Bóng ma của ai? Thiên thần của ai?

Tháng Mười 27, 2010

Thưa quý vị bạn đọc Nữ Vương Công Lý

Thời gian qua, những diễn biến quanh vụ Cồn Dầu đã được Nữ Vương Công Lý cố gắng cập nhật thông tin đến bạn đọc với thời gian nhanh nhất trong khả năng có thể của chúng tôi.

Chúng tôi coi đây là một nghĩa vụ cần thiết của những người yêu mến Sự thật và bất dung với sự ác, sự dối trá và bạo quyền.

Kể từ sau khi loạt bài Nữ Vương Công Lý đăng tải về Cồn Dầu, những sự kiện diễn ra sau đó đã đưa vụ Cồn Dầu lên đến đỉnh cao của sự chú ý dư luận bên trong và ngoài Giáo hội Công giáo, trong và ngoài nước.

Những nạn nhân Cồn Dầu được sự hỗ trợ mạnh mẽ bằng nhiều hình thức từ khắp nơi trên thế giới đã dần dần vượt qua nỗi sợ hãi để làm sáng tỏ nhiều sự thật ẩn giấu đằng sau.

Nhiều tiếng nói phản ứng với những hành vi tội ác của nhà cầm quyền Đà Nẵng đã làm chính quyền Đà Nẵng lúng túng, hoảng sợ và bất chấp luật pháp để diễn cho xong màn kịch xét xử.

Hôm nay, phiên tòa của “Bóng tối và ma quỷ” đã diễn ra bất chấp luật pháp của chính nhà nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành.

BBT Nữ Vương Công Lý nhận được nhiều bài viết, nhiều câu hỏi liên quan đến vai trò, hành động của Tòa Giám mục Đà Nẵng, vai trò sứ vụ một “mục tử của anh chị em” là Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri trong vụ Cồn Dầu.

Tuy nhiên, chúng tôi xác định rằng: Đức Cha Châu Ngọc Tri cũng chỉ là nạn nhân của chính chế độ vô thần cộng sản. Nếu trong một xã hội khác, chắc hẳn sẽ không có ĐC Giuse Châu Ngọc Tri ngày hôm qua và hôm nay.

Vì vậy, chúng tôi hết sức hạn chế nói đến hoặc đưa những thông tin mà nhiều bạn đọc quan tâm đến vị “mục tử” này để ngài có thời gian, tĩnh tâm trí mà hi vọng những sự sám hối với chính lương tâm mình cũng như tự xét mình trong vài trò mục tử trước mặt Thiên Chúa.

Nhưng, “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”.

Trong khi khắp nơi trên thế giới đang hướng về Cồn Dầu, người ta đang cố quên đi những cái gọi là “quan điểm”, “ý kiến”, “sự thật” về những vấn đề của Cồn Dầu liên quan đến Tòa Giám mục Đà Nẵng mà qua đó, hình ảnh một vị “mục tử” đã được thể hiện rất rõ ràng về vị thế, vai trò, tác dụng và tinh thần đáng xấu hổ của mình trước những đau khổ của đàn chiên Cồn Dầu.

Thì chính Đức Cha Châu Ngọc Tri lại cho đăng lại những bài viết, thông cáo, thư “mục tử”… trong đó chứa đựng nhiều điều không thể gọi một từ nào khác hơn là “SỰ DỐI TRÁ” mà chúng tôi đã có dịp nói đến nhưng chưa hết tất cả.

Việc đăng những văn bản này trong những ngày phiên tòa đang xảy ra với các giáo dân nạn nhân Cồn Dầu, là hành động sỉ nhục với lương tâm của những người công giáo chân chính. Là thể hiện sự thỏa hiệp cách sâu sắc với bạo quyền CSVN, là thể hiện sự nhát hèn của vị mục tử đang kêu gọi giáo dân “Hãy biết kính trọng và lắng nghe tiếng nói của các mục tử! Hãy biết “tôn sư trọng đạo” như bài học vỡ lòng của mọi người dân Việt”

Tại các văn bản đó, ĐC Giuse Châu Ngọc Tri khẳng định rằng “Chúng tôi đứng thẳng mà xin” – Một kiểu anh hùng của những người hành khất?

Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri cho rằng vụ việc đám tang là “hai bên hỗn chiến” – thực chất là nhà cầm quyền cố tình trấn áp tàn bạo đối với người dân không tấc sắt trong tay.

Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri mời gọi nhà cầm quyền CS Đà Nẵng cùng chiêm nghiệm lời Chúa, song nhà cầm quyền Đà Nẵng đã chỉ chiêm nghiệm lời này: “Người làm thuê vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn. , vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên!” (Gioan 1, 12-13).

Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri nói rằng “hàng trăm đảng viên CS đã được rửa tội bằng nước và lửa trên quê hương này” nhưng ngài đã quên rằng hàng vạn giáo dân đã ngao ngán nhìn vào tấm gương “mục tử” của ngài mà suy nghĩ và quay lưng với vận mệnh giáo hội và nghi ngờ chính lòng tin của mình.

Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri kêu gọi “hãy cầu nguyện luôn không ngừng” nhưng khi khắp nơi cầu nguyện cho Cồn Dầu đang bị bách hại thì ngay trong giáo phận của Ngài không một ai lên tiếng về những bất công, bạo tàn mà người anh em họ đang phải chịu. Thậm chí, mới đây khi mấy thân nhân của Giáo dân Cồn Dầu bị bắt bớ, giam cầm trái pháp luật đến với Đức Cha, ngài vẫn bảo rằng đây là vụ án liên quan đến đất đai chứ đâu phải vấn đề tôn giáo.

Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri nói rằng “Anh Nguyễn Thành Năm mắc bệnh tim” để giải thích cái chết của anh theo hướng chạy tội của công an Đà Nẵng lấp liếm tội ác của mình – sự thật thì anh đã bị đánh đến chết, và anh hoàn toàn không có bất cứ bệnh tật tim phổi gan ruột nào như ngài đã “điều tra”.

Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri cho rằng “đám tang anh Nguyễn Thành Năm thậm chí là  còn đông đảo hơn bình thường, và gia đình cũng được an ủi, mãn nguyện” – Thực tế là công an đã kiểm soát gắt gao, dày đặc trước, trong và ngay cả sau đám tang vẫn hăm dọa người vợ góa của anh Năm đến hoảng loạn. Bởi trước đó đã bị áp lực nặng nề buộc phải viết cam kết rằng anh chết là “do đột quỵ” mới cho toàn thây để đem chôn và được tống xác vào một nơi ngập nước, hoang lạnh và trơ trọi.

Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri cho rằng “Cô Tường Vi, con gái anh Năm là “cư dân mạng” – Sự thực thì đây là một cô gái hết sức vất vả về cuộc sống, suốt ngày đầu tắt mặt tối không biết mạng là gì, chỉ đến khi Đức Cha in bài viết đưa cho mới biết chuyện nhà mình.

Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri viết rằng: “Chị Đoàn Thị Hồng Anh cùng con gái lớn Nguyễn Thị Tường Vy 25 tuổi đã đến Tòa Giám mục cám ơn về cuộc viếng thăm của chúng con trong lúc tang chế” – Sự thật là Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri đã gọi mẹ con Chị Hồng Anh đến Tòa Giám mục Đà Nẵng, và ngài còn hỏi sao không mang khăn, áo tang để Đức Cha chụp hình chung và đưa lên mạng. Và sau đó, khi chị Đoàn Thị Hồng Anh trả lời báo chí sự thật cái chết của chồng mình không như ý Đức Cha đã cài sẵn, thì  Đức Cha đã ngay giữa nhà thờ nói những việc riêng tư của gia đình chị Hồng Anh để nhằm thóa mạ trước cộng đoàn dân Chúa.

Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri đặt tên là “Bóng ma Nữ Vương Công Lý” – Sự thật là Nữ Vương Công Lý luôn là bóng ma ám ảnh những người thỏa hiệp với sự ác, sự dữ, những người không tôn trọng sự thật và công lý, những người vào hùa với kẻ mạnh để đàn áp người yếu mà thôi. Nhưng Nữ Vương Công Lý lại là bạn của những người cùng khổ, bị áp bức bất công, bị đe dọa và hiếp đáp, là tiếng nói của những người không có tiếng nói và luôn đứng về phía Sự thật – Công Lý.

Kết thúc lá thư gửi các Đức Cha trong Hội Đồng giám mục và phát tán không minh bạch, Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri nói “với lương tâm và trách nhiệm”. Nhưng thử hỏi: Lương tâm nào ở đây, và trách nhiệm gì với vai trò của mình khi chính Đức Cha giuse Châu Ngọc Tri đã dối trá với ngay cả Hội Đồng Giám mục Việt Nam?

Tất cả những điều đó, bạn đọc có thể kiểm tra qua quá trình vụ việc Cồn Dầu mà các phương tiện truyền thông đã đưa lên, cũng như kiểm chứng những việc đã làm, những lời đã nói của Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri qua các văn bản và bài viết của ngài mà chúng tôi đăng dưới đây.

27/10/2010, ngày diễn ra phiên tòa của bóng tối và ma quỷ với 6 nạn nhân Cồn Dầu

Nữ Vương Công Lý

———————————————————————————————-

Phụ lục:

1- Cái chết của anh Toma Nguyễn Thành Năm:

http://www.youtube.com/v/Uw-HpvSiZ-o?fs=1&hl=en_US

Nguồn: (Video của J.B Nguyễn Hữu Vinh trong Cồn Dầu Ký sự)

2- Bài viết trên Website Giáo phận Đà Nẵng: “NHÌN LẠI QUAN ĐIỂM CỦA TOÀ GIÁM MỤC ĐÀ NẴNG  VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO XỨ CỒN DẦU”

Trước từng biến cố quan trọng đã xảy ra liên quan đến Giáo xứ Cồn Dầu, Tòa Giám mục Đà Nẵng dưới những hình thức khác nhau đã gửi đi các văn bản mô tả sự kiện và nói lên quan điểm của mình, theo tinh thần của Tin Mừng, theo Huấn Quyền của Hội Thánh và sát với hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội địa phương. Nhiều người đã đọc, đã thẳng thắn phê bình, chia sẻ quan điểm, nhưng cũng có người chưa đọc các văn bản này. Nhân dịp đăng bức thư của Đức Cha Chủ tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình, chúng tôi cũng cho đăng lại 3 văn bản chính thức của Toà Giám mục Đà Nẵng gồm 11 trang, kính mời cùng chia sẻ và hiệp thông cầu nguyện.

1.  Thông cáo ngày 01/02/2010 sau khi “Đơn khiếu kiện khẩn cấp về việc chính quyền thu hồi đất của giáo dân Cồn Dầu – Đà Nẵng” được phổ biến.

2. Thư Mục tử của ĐGM Giáo phận ngày 04/5/2010 sau biến cố đám tang Bà Maria Tân.

3. Thư của ĐGM Đà Nẵng gửi Hội Đồng Giám mục Việt Nam vào ngày 15/7/2010, sau cái chết của Anh Tôma Nguyễn Thành Năm. Riêng thư thứ 3 này vì tính cách thư từ nội bộ, chưa được đăng trên trang nhà Giáo phận, hôm nay chúng tôi mạn phép đăng tải.

Theo thông tin được biết, hôm nay, 27/10/2010, Toà án Nhân dân Quận Cẩm Lệ sẽ xét xử 6 giáo dân Cồn Dầu đã bị giam giữ từ gần 6 tháng qua liên quan đến cuộc xô xát trong đám tang của Bà Maria Tân vào đầu tháng 5 năm nay. Trong thời gian qua, thân nhân của những người này đã hai lần hẹn nhau đến Toà Giám mục Đà Nẵng để bày tỏ với Đức Giám mục tâm tình của mình, nói lên nguyện ước được thăm viếng người thân và làm sao để gia đình chóng được sum họp. Đức Cha Giuse đã chia sẻ nỗi niềm và động viên khích lệ họ, cũng như đã làm những gì có thể làm.

Chúng ta cầu nguyện để phiên toà hôm nay được diễn ra theo đúng pháp luật, nhân đạo và công bình, tạo niềm tin cho mọi người. Mong sao những người này được đoàn tụ ngay với gia đình mình.

Nguồn: Website Giáo phận Đà Nẵng

Advertisements

Lãnh sự Hoa Kỳ đến thăm giáo dân và những thông tin về Giáo xứ Cồn Dầu

Tháng Chín 2, 2010

Theo những thông tin Nữ Vương Công Lý nhận được.

Những ngày qua, các phương tiện thông tin đã đưa nhiều về Giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng, nhà cầm quyền Đà Nẵng đã điên cuồng ruồng bố đe dọa giáo dân nơi đây bằng nhiều cách trắng trợn.

Những ngày sau khi thông tin đưa về một số giáo dân Cồn Dầu chạy trốn sang Thái Lan, nhà cầm quyền giở trò kiểm tra hộ khẩu để tìm danh sách các giáo dân đã chạy trốn, đồng thời hăm dọa và trấn áp các giáo dân tại địa phương.

Những thông tin về Cồn Dầu đã làm phẫn nộ những người có lương tri trên thế giới.

Công an đã ruồng bố cả đêm, khám nhà, lục soát các gia đình như nhà ông Danh, một giáo dân lúc 23h30 phút làm cả làng Cồn Dầu náo động và kinh hoảng. Khi lục soát các gia đình, công an đứng chặn không cho bất cứ ai chứng kiến. Đặc biệt họ đang tìm lục soát máy tính, các phương tiện thông tin liên lạc của giáo dân nhằm bịt miệng họ và đồng thời ngăn chặn những thông tin về tội ác của nhà cầm quyền.

Sau 4 tháng bắt bớ, giam cầm 6 nạn nhân ở Cồn Dầu, thậm chí không có cả lệnh bắt, không biết rõ lý do và không ai được thăm viếng, gặp mặt, các nạn nhân trong tù bị đánh đập, trấn áp và bức cung liên tục. Trước dư luận thế giới tố cáo tội ác của nhà cầm quyền Đà Nẵng với giáo dân ở đây, ngày thứ tư vừa qua, các nạn nhân đã được gặp gia đình lần đầu tiên.

Do bị cách ly và trấn áp, dùng nhục hình liên tục nên các nạn nhân đều suy sụp tinh thần và hoảng loạn, mất phương hướng. Có hai nạn nhân còn trẻ tuổi, đã có gia đình, khi được gặp mặt người thân đã hoảng hốt và luôn kêu rằng muốn chết đi cho đỡ đau khổ.

Họ nói rằng trong nơi giam giữ, họ bị nhục hình, bức cung nên đã phải khai những điều không đúng sự thật và ký vào đó theo yêu cầu của công an để tránh cái chết. Do vậy họ rất ân hận và cắn rứt lương tâm vì nhìn thấy phía trước là cả một tương lai đen tối.

Các nạn nhân cho biết, tất cả những gì công an muốn cung khai, họ đề dùng nhục hình, vũ lực trấn áp thể chất và tinh thần buộc họ khai theo ý của công an và ký tên vào đó. Các nạn nhân buộc phải nhận các tội như gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ và nhiều tội khác theo ý công an đưa ra…

Một số nạn nhân đã bị công an yêu cầu nhắn tin với gia đình là không được yêu cầu luật sư bào chữa và yêu cầu họ viết giấy từ chối luật sư.

Một số gia đình đã yêu cầu luật sư giúp đỡ pháp lý cho thân nhât, thì viện trưởng viện trưởng viện kiểm sát Đà Nẵng đã vào tận nơi nói rằng: “Ông thuê luật sư để cãi tụi tui hả? ông có biết là tui đóng dấu cho ông đi bao nhiêu năm thì ông phải đi bấy nhiêu năm không? Tui sẽ cho ông thêm cái tội nữa để đi tù cho đủ 7 năm”?

Đây là một tội ác mới của nhà cầm quyền Đà Nẵng đối với các nạn nhân Cồn Dầu. Trong khi leo lẻo trên miệng rằng “nhà nước pháp quyền, xử lý đúng pháp luật” và “mọi người bình đẳng trước pháp luật” thì ở trong nơi tạm giữ, họ đang thi hành luật rừng rú đối với các nạn nhân.

Những nạn nhân nơi đây đang tuyệt vọng và kêu cứu.

Phiên tòa rừng rú của nhà cầm quyền Đà Nẵng sẽ diễn ra theo kịch bản nào thì ai cũng đã đoán trước được, nếu không có một sự kiện nào có thể ngăn chặn bàn tay tội ác của nhà cầm quyền Đà Nẵng đối với các nạn nhân.

Những ngày này, tại Cồn Dầu, rất nhiều công an mặc thường phục đã mai phục trong làng, hỏi han hoạnh họe bất cứ ai đến Cồn Dầu.

Tại nhà anh Toma Nguyễn Thành Năm, công an vây ráp rất nhiều xung quanh. Thậm chí còn giở giọng khuyên chị Hồng Anh rằng: “Ai có hỏi về cái chết của Anh Năm, thì cứ bảo chết do bệnh, do đột quỵ, đừng nói đến chuyện công an đánh nữa, để cho anh Năm được yên nghỉ”. Quả là giọng lưỡi, nhân tâm và nước mắt của những con cá sấu tại Đà Nẵng được nuôi bằng tiền của nhân dân mang tên “Công an nhân dân”.

Phong trào hiệp thông cầu nguyện cho giáo dân Cồn Dầu đang dâng lên trong các tín hữu khắp nơi. Mới đây, một đoàn giáo dân Hà Nội đã vượt 800 km đến thăm động viên và hiệp thông với giáo dân Cồn Dầu.

Lãnh sự quán Hoa Kỳ cũng đã đến Cồn Dầu thăm giáo dân và thăm gia đình anh Toma Nguyễn Thành Năm đã bị đánh đến chết ngày 3/7/2010.

Xin mọi người yêu công lý, sự thật, hòa bình hãy cầu nguyện và lên tiếng cứu giúp các giáo dân Cồn Dầu đang trong cơn khó khăn bởi những tội ác ngày càng chất chồng của nhà cầm quyền Đà Nẵng.

Ngày gọi là “quốc khánh” 2/9/2010

Nữ Vương Công Lý


Cuộc hành hương của Giáo xứ Nguyệt Biều đến La Vang cầu nguyện cho Giáo xứ Cồn Dầu

Tháng Tám 25, 2010

Được sự trợ giúp của một vị Mạnh thường quân tại Hoa Kỳ là bà Thanh Bằng, sáng hôm nay, lúc 6g30 ngày 22-08-2010, Linh mục Trần Viết Viên, quản xứ Nguyệt Biều, đã hướng dẫn hơn 50 giáo dân đi hành hương La Vang. Nguyệt Biều chính là một giáo xứ anh hùng tại Tổng giáo phận Huế, từng đứng sau lưng linh mục Nguyễn Văn Lý trong cuộc đấu tranh vì tự do tôn giáo từ cuối năm 2000 đến đầu năm 2001 (khi cha Lý bị đổi về An Truyền). Tính anh hùng này đã chìm xuống dưới thời cai quản của một mục tử thành viên Hội đồng Nhân dân, và nay đang bừng dậy dưới thời cai quản của vị mục tử Trần Viết Viên trẻ tuổi.


Chính trong tinh thần đó mà giáo xứ đã đến La Vang hôm nay, làm một cuộc hành hương riêng để cầu nguyện cho Giáo xứ Cồn Dầu (thuộc Giáo phận Đà Nẵng), một Giáo xứ bị Cộng sản bách hại trong thời gian gần đây mà lẽ ra đã phải được cầu nguyện cách công khai tại nơi tôn sùng Đức Mẹ Maria dưới tước hiệu “Đức Bà phù hộ các giáo hữu” (bị bách hại) trong cuộc hành hương trọng thể hôm 13-14/08/2010 mới rồi.

Qua khỏi Cầu Ga (ga xe lửa Huế), xe tạm dừng để đón một vị khách bất ngờ (bất ngờ đối với giáo dân Nguyệt Biều thôi) là linh mục Phan Văn Lợi. Tiếp tục lăn bánh, đoàn đến La Vang lúc 8g30.

Công an theo dõi giáo dân hành hương

Vừa xuống xe, một số giáo dân tinh mắt (từng làm trật tự tại Linh địa La Vang nhiều lần) nhận thấy sự xuất hiện của nhiều công an tỉnh Quảng Trị, đa phần trẻ tuổi và mặc thường phục (xem hình). Thì ra họ đã được mật báo là hôm nay có sự xuất hiện của một nhân vật từ Huế hay “quậy”. Cha quản nhiệm Lê Sĩ Hiền cũng được tòa Tổng Giám mục Huế thông báo từ chiều hôm qua là linh mục chui PVL sẽ cùng với giáo xứ Nguyệt Biều ra La Vang giăng biểu ngữ cầu nguyện cho ai đó! Tài thật! Và chính Đức TGM Nguyễn Như Thể đã truyền lệnh là tại nơi cầu nguyện linh thiêng thánh thiện này, không được giăng bất cứ biểu ngữ to nhỏ nào, bất luận nội dung!?! Đây là do kinh nghiệm ngày 23-08 năm ngoái (2009), giáo dân An Truyền (cũng anh hùng không kém) đã đi La Vang hành hương cầu nguyện (với biểu ngữ nho nhỏ) cho Giáo xứ Tam Tòa vốn bị bách hại trong thời gian trước đó nhưng đã không hề được cầu nguyện công khai trong cuộc hành hương toàn quốc cách đấy một tuần là ngày 15-08-2009 .

Thế là linh mục quản nhiệm La Vang bèn gặp linh mục quản xứ Nguyệt Biều để truyền chỉ thị từ trung ương (hai loại trung ương).


Sau khi lần hạt kính Đức Mẹ tại linh đài, giáo dân Nguyệt Biều tản mác ra để đi nhận lãnh bí tích hòa giải (nôm na là xưng tội). Đến 10g30, tất cả lại tụ họp ở linh đài, dưới chân Đức Mẹ, để dâng Thánh lễ với ý chỉ cầu nguyện cho Giáo xứ Cồn Dầu. Có một số giáo dân Giáo xứ chánh tòa Phủ Cam (khoảng 20 người), một số giáo dân ở Đà Nẵng và Sài Gòn (cũng khoảng 20) cùng tham dự Thánh lễ mà linh mục Lợi chủ sự và linh mục Viên đồng tế. Lúc này, số công an Quảng Trị (dĩ nhiên thường phục) tăng lên khoảng 15 và số trật tự viên La Vang (mặc sắc phục) cũng tăng từng ấy. Một số công an cầm máy chụp ảnh, máy quay phim hoạt động liên tục, nhất là khi linh mục chủ tế giảng (xin nghe audio clip kèm theo). Lâu lâu mấy anh lại rút điện thoại như liên lạc với ai đó, hoặc để cho người đầu dây nghe trực tiếp những gì chủ tế giảng. Đại ý bài giảng của linh mục chủ tế là: vì Đức Mẹ La Vang đã hiện ra cách đây hơn 200 năm để cứu giúp cho các tín hữu bị bách hại thời Cảnh Thịnh (khác với Đức Mẹ Lộ Đức hiện ra cho thánh nữ Bênađêta với sứ điệp “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội”, Đức Mẹ Fatima hiện ra cho ba trẻ chăn cừu với sứ điệp “Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống”) nên Mẹ La Vang mang tước hiệu “Đức Bà phù hộ các giáo hữu” với ngầm ý “bị bách hại”. Thành thử La Vang là nơi Đức Mẹ ưa thích con cái của Ngài đến để cầu nguyện cho các anh chị em mình đang bị bách hại khắp thế giới, nhất là tại Việt Nam, nơi có chế độ Cộng sản, cụ thể là tại Giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng, mà trong thời gian vừa qua, tin tức cho thấy là đã bị đàn áp cách khốc liệt, từ chuyện cướp ruộng vườn nghĩa trang, chuyện phá đám tang tín hữu, đến chuyện bắt sáu giáo dân bỏ tù, chuyện đánh một giáo dân cho đến chết… Chúng ta phải cầu nguyện như thế tại nơi Linh địa này để chứng tỏ một đức tin tin anh dũng, bất khuất. Đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho những kẻ bách hại anh em mình trước Mẹ La Vang để chứng tỏ một đức tin bác ái, nhân hậu…

Kết thúc thánh lễ (lúc 11g30), linh mục chủ tế, tay cầm biểu ngữ “Giáo xứ Nguyệt Biều hành hương cầu nguyện cho Giáo xứ Cồn Dầu” (xem hình) nhưng còn gói kín chưa mở ra, thông báo với cộng đoàn rằng có lệnh của bề trên không cho phép trưng bất cứ tự dạng nào (ngoại trừ của Trung tâm La Vang) biểu lộ tâm tình và ý chỉ tại Linh địa (dù chỉ là căng ra ít phút để chụp hình kỷ niệm cuối Thánh lễ), nên đành phải dâng cho Đức Mẹ như một lời gởi gắm. Thế rồi Linh mục đặt biểu ngữ lên bàn thờ, dưới chân tượng Mẹ. Ban trật tự liền đến thu lấy, không biết có phải như một tang vật tội phạm chăng? Mấy tờ giấy khổ A4 in những tâm tình dành cho Cồn Dầu, dự định phát cho tín hữu cầm khi chụp ảnh kỷ niệm (xem hình) cũng đồng số phận. Thôi thì vâng lời trọng hơn của lễ. Mọi chuyện đã có sự xét đoán của Thiên Chúa, của Đức Mẹ, của công luận và của những nạn nhân Cồn Dầu.

Nghe bài giảng của linh mục Phê rô Phan Văn Lợi tại Thánh lễ cầu nguyện cho Cồn Dầu tại La Vang:

LmPhanvanLoigiangtaiLaVang

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình từ Huế lúc 19g ngày 22-08-2010


Cồn Dầu ký sự – Kỳ IV – Cái chết của anh Toma Nguyễn Thành Năm

Tháng Tám 23, 2010

Phàm là con người, không ai tránh khỏi cái chết. Mỗi người có một cái chết khác nhau, người chết do già cả, kẻ do bệnh tật, người do tai nạn, chiến tranh hoặc thiên tai…

Có những cái chết dai dẳng và đau đớn, người nằm đó không thể chết được, với những người hiền lành, đó là sự thương tâm, với những người đã gây nhiều tội ác với đồng loại, người đời thường lấy đó để răn đe con cháu mình biết sống đúng lương tâm và tình nghĩa, với những người sống vô cảm với mọi người, người đời thường lãng quên họ.

Cũng có những cái chết nhẹ tênh và nhanh chóng, nhiều khi chỉ vì một viên công an thèm khát bạo lực như cái chết của thanh niên Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang sau khi vào đồn công an Tân Yên chừng tiếng đồng hồ. Nhiều khi lại là cái chết không bí hiểm nhưng đầy sự khuất tất như những thanh niên đã chết tại Đồn Công an Quận Hai Bà Trưng, quận Hà Đông, Hà Nội mới đây và rất nhiều cái chết tương tự. Đến mức mà người ta tự hỏi và không thể hiểu nổi tại sao vì những lý do lãng nhách, nhân dân thường thích đến đồn công an, nhà tạm giữ để “tự vẫn” nhan nhản trên báo chí nhà nước?.

Cái chết man rợ nhất vẫn là cái chết do con người mang đến một cách mất nhân tính và vô pháp luật. Anh Toma Nguyễn Thành Năm có một cái chết như vậy. Anh bị trói, bị đánh đập cả đêm sau những ngày hoảng loạn vì những trận đòn trước đó trong đám tang bà Maria Đặng Thị Tân. Và chỉ về đến nhà mình một buổi sáng thì trưa ngày 3/7/2010 anh đã từ giã cõi đời ở tuổi 44 để lại người vợ trẻ và đoàn con bé bỏng.

Cũng là những cái chết, nhưng để đỡ oan tủi cho người chết, an ủi người còn sống, nhiều nghi thức tang lễ trang trọng được cử hành, nguyên nhân cái chết được làm rõ ràng. Nhưng có những cái chết mà người thân thích cũng không dám mở lời, không dám hé răng đành phải nuốt tủi nhục vào trong với sự đau đớn khôn cùng. Anh Toma Nguyễn Thành Năm đã có cái chết như vậy.

Câu chuyện của người góa phụ

Chúng tôi đến nhà chị Đoàn Thị Hồng Anh, tại Cồn Dầu để gặp một góa phụ trẻ, mẹ của mấy đứa con nhỏ. Sau nén hương thắp cho người quá cố trong căn nhà nhỏ bên đường làng Cồn Dầu, chúng tôi ngồi nói chuyện trong buổi chiều tà.

Những xúc động ban đầu, những giọt nước mắt và uất nghẹn khi tiếp xúc với những người lạ lần đầu tiên tới đây chị vẫn cố giấu. Đến khi chúng tôi giới thiệu với chị rõ ràng rằng chúng tôi cũng là những giáo dân, nghe tin và tìm đến đây để biết sự thực thì chị mới cho chúng tôi biết về cái chết của anh.

Ngồi bệt giữa gian nhà trống trơn bên di ảnh của anh, chị Đoàn Thị Hồng Anh kể lại:

Chồng tôi vốn sống trong một gia đình mọi người khỏe mạnh, không bệnh tật. Kể từ khi xây dựng gia đình đến nay, anh không hề có bệnh tật gì. Anh là một thanh niên khỏe mạnh trong đội trợ tang của Giáo xứ Cồn Dầu.

Ngày 4/5/2010 anh cùng đội trợ tang của Giáo xứ và bà con giáo dân Cồn Dầu tham dự lễ an táng của Bà Đặng Thị Tân. Trước khi chết, bà Tân muốn được gửi nắm xương tàn bên cạnh người chồng thân yêu của mình trong nghĩa trang của Giáo xứ vốn đã có từ cả trăm năm nay.

Rạng sáng, cả đám tang bị tấn công tới tấp, anh là người đi trước trong đội trợ tang nên bị đánh nhiều nhất. Chứng kiến cảnh đàn áp đánh đập man rợ và bắt đi cả trăm người, sau đó một số người được tha về nhưng bị gọi lên đồn liên tục. Lên thì bị đánh họ nói “không có tội đánh cho có tội, có tội đánh cho chừa”.

Sau mấy lần bị gọi lên đồn như thế, anh Năm có biểu hiện sợ hãi. Đến lần thứ năm thì anh không dám lên nữa và anh trốn. Tâm trạng anh hoảng loạn và sợ hãi, chỉ cần nghe tiếng người anh đã thấy sợ và lẩn trốn.

Chiều tối ngày 2/7/2010, anh trốn xuống xóm dưới, đến đêm, chị xuống đi tìm anh, thì anh đang bị một dân phòng tên là Đề trói giật cánh khuỷu anh và bắt quỳ dưới ruộng nước.

Nhìn thấy cảnh ấy, chị khóc và hỏi: “Anh Đề, anh với anh Nam em không có một vấn đề gì, cũng là người quen biết sao anh trói ảnh như thế?”. Ông ta trả lời: “Người ta báo ăn trộm, nên tôi trói anh ấy lại, khi nào công an xuống tôi mới thả anh ra”.

Khi công an xuống, em dìu anh ấy đi mấy bước nhưng anh đi không nổi. Công an nói “Đấu tranh dồn dập” nhưng em cũng không nói chi hết. Đến khi công an hỏi “ảnh tên chi” em khai là “Nguyễn Thành Năm” anh hỏi là “Chị là cái chi” “Tôi là vợ ảnh”, nhưng mà họ hỏi “tên chi” “là Đoàn Thị Hồng Anh”.

Công an vô hết trong nhà một chặp mới ra lại đưa một anh dân phòng dìu một bên và em một bên dìu đưa anh vô nhà. Khi đó em khóc với anh Nam là anh đi trốn chi cho người ta trói ri. Họ nói là thôi chị dẫn anh đi về tắm rửa.

Khi nhờ chở về nhà họ không chở, khi đưa anh về đến nhà thì máu lỗ tai đổ ra. Em khóc kêu là “anh đi chi tội rứa” thì anh bảo “nó lấy cái cây nó đánh lủng qua”.

Khi về đến nhà đã 1-2 giờ sáng, tắm rửa cho anh xong, anh nằm thì chỉ để một ngón tay lên trán. Trên cổ tay bị còng chảy máu, cả lưng đổ máu và ngực trầy xước hết.

Đến sáng, anh gọi hai mẹ con và bảo “Thôi, chắc quãng đời của tôi chỉ đến đây thôi, cố gắng ở lại nuôi mấy đứa con, còn tôi thì muốn thiêu thì thiêu, còn nếu muốn lấp đâu thì lấp”. Em nghĩ anh nói thế thôi nên đi vào nhà nói chuyện với mẹ chồng.

Đến khoảng 8 giờ em đi tìm đôi dép cho anh, anh bảo là “họ lấy hồi khuya rồi”, rồi đưa vào nhà mẹ em nằm.

Đến khoảng 11 giờ, em khuyên anh là “thôi, giờ đi bệnh viện” anh nói “Tiền bạc đâu mà đưa tôi đi bệnh viện”.

Anh chỉ nói thế thôi, và một giờ chiều thì anh tắt thở, để lại một người vợ góa và mấy đứa con nhỏ cùng với nỗi oan dậy đất, làm xao động lòng người.

Sau khi anh chết, công an về rất nhiều và liên tục có mặt, họ bảo là nếu muốn sẽ đề nghị mổ tử thi.

Nhưng, cả làng xóm hoảng loạn sau cái chết của anh. Chứng kiến những gì đã xảy ra, gia đình chúng tôi biết là có mổ tử thi thì cũng là người nhà nước, chúng tôi không tin tưởng là có mổ tử thi thì mọi việc sẽ được làm sáng tỏ. Trong khi anh đã chết oan khuất như thế cả làng ai cũng biết, công an cũng biết nhưng những người đánh anh không hề hấn gì. Nếu mổ tử thi thì chỉ làm cho anh thêm đau đớn mà thôi.

Vì vậy gia đình chúng tôi không yêu cầu mổ tử thi.

Khi gia đình chúng tôi không yêu cầu mổ tử thì, thì họ đề nghị là “Nếu không mổ tử thi, thì phải nói là ảnh bị đột quỵ”. Và chúng tôi phải chấp nhận nói là ảnh bị đột quỵ để được giữ xác anh nguyên vẹn khi về với đất. Đám tang của anh được sự quan tâm đặc biệt, không phải của bà con chòm xóm, mà chỉ là những người lạ mặt mà có họ, bà con chòm xóm không dán công khai đến thắp những nén hương cho người đã chết.

Sau những ngày đám tang của anh, tôi bị gọi nhiều lần lên huyện, nhưng tôi luôn bị đau đầu và con nhỏ nhà tôi nó phản ứng là bố đã bị chết như vậy, nếu cố tình gọi mẹ lên mà đổ xuống đó thì ai lo cho một đàn con. Họ kêu tôi lên để viết tường trình, nhưng tôi chưa lên và chưa viết.

Cho đến bây giờ, người giáo dân Cồn Dầu sống trong sợ hãi, nhiều người muốn đến thắp cho người quá cố một nén hương nhưng cũng không dám đến.

Nghe những lời kể của chính góa phụ này, chúng tôi hiểu rằng trong thời đại thông tin, vẫn có những vùng không phủ sóng văn minh và hiện đại. Vì phương tiện kỹ thuật hay bởi tại lòng người?

Cái chết của anh cũng đơn giản gần như cái chết của chàng thanh niên Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, nhưng Nguyễn Văn Khương đã có cả thành phố xuống đường đòi công lý cho anh, và kẻ thủ ác đã phải bị chỉ mặt. Còn anh, anh vẫn im lìm nơi nghĩa địa xa lạ và cô đơn với nỗi oan của mình.

Anh Toma Nguyễn Thành Năm đã chết, nhưng sáu người dân Cồn Dầu còn lại vẫn đang trong cảnh ngục tù và đối diện với những bản án mới. Lẽ nào để nỗi oan chồng lên nỗi oan?

Tạm kết

Anh Toma Nguyễn Thành Năm đã chết, đến hôm nay, anh đã về nơi chín suối được 49 ngày. Nỗi đau của anh còn đè nặng lên suốt cuộc đời người mẹ già, góa phụ và mấy đứa con thơ. Nỗi oan khuất của anh còn đè nặng lên tất cả những người có lương tri.

Những người còn sống có thể yên chăng, khi những cái chết oan khiên kia không được chú ý đến trong một xã hội luôn nêu cao nhan nhản các khẩu hiệu “Sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật” trong một nhà nước luôn mệnh danh là “Nhà nước pháp quyền”, trong một thành phố mà đi đâu cũng thấy đầy rẫy những lời kêu gọi “Học tập đạo đức Hồ Chí Minh”?

Có thể cái chết của anh, dù được ngụy trang dưới hai từ lạnh lùng và dối trá “Đột quỵ” rồi cũng sẽ qua đi như muôn ngàn cái chết khác được ngụy trang bằng những ngôn từ khác.

Nhưng, chắc chắn rằng, những con người biết sự thật này sẽ ám ảnh dai dẳng cho đến tận cuối đời khi đối diện với lương tâm mình câu hỏi: “Vì sao anh phải chết”? Và “vì sao tôi có thể vô cảm trước nỗi oan của anh”?.

Mời các bạn xem đoạn video câu chuyện kể lại cái chết của anh Toma Nguyễn Thành Năm:

http://www.youtube.com/v/Uw-HpvSiZ-o?fs=1&hl=en_US


Hà Nội 22/8/2010

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn: Blog  jbnguyenhuuvinh.wordpress.com


Nhân 49 ngày của anh Toma Nguyễn Thành Năm – Thái Hà dâng Thánh lễ, thắp nến cầu nguyện cho Cồn Dầu.

Tháng Tám 22, 2010

Đúng 49 ngày trước (3/7/2010) anh Toma Nguyễn Thành Năm, giáo dân xứ Cồn Dầu đã gục ngã và chết đau đớn sau khi bị công an bắt bớ, đánh đập thả về thành hoảng loạn và tiếp tục bị dân phòng đánh đến chết.

Những oan khiên của anh đã và đang vang thấu tận trời xanh như những tiếng vọng từ cõi xa xăm đến mọi người trên thế giới để kể cho họ nghe về nỗi đau, nỗi oan của Giáo xứ Cồn Dầu quê anh dưới sự tàn bạo của nhà cầm quyền Đà Nẵng.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Hãy thắp một ngọn nến cho anh Toma Nguyễn Thành Năm” nhiều giáo dân, nhiều gia đình ngoài những lời cầu nguyện đơn lẻ cho linh hồn anh và cầu cho Giáo xứ đã tổ chức những buổi thắp nến cầu nguyện tại gia đình.

Nhân 49 ngày lìa đời của anh, một thanh niên mới 44 tuổi đời, nhiều giáo dân đã xin dâng Thánh lễ cầu nguyện cho linh hồn anh và Giáo xứ Cồn Dầu. Thánh lễ đã được tổ chức tại Giáo xứ Thái Hà – Dòng Chúa cứu thế Hà Nội với khoảng 4.000 giáo dân tham dự. Người tham dự Thánh lễ đông đúc ngồi hết toàn bộ không gian trong và ngoài nhà thờ.

Những lời cầu nguyện tha thiết, những ngọn nến đã được thắp lên, xin Thiên Chúa toàn năng ghé mắt nhìn đến và thương lấy linh hồn anh Toma Nguyễn Thành Năm, một tín hữu đã lấy cả mạng sống mình để chứng minh sự hiệp thông, liên đới trong Giáo hội. Lời cầu nguyện cũng dành cho giáo xứ Cồn Dầu, một xứ đạo lâu đời đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ bằng chính sách “chia để trị” hết sức thâm độc của nhà cầm quyền cộng sản.

Xin mọi người cùng dâng lời cầu nguyện cho sự bình yên được trở lại nơi đây và ngăn chặn bàn tay tội ác của nhà cầm quyền Đà Nẵng đối với xứ đạo này.

Một số hình ảnh Thánh lễ và buổi thắp nến cầu nguyện cho Cồn Dầu và anh Toma Nguyễn Thành Năm:


Nữ Vương Công Lý


Trách nhiệm kẻ sĩ trước nạn dân oan !!!

Tháng Bảy 18, 2010

Từ gần cả năm nay, dư luận trong lẫn ngoài nước, trong lẫn ngoài Công giáo không ngừng bàn tới vụ việc Giáo xứ Cồn Dầu, tọa lạc tại thôn Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Ðà Nẵng. Số là vào năm 2003, lãnh đạo thành phố (cụ thể là bí thư tỉnh ủy Nguyễn Bá Thanh) có đưa ra dự án “chỉnh trang tại chỗ” cho gần 2000 giáo dân đang sống khá sung túc và ổn định tại đó với nghề chăn nuôi và làm ruộng. Nhưng chẳng biết vì lý do gì dự án không thành khiến người dân lâm cảnh khổ, bởi đã phải vay tiền xây dựng nhà cửa để mong được chỉnh trang. Năm 2008, lãnh đạo thành phố Ðà Nẵng lại có dự án giải tỏa trắng 430ha (trong đó thôn Cồn Dầu có 100ha gồm đất ở, đất ruộng và đất nghĩa địa) làm khu du lịch sinh thái Hòa Xuân, với sự đầu tư của ngoại quốc. Để thực hiện dự án này, nhà cầm quyền quyết đẩy dân đi xa và đền bù với giá rẻ mạt – như tại vô số địa điểm khác từ Nam chí Bắc – khiến dân không đủ tiền mua lại và xây lại chỗ ở mới, nơi mà ngoài ra họ chẳng có mấy cơ may an cư lạc nghiệp. Sau khi đã họp với lãnh đạo thành phố trên 20 lần nhưng không đi tới đâu, giáo dân Cồn Dầu quyết đứng lên bảo vệ quyền sống của mình. Thế là những đòn thù từ đó giáng xuống. Giáo dân phải sống trong lo sợ triền miên, vì những trò dụ khị, sách nhiễu, cưỡng ép, hăm dọa và hành hung đủ cách của nhà cầm quyền Cộng sản với hai bàn tay sắt là Công an và Mặt trận.

Đỉnh cao của sự đàn áp chính là việc Nguyễn Bá Thanh và đồng đảng ra tay giải tán bằng báng súng, dùi cui, nắm đấm đám tang Cụ bà Maria Đặng Thị Tân ngày 04-05-2010, chỉ vì muốn đoạt nghĩa địa của Giáo xứ. Công an và dân phòng hôm đó, ngoài việc cướp quan tài, còn đánh đập dã man rất nhiều giáo dân từ già đến trẻ. Sau đó chúng kêu lên kêu xuống thẩm vấn hành hạ hàng chục người rồi bắt giam và truy tố bất công 6 người bị chúng gọi là “đầu sỏ phản động”. Cách đây hai tuần, anh Tôma Nguyễn Thành Năm, 43 tuổi, một tín hữu từng tham dự đám tang Cụ bà Đặng Thị Tân và bị đánh đập dã man cùng với rất nhiều giáo dân trong ngày đau thương đó, đã qua đời tại nhà sau các đợt tra tấn mới của công an Cộng sản. Ngày 01-07, chúng đã “mời” anh Năm cùng với người em họ lại tới đồn “làm việc”. Trong lúc thẩm vấn, hai người đã bị đánh thâm tím mình mẩy. Trưa 03-07, lúc 11 giờ, công an lại đến nhà anh để bắt anh, khiến anh sợ quá bỏ chạy. Chúng liền đuổi theo, còng tay, đánh đập anh rất dã man trước mắt nhiều người. Chị vợ đã quỳ lạy, xin tha cho chồng, nhưng công an vẫn tiếp tục hành hạ. Sau khi được đưa về nhà, anh Năm trối trăng với vợ hãy cố gắng nuôi con, rồi sùi bọp mép, ngã lăn ra chết cách tức tưởi trong bàn tay của bà mẹ già 83 tuổi.

Xin hãy nghe thêm một đoạn do một chứng nhân lấy tên Người Cồn Dầu viết ngày 11-07: “Ngay khi nghe tin anh Năm mất, chính quyền đã huy động rất đông công an canh giữ nghiêm ngặt xác anh, chung quanh tang gia và mọi ngã đường trong giáo xứ Cồn Dầu, không cho tập trung viếng xác, cầu nguyện như thói quen giáo xứ vẫn làm cho người mới qua đời…. Họ yêu cầu liệm xác anh trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Không ai được quay phim chụp hình hoặc báo tin về cái chết của anh cũng như lý do cho bất cứ ai. Một số bà con giáo dân đã lạnh người khi nhìn thấy những vết thương tím bầm trên bụng, trên ngực, trên hai thái dương anh, lúc họ thay quần áo cho anh để tẩm liệm. Da thịt từ khuỷ tay xuống đến cổ tay anh đều trầy trụa và rướm máu vì bị lôi đi đang lúc bị còng. Máu vẫn tiếp tục trào ra hai lỗ tai và miệng mũi anh khi đặt anh vào áo quan. Đám tang anh được tổ chức vào ngày thứ ba, mồng 6-7-2010… Đưa tiễn anh chỉ có một số bà con ruột thịt (được cho phép) và rất đông công an chìm nổi đi theo áp tải đề phòng bất trắc“.

Trước những cảnh oan ức dậy đất và đau thương ngút trời ấy của giáo dân Cồn Dầu, người ta đã thấy phản ứng nào nơi những người có trách nhiệm trực tiếp về họ trong đạo, cụ thể là của những vị giáo sĩ, tu sĩ ở Đà Nẵng? Thật ngạc nhiên mà phải nói rằng ngay từ đầu, sự đoàn kết bênh vực quyền lợi của họ đã vấp phải sự đoàn kết giữa thế quyền và giáo quyền địa phương. Theo tờ thông cáo ngày 01-02-2010 của Tòa Giám mục (TGM) Đà Nẵng thì đã có sự thỏa thuận giữa chính quyền và giáo quyền về việc giải tỏa giáo xứ Cồn Dầu. TGM chỉ yêu cầu giữ lại tài sản của Giáo hội là ngôi thánh đường thôi. Tiếp đến, khi phải hãi hùng gánh chịu cuộc khủng bố của nhà cầm quyền Cộng sản, giáo dân lại chỉ nhận được thái độ tiêu cực từ phía mục tử của họ: chê trách họ dại dột, cứng đầu (trong cuộc gặp gỡ hôm mồng 3 Tết tại Giáo xứ). Sau đó, khi gia đình của 6 giáo dân bị bắt giam và truy tố chạy đến nhờ TGM can thiệp thì vị chủ chăn của họ thản nhiên trả lời: “Đã không nghe lời tôi, giờ tôi không thể làm gì được. Về mà cầu nguyện đi!” Sau cái chết oan ức của anh Nguyễn Thành Năm, cho tới nay người ta vẫn chưa nghe thấy (trên mạng) phản ứng gì gọi là cảm thông, chia buồn, bênh vực, giúp đỡ của vị giám mục và các linh mục tại Đà Nẵng nói riêng và của hàng giám mục lẫn linh mục Việt Nam nói chung (ngoại trừ một số rất ít đã lên tiếng hay ký tên vào thư Hiệp thông của một Nhóm Linh mục tranh đấu hôm 08-07-2010).

Những vị giáo sĩ, tu sĩ này -theo cách đánh giá của xã hội- đều thuộc hàng “sĩ phu”, “kẻ sĩ”. Trong quan niệm dân Việt, đây là những con người học hành cao, hiểu biết rộng và nhất là luôn phải hành xử đúng theo tiếng gọi của lương tri: lên tiếng chê trách điều trái, bênh vực điều phải, như lời minh định của cụ Nguyễn Công Trứ, một trong những “kẻ sĩ” chính hiệu: “Cầm chính đạo để tịch tà cự bí. Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên” (tạm dịch: Kẻ sĩ theo đường ngay chống tà thuyết. Ngăn sóng dữ để giữ trăm dòng sông). Cao hơn nữa, đó là những con người không màng danh lợi, hiến thân phục vụ đại nghĩa, sẵn sàng cống hiến sinh mạng cho quê hương, dân tộc, đồng bào. Tại sao trong truyền thống và lịch sử dân Việt, rất nhiều kẻ sĩ đã từng đứng lên (và có lúc ngã xuống) khi Tổ quốc lâm nguy, dân tình điêu đứng, vận nước khốn khổ, như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ… Thế mà những kẻ sĩ trong tôn giáo, ngoài tiếng gọi của lương tri, còn có mệnh lệnh của Thượng Đế, đòi hỏi của chức phận, lại có thể im lìm, dửng dưng trước nạn bôi nhọ sự thật, chà đạp công lý, đàn áp dân tình được sao? Trong khi các vị chẳng có gì để mất, chẳng có gì để sợ, chẳng có gì “vướng bận thê noa”, lại là những con người có khả năng, có quyền lực, có phương tiện, có uy tín, có quần chúng và có sự hỗ trợ của toàn thể Giáo hội???

Những kẻ sĩ trong giới dân sự tại Việt Nam hiện thời xem ra cũng như vậy. Theo đánh giá mới đây của Tiến sĩ Chu Hảo (trong bài “Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam” viết vào tháng 6-2010), thì “tầng lớp trí thức XHCN” hiện “có những tiêu cực không thể phủ nhận và hết sức điển hình. Đó là: 1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu. 2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử. 3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng. 4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha“. Thành ra, ngoại trừ một số ít có tinh thần dân chủ, yêu chuộng nhân quyền, thao thức với nỗi khổ của người dân, thường xuyên lên tiếng vạch trần sai lầm, tố cáo tội ác của nhà cầm quyền, đòi hỏi nhân quyền và dân quyền cho đồng bào, bênh vực đủ các nạn nhân của chế độ, chấp nhận bị bỏ tù vì công lý, thì đại đa số giới trí thức, “kẻ sĩ” vẫn dửng dưng với số phận của những con người đang bị Cộng sản áp bức bóc lột. Đang lúc họ phải nhớ rằng chính nhờ những công nhân lao động, nông dân cày cuốc ra công đổ mồ hôi trong xưởng máy, trên ruộng đồng mà họ mới có cơ hội học hành thông thái, ăn trắng mặc trơn, sống đời no đủ và được xã hội nói chung tôn trọng. Món nợ họ mắc với những dân oan của chế độ bạo tàn này không phải là nhỏ.

Bên cạnh vụ Cồn Dầu nói trên, trong thời gian gần đây, còn có nhiều vụ dân oan nổi cộm khác, được dư luận trong và ngoài nước đề cập. Chẳng hạn vụ hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thanh Thúy ở trường trung học thị trấn Việt Lâm, tỉnh Hà Giang bị hiệu trưởng cùng băng đảng là đám lãnh đạo tỉnh biến thành nô lệ tình dục trong thời gian dài và nay thành phạm nhân trong một vụ án hết sức bất công, mờ ám và có nguy cơ bị cho chìm lỉm. Hoặc vụ hai dân oan khác tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa là em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi và anh Lê Hữu Nam, 40 tuổi, bị công an nổ súng bắn chết ngày 25-05-2010 trong một vụ biểu tình bất bạo động để đòi được đền bù quyền lợi thỏa đáng.

Thế nhưng lời kêu gọi của cựu đại tá Bùi Tín sau đây xem ra chưa tác động lên nhiều “kẻ sĩ” trong xã hội: “Đã đến lúc gia đình, nhà trường của các em, Bộ Giáo dục, phụ huynh học sinh ở Hà Giang đòi hỏi công bằng cho các em, đòi thả ngay các em ra khỏi nhà tù, và hướng dẫn cho các em và gia đình kiện lại nhóm quan chức tội phạm với đầy đủ tang chứng các em còn nhớ và giữ được, đòi mọi tên tội phạm phải bị kết tội đích đáng và đòi chúng phải bồi thường danh dự và tổn thất cho các em. Các em nữ sinh vị thành niên hoàn toàn là nạn nhân trong vụ án này. Các em hoàn toàn không phải là gái mãi dâm” (bài “Cần đặt đúng tên cho vụ án”, 09-07-2010). Vụ tại Thanh Hóa cũng vậy, ngoại trừ sự lên tiếng của một số mục sư Tin Lành tại vài địa phương, người ta chưa nghe được tiếng nói của hàng giáo sĩ Công giáo bản địa. Các vị này cũng đã từng im lìm trong vụ 9 ngư dân xã Hoằng Trường-Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa bị Tàu Cộng bắn chết ngày 8-1-2005. (Ngay lúc đó và sau đó chỉ có một vài tu sĩ Công giáo lẫn Phật giáo, vài nhân sĩ trí thức và một số thành viên Khối 8406 lên tiếng lẫn trợ giúp mà thôi).

Trong bất cứ xã hội nào cũng vậy, nhất là dưới những chế độ độc tài, thành phần trí thức, kẻ sĩ (dân sự hay tôn giáo) bao giờ cũng được người dân đặt nhiều kỳ vọng vì họ không những là “ngọn đuốc tuệ giác” mà còn là “lãnh đạo tinh thần”. Vậy nếu không dám công bố sự thật, bảo vệ lẽ phải, bênh vực dân oan thì đầu óc của họ để làm gì và quả tim của họ để nơi đâu?

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 103 (15-07-2010)

BAN BIÊN TẬP BNS Tự do ngôn luận


Bạn đọc viết: Tâm tình sau cái chết của giáo dân Cồn Dầu

Tháng Bảy 15, 2010

Sau cái chết của anh Tôma Nguyễn Năm ngày 03.7.2010 đã gây nên sự sợ hãi cho giáo dân Cồn Dầu và gây nên