên chức Linh mục. Chẳng mấy ai dám cả gan bàn thẳng vào thập tự giá của chức vị này. Làm cho cha mới chỉ thấy bông hồng phía trước mặt mà quên cảnh giác gai nhọn của nó.

Nhưng… tiệc rượu chóng tàn, ngày vui qua mau, vinh quang thoáng chốc. Cuộc sống đời thường phải đối đầu với chướng ngại với thập giá. Các bậc lão thành thường đề cập đến ảnh hưởng của Linh mục như sau:

Linh mục đạo đức thì giáo đân loàng xoàng

Linh mục loàng xoàng thì giáo dân nguội lạnh

Linh mục nguôi lạnh thì giáo dân xấu xa

Linh mục xấu xa thì giáo dân biến thành quỉ dữ.

Giáo dân luôn bị tụt một bậc so với Linh mục. Cũng dễ hiểu, bởi giáo dân là đệ tử, Linh mục là sư phụ về đàng thiêng liêng. Linh mục là người hướng dẫn. Hướng dẫn sai lầm, lời Chúa dạy như sau: Mù dẫn mù cả hai sẽ rơi xuống hố. Cùng với ý tưởng trên, ta cùng nhau suy nghĩ bài giảng nhân ngày mở tay của cha mới. Đại khái như sau:

Hãy cột một chiếc nút để se kết hai đầu vì Linh mục là trung gian se kết con người với Thiên Chúa.

Hãy xây cầu nối liền hai bờ xa cách vì Linh mục nối liền Đất với Trời. .

Nói cách khác Linh mục là trung gian nối liền giữa Nhân loại và đấng Tối cao. Vì vậy Linh mục một bên phải nắm chặt Thiên Chúa, bên kia nắm chặt bàn tay con người. Đem bàn tay con người đặt vào lòng bàn tay Thiên Chúa, cho tình yêu đơm bông kết trái và ơn tha thứ được tuôn chảy ra. Phải cố gắng giữ vững thế tay trong tay vì đó là điều mọi người mong đợi nơi các Linh mục. Cái thế tay trong tay Linh mục không có con đường khác để chọn bởi lẽ buông một trong hai Linh mục sẽ không chu toàn chức vụ của mình .

Muốn chu toàn bổn phận Linh mục phải gắn bó với Thiên Chúa. Có gắn bó với Thiên Chúa Linh mục mới đem Chúa đến với mọi người. Muốn đem Chúa đến cho mọi người, bản thân linh mục phải có Chúa trước đã: Có Chúa trong tâm hồn và có Chúa ngay trong cuộc đời vì Linh mục không thể cho người khác cái mình không có. Linh mục phải chọn Đức Kitô là điểm khởi đầu và kết thúc của cuộc đời. Trái đất xoay quanh mặt trời như thế nào thì Linh mục cũng xoay quanh Đức Kitô như vậy. Được vậy Linh mục có thể hãnh diện nói lên như thánh Phaolô: “Tôi sống không còn là tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi”.

Gắn bó với Thiên Chúa, đồng thời cũng gắn bó cảm thông với con người  Phải luôn luôn giữ cho được thế tay trong tay, lưng liền lưng, ý liền ý.

Tội lớn nhất của Linh mục không phải trót sa ngã, trót vấp phạm, bởi Thiên Chúa đã không chọn các Thiên thần mà chọn những con người tầm thường, yếu đuối làm Linh mục của Ngài. Tội lớn nhất của Linh mục là bỏ rơi một trong hai bàn tay hoặc thờ ơ với anh em đồng loại, hoặc quây lưng lại chống Thiên Chúa. Lúc này Linh mục chỉ là nhịp cầu đã gãy, nút dây đã đứt. Liên lạc đã bị cắt, giao thông gián đoạn. Kẻ thù reo vui.

Từ đó ta không còn ngạc nhiên khi thấy người ta cố ý bôi nhọ, bêu riếu các Linh mục. Bởi đó là mưu thâm chước độc của “địch”. Tuy nhiên không phải chỉ có “địch” mới bôi nhọ, bêu riếu. Hãy coi chừng! Đôi khi chính con cái ngay trong nhà cũng bạo miệng chỉ trích Linh mục đầy ác ý. Họ hỏi rằng: Linh mục đã làm gì cho tôi?

Nhưng chẳng bao giờ dám quay lại nhìn thẳng vào lương tâm mình và tự hỏi:

– Tôi đã làm gì cho Linh mục?

Hễ thấy Linh mục có chút gì sai lỗi, lập tức xì xầm bàn tán, mím môi thổi phồng bong bóng. Họ đâu ngờ rằng rất nhiều khi chính giáo dân đã làm hư Linh mục. Sau đây chỉ xin trình bày hai trường hợp, hai thái cực nho nhỏ mà giáo dân đã xô Linh mục vào chân tường, tới chỗ bất ổn hay làm hư Linh mục.

Trường hợp 1: Thái độ quá trọng kính, trước mặt tỏ vẻ khúm núm… Coi LM như người thông biết mọi sự và chẳng hề sai lỗi bao giờ. Mới ngày nào còn “mày tao mi tớ” với nhau. Khi đã thụ phong LM, từ cục đất cất lên ông Bụt thì lập tức được gọi là Cha, là Cụ, là Cố… khiến cho thiên hạ, kể cả những người thân yêu nhất cũng phải “Kính nhi viễn chi”.

Trọng kính LM là điều quí. Nhưng cử chỉ khúm núm là điều nguy hiểm vì nó dễ làm cho LM quên đi mình là cục đất, mình chỉ là một dụng cụ tầm thường trong tay Chúa. Đôi khi ảo tưởng mình là ông Bụt thật, là cái rún của vũ trụ, rồi từ đó trở thành quan liêu, độc tài, độc đoán và… “mất dạy”!

Đọc tới đây hẳn có người sẽ thì thầm: thằng nào con nào lếu láo, dám cả gan nói mấy cố mất dạy, thiệt hết thuốc chữa! Xin thưa: Mất dạy ở đây không phải là vô phép hỗn hào… mà đơn giản chỉ là không còn được dạy bảo nữa mà thôi. Hiểu như thế, suy nghĩ thêm chút nữa ta sẽ phần nào nhận ra sự thật.

– Con ơi ! kể từ ngày hôm nay, nếu con không ý tứ thì con sẽ trở nên người mất dạy, bởi vì với thiên chức LM con sẽ không còn ai dạy bảo nữa. Đó là lời tâm tình của bà cố vừa có con đỗ Cụ.

Xuất phát từ quan niệm cho rằng: LM là người thông suốt mọi sự cộng với bối cảnh xã hội, người LM phải kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau. Từ một người chuyên rao giảng lời Chúa, cử hành các bí tích, nay phải đứng ra hòa giải các vụ tranh chấp, kiện tụng. Cố vấn hôn nhân gia đình, kỹ sư kiêm đốc công các công trình xây dựng, quân sư quạt mo về cung cách làm ăn. Ấy là chưa nói LM còn phải đảm nhận những chức vụ phần đời như: Thành viên tổ chức này, tổ chức nọ, đứng đầu hợp tác xã, chủ máy cày máy xay v.v…

Với những công việc như thế, LM sẽ không còn thời gian để tâm tình cầu nguyện, gắn bó với Thiên Chúa nữa. Rốt cuộc trở nên người mất dạy dưới cái nhìn xót xa của Chúa. Tiếp đến do những thành công gặt hái được liên tiếp, và nhất là do những trọng kính thái quá người khác dành cho mình, Lm cứ ngỡ mình là bậc thầy lỗi lạc, trỗi vượt lên trên mọi người, ý kiến của mình luôn luôn đúng, dần dần gạt bỏ mọi ý kiến đóng góp và những đề nghị xây dựng khác với đường lối chủ trương cúa mình. Từ đó dễ rơi vào tình trạng độc tài, độc đoán. Phải chăng Lm đã tự làm cho mình trở nên “mất dạy”?

Trường hợp 2: Thái độ vô ơn và nghiêm khắc, thiếu cảm thông của giáo dân, đôi khi làm cho Lm buồn đau… âm thầm rơi nước mắt. Cách cư xử thông thường của người đắc nhân tâm: Nghiêm khắc với bản thân mà khoan dung với người khác. Thế nhưng, thiên hạ thường hành động ngược lại: Nghiêm khắc với người khác mà khoan dung với chính bản thân mình. Quan niệm này cũng được áp dụng vào mối liên hệ với Lm. Nhân vô thập toàn, đã là con người thì ai cũng có lầm lỗi của mình, kể cả Lm vì Lm cũng mang thân mỏng giòn. Bàn tay còn có ngón ngắn ngón dài, bá nhân bá tánh, chín người mười ý, hay như tục ngữ có câu:

Ở sao cho vừa lòng người. Ở rộng người cười. Ở hẹp người chê.

Cao chê ngỏng, thấp chê lùn. Béo chê béo trục, béo tròn.

Gầy chê xương sống, xương sườn bày ra.

Lm giống như người làm dâu trăm họ, rất khó làm vừa lòng mọi người, nếu cố gắng làm vừa lòng mọi người thì rốt cuộc sẽ chẳng vừa lòng ai. Nói chi, ngay trong gia đình chỉ vỏn vẹn có năm, bảy người cùng chung máu mủ còn chưa vừa lòng nhau, huống chi Lm phải xử sự với hàng trăm hàng ngàn người. Giáo dân thường hay quên mất công ơn Lm đã làm, chỉ nhìn thấy khuyết điểm để lớn tiếng phê bình chỉ trích một cách gắt gao. Kéo nhau lên Tòa Giám mục tố cáo hoặc nộp đơn cho chính quyền kiện tụng linh tinh.

Có những nơi họ đạo nghèo mái tranh vách đất, hoặc còn hoang vu chưa có nhà thờ, Lm về bỏ công sức, huy động tiền bạc, xây dựng: nhà thờ, nhà xứ, trường học v.v… Rồi một ngày Lm già, sức yếu cùng với một vài lẩm cẩm của tuổi già thì người ta bàn tán xì xào, viết thư nặc danh ném vào phòng tố cáo này nọ, chỉ vì sự già nua của Lm.

Tòa Giám mục biết được liền đổi cha đi chỗ khác. Nhận được tin họ mừng ra mặt. Mặt khác họ cử đại diện lên gặp Giám mục để xin Lm ở lại với bộ mặt đầy thểu não. Thế nhưng khi được hỏi:

– Bộ các ông không muốn cha đi hay sao? Họ trả lời:

Cha đi mình chẳng níu kéo, coi sao được. Đời mà! Lời bất tòng tâm!

“Bạc như dân, bất nhân như lính”. Bao lâu Lm còn khỏe mạnh phục vụ cho giáo xứ thì là cha đáng mến đáng trọng. Một khi đau yếu già nua, là gánh nặng, là cái gai cần nhổ đi. Nói như vậy có quá đáng không? Trên đời chuyện gì cũng có, chứng kiến thực tế có những chuyện khiến ta phải đau lòng.

Một cha sở chẳng may bị ung thư qua đời. Thuốc thang mai táng tốn khá nhiều. Tiền túi bỏ ra hết, rốt cùng tồn đọng một món nợ. Sau khi “mồ yên mả lặng”, người ta cãi nhau chí chóe về món nợ này. Giáo xứ, dòng họ không ai nhận trả. Cuối cùng Tòa GM đành ép lòng ép xác nhận vậy!

Thấm thía nhất , thâm sâu tận cõi lòng có lẽ là Nỗi cô đơn của đời Lm.

Một chiều Chúa nhựt đẹp trời. Mọi người ra về. Cửa nhà thờ khép lại. Một mình trong nhà xứ rộng mênh mông. Thưa chuyện với Chúa thì hình như Chúa cũng xa vời. Còn một mình Tôi nhìn tôi trơ vơ trên vách. Nỗi cô đơn sẽ đậm đặc hơn khi Lm đau yếu. Có một cha đã than thở như sau:

Có một ngày mình đau, nhờ chú nhỏ giúp lễ tìm người cạo gió. Nhờ bà này cô kia thì không ổn. Thiên hạ không cho phép, bởi đó là chước ma quỉ. Các bà các cô, hiền thì hiền đôi khi cũng chẳng thua sư tử Hà Đông. Máy móc điện tử hiện đại nhất chưa chắc đã nhanh hơn chiến thuật rỉ tai của đoàn nữ binh hùng hổ này. Đàn ông ai cũng bận, sau cùng tìm được một “anh ba xị đế” về. Khi cạo gió thân thể đang nóng bừng vì được thoa dầu, bỗng dưng thấy lạnh toát ở xương sống. Quay lại nhìn: hóa ra nước mũi của ông vô tư rơi thánh thót trên lưng mình. Dân ghiền thường bảo: một xị khai môn trí hoá, hai xị giải phá cơn sầu, ba xị mũi chảy đầy râu, bốn xị… Lần khác ông đổ dầu hôi vào ống giác, châm lửa rồi ụp lên lưng, dầu loan ra, lửa bùng cháy bỏng cả lưng. Nhiều khi đau ốm đành âm thầm chịu đựng hoặc nhìn lên trần nhà xem hai con thằn lằn đuổi nhau. Không người thân, chẳng ai thăm hỏi, nằm một mình co rút lại như  “Con chim ẩn mình chờ chết”!

Sau cùng, nỗi cô đơn sẽ đặc quánh khi Lm về già. Nhà hưu nơi có nơi không. Về ở với con cháu, ít ra phải có tí tiền thì họ mới hăm hở nhiệt tình. Khi tiền đã hết, tình cũng bay luôn. Bấy giờ sự chăm sóc trở thành gánh nặng.

Chuyện còn dài nhưng xin “xì tốp” nơi đây bằng vài mẩu chuyện ngắn để ta cho bộ não làm việc một chút cho bỏ tật lười:

1- Đức Giáo Hoàng Piô X, ngay sau khi được tấn phong Giám mục Montava liền khoe chiếc nhẫn GM của mình với mẹ: Mẹ xem chiếc nhẫn có đẹp không?

Bà mẹ bèn giơ chiếc nhẫn cưới trên tay và bảo: Nếu không có chiếc này thì làm gì có chiếc kia.

2- Giáo xứ nọ, giáo dân hay đâm đơn tố cáo cha lên TGM. Đức Cha quyết định đổi ngài đi xứ khác, thay cha mới về. Ngày bàn giao, chính GM cử hành thánh lễ nghinh tân tống cựu. Ngài sắp đặt mọi thứ, không cho hai cha và giáo dân biết. Đến giờ cử hành thánh lễ: cửa mở ra, mọi người bàn tán xì xèo… Thánh lễ xong, trước khi ban phép lành, GM chỉ tay xuống cái quan tài đặt giữa nhà thờ:

– Đây là quan tài của một người mà ai cũng quen biết. Mọi người hãy theo thứ tự tới từ giã lần cuối.

Ai ai cũng ngỡ ngàng… mở to mắt nhìn vào, không thấy xác ai, chỉ thấy một tấm gương to. Từng người đến viếng ai ai cũng thấy chính mình bên trong quan tài.

Khi mọi người đã về chỗ của mình, GM nói lớn: Con người ai cũng phải nằm trong chốn ấy. Sống chung, hòa thuận vui vẻ rồi chết. Tố cáo, kiện tụng, gây chia rẽ bất hòa rồi cũng chết. Ai muốn theo con đường nào tự mình chọn lấy!

Nhìn về phía hàng ghế giáo dân nhấp nhô những bóng khăn chặm nước mắt…

Đời sống LM không phải dễ đi. LM phải đồng hành, sẵn sàng đưa vai vào thập giá cùng vác, chia sớt gánh nặng với Đức Giêsu. Hãy tìm lại những dấu chân, những giọt mồ hôi khi Ngài đi rao giảng. Hãy trả lại cho Ngài những giọt máu hồng tươi khi ta tiếp tay đẩy lưỡi gươm đâm sâu vào cạnh sườn Ngài. Nếu tu là cõi phúc tình [Phan Sinh] cũng là cõi phúc vậy. Chiếc nhẫn trên tay từng người Phan Sinh cũng là chiếc nhẫn tu “LM”. Ở đấng bậc nào cũng tốt, cũng là cõi phúc, miễn ta đi đúng con đường Chúa đã dạy.

Huynh Nguyen


Bạn đọc viết: Ngẫu tượng Bò Vàng

Tháng Bảy 10, 2010

Tôi thường có thú vui hay đi tham quan các ngôi chùa để chiêm ngắm sự cổ kính, nét nghệ thuật, văn hóa và dấu ấn lịch sử của dân tộc ẩn khuất/khắc tạc đâu đó trong mỗi ngôi chùa, đặc biệt là các ngôi chùa cổ kính của Việt Nam. Thời gian gần đây, tôi còn chú ý thấy rằng trong các ngôi chùa ngoài các tượng như Đức Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Phật A Di Đà, Quan Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Đức Phật Di Lặc, Tiêu Diện Đại sĩ và Già lam Hộ pháp v.v. mà còn có cả tượng/ảnh của Hồ Chí Minh.

Dù không phải là người theo Phật giáo, nhưng tôi cảm thấy rất buồn và bất bình về việc xuất hiện tượng Hồ Chí Minh ở trong các ngôi chùa này, vì Hồ Chí Minh không những là kẻ vô thần, coi tôn giáo là thuốc phiện cần phải loại bỏ, mà còn là kẻ sát nhân, tàn ác, gây bao đau khổ cho dân tộc v.v. (điều này đã được LM Nguyễn Hữu Lễ trình bày có hệ thống trong cuốn phim tư liệu: Sự Thật Về Hồ Chí Minh); việc đặt để hình tượng Hồ Chí Minh trong chùa còn là sự hạ thấp các Đức Phật, làm bẩn nơi thờ tự, gây ra tình trạng hổ lốn trong Đạo Phật.

Tuy nhiên, khác hẳn với các chùa chiền, tôi không hề thấy có ảnh tượng Hồ Chí Minh được trưng bày trong các nhà thờ hoặc thậm chí ở nơi khuôn viên thánh đường của Công giáo. Điều này có thể hiểu được, vì người Công giáo có giáo lý rõ ràng, mà trong đó việc thờ kính các ngẫu tượng là một điều tối kỵ, là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa một cách nặng nề, vi phạm Điều răn đầu tiên trong mười Điều răn (Xh 20,2-5), và người tín hữu Công giáo nào cũng đều ý thức được điều đó.

Nhưng khi xem đoạn Video về cuộc rước Tháng hoa Đức Mẹ 2010 vừa qua tại Giáo xứ Dị Nậu, huyện Thạch Thất – Hà Nội, quê hương của Đức Giám mục An-tôn Vũ Huy Chương được đăng tải ngày 26/06/2010 trên trang website nuvuongcongly.net, tôi thực sự sửng sốt và ghê tởm.

Hình ảnh ngẫu tượng Hồ Chí Minh (tượng bán thân, màu vàng) được đặt chung với tượng Thánh giá và tượng Đức Maria, làm tôi nhớ đến hình ảnh con bò vàng trong sách Cựu ước (Xh 32, 1-6).

Thiên Chúa yêu thương dân Ít-ra-en, cứu họ khỏi ách nô lệ của Ai-cập để dẫn đưa họ vào đất hứa chảy sữa và mật, cho họ đi qua Biển đỏ khô cạn; khi dân dói, Người cho man-na và chim cút từ trời xuống làm của ăn; khi dân khát, Người cho tảng đá vọt ra mạch nước cho Dân của Người uống v.v.

Thế mà, đang khi Mô-sê gặp Chúa ở trên đỉnh núi Xi-nai để đón nhận Lề Luật được ghi bởi chính tay Thiên Chúa, thì dân chúng ở dưới chân núi đã đúc bò vàng và quỳ lạy thờ nó, họ nói: “Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập.

Cũng vậy, Thiên Chúa đã thương yêu Giáo Hội Việt Nam, đã cho hạt giống Phúc Âm nảy nở sinh hoa kết trái, có nhiều chứng nhân anh hùng, trong số đó đã có 117 Đấng đã được Hội Thánh tôn phong lên bậc Hiển Thánh và 01 Chân Phúc. Đặc biệt trong Năm Thánh 2010 này, toàn thể Giáo Hội Việt Nam đang được hưởng bao nhiêu hồng ân lớn lao từ Thiên Chúa và hoa quả trổ sinh từ máu các Thánh Tử Đạo: kỷ niệm 350 năm đón nhận hạt giống Phúc Âm và 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm.

Thế nhưng, khi nhìn vào Giáo Hội Việt Nam trong thời gian này, thay vì thấy một Giáo Hội hiệp nhất, yêu thương, thánh thiện, Giáo Hội của người nghèo, thì chúng ta lại thấy một Giáo Hội đầy rạn nứt, bị khuynh loát, bị quốc doanh hóa. Các vị chủ chăn làm ngơ trước tiếng thét gào của người nghèo, người đòi nhân phẩm làm người, người bị bỏ rơi bên lề xã hội, làm ngơ trước sự mục rỗng, thốt nát, băng hoại của xã hội. Con chiên hoang mang, mất phương hướng. Và ghê tởm nhất là thay vì phải kính thờ, yêu mến và tạ ơn Thiên Chúa vì những hồng ân Người đã thương ban cho Giáo Hội Việt Nam trong suốt 350 năm qua, thì người ta lại đi thờ ngẫu tượng Hồ Chí Minh một cách công khai, giống như dân Ít-ra-en thờ con bò vàng vậy.

Trước đây dân Ít-ra-en phục lạy trước bàn thờ con bò vàng nói rằng: “Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập.” Thì nay với cách rước thờ ngẫu tượng vàng Hồ Chí Minh, người ta có lẽ cũng đã nói rằng: Hỡi các tín hữu đồng chí, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi tiến lên thiên đường XHCN từ Giáo Hội Việt Nam.

Việc thờ kính Hồ Chí Minh, đặt ngẫu tượng Hồ Chí Minh ngang hàng với Thiên Chúa, không những là một sự xúc phạm nghiêm trọng và chối bỏ Thiên Chúa một cách công khai, mà còn đánh mất phẩm giá làm người (Bài giáo lý cầu nguyện bằng Thánh Vịnh 116 của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày Thứ Tư 01/09/2004 về Thánh Vịnh 115 cho Kinh Tối Chúa Nhật, Tuần Thứ Hai).

Chính các vị chủ chăn của Giáo Hội Việt Nam phải chịu trách nhiệm đầu tiên về tình trạng PHẢN BỘI và CHỐI BỎ THIÊN CHÚA này.

Xưa kia, chính A-ha-ron, là người đã được xức dầu tấn phong làm tư tế, đã thu gom các đồ trang sức của con cái Ít-ra-en đúc con bò vàng và lập bàn thờ thờ nó. Nếu A-ha-ron không chấp nhận việc đúc bò vàng, không lập bàn thờ thờ bò vàng, mà thay vào đó biết hướng dẫn dân chúng hướng về Thiên Chúa, thì làm gì có chuyện con bò vàng, làm gì có chuyện bội tín của Dân Chúa.

Hôm nay, nếu các vị chủ chăn của Giáo Hội không cho phép việc thờ kính Hồ Chí Minh, không chấp nhận quỳ gối trước quỷ quyền vô thần, mà sống và thực hiện đúng sứ vụ MỤC TỬ của mình mà Thiên Chúa và Hội Thánh đã trao ban cho khi lãnh nhận tác vụ Linh Mục/Giám Mục, thì sẽ không có tình trạng thờ bái ngẫu tượng Hồ Chí Minh như ở Dị Nậu, GP Hưng Hóa hiện nay.

Xưa kia Mô-sê đã cầu xin Thiên Chúa nguôi cơn giận, đoái thương dân Ít-ra-en và không trừng phạt họ. Thiên Chúa đã chấp nhận lời cầu xin của Mô-sê. Hôm nay đây, ai sẽ là Mô-sê để cầu xin Thiên Chúa nguôi cơn giận? Hội đồng Giám mục ư? Các ngài có “miệng” đâu mà nài xin Thiên Chúa được vì “chưa bao giờ nghe tiếng nói chính thức của giáo hội Công giáo lên tiếng cho những người nghèo, người bị giam cầm, bắt bớ, đánh đập, thậm chí là giết chết ngay trong những giáo dân, linh mục của mình chưa nói đến toàn xã hội” (Nhìn sang Giáo hội Cuba thấy khác gì Giáo hội Việt Nam? – nuvuongcongly.net 08/07/2010). Tòa Thánh ư? “Vatican thì quá xa, lại xem ra không hiểu rõ tình hình Việt Nam, và được báo cáo theo một định hướng có chủ trương” (Người nghèo và số sót – LM An-rê Đỗ Xuân Quế), nên Tòa Thánh khó có thể làm trung gian cầu xin Thiên Chúa nguôi giận được. Đức nguyên TGM Hà Nội Ngô Quang Kiệt? Vâng, Ngài có thể làm Mô-sê đứng ra xin Thiên Chúa bớt cơn giận. Nhưng đáng tiếc, Mô-sê Ngô Quang Kiệt lại bị thế lực “bò vàng” và tay sai của chúng “bứng” ra khỏi đoàn chiên rồi, đến bây giờ bặt âm vô tín!

Như vậy, xem ra chẳng có ai có thể đứng ra làm Mô-sê cầu xin Thiên Chúa để Người bớt cơn giận được. Phải chăng không phải ai khác cầu thay cho chúng ta, mà chính toàn thể Giáo Hội Việt Nam phải cầu xin, sám hối. Từng người, từ Hồng y, Giám mục, Linh mục đến Giáo dân phải trực tiếp đối diện với Thiên Chúa. Giáo Hội Việt Nam phải tự đập nát con “bò vàng” này ra mà uống như dân Do-thái xưa đã làm và trở về với Thiên Chúa. Như vậy, nhờ nhớ lại việc tổ tiên của chúng ta đã anh dũng đổ máu đào vì trung tín với Thiên Chúa, cùng với sự sám hối thành thật của chúng ta, hy vọng rằng Thiên Chúa từ bi, nhân hậu và hay thương xót sẽ nguôi cơn giận mà không nổi cơn thịnh nộ giáng phạt con cái của Người.

Nếu không “cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây rồi” (Lc 3,9)

Phùng Quang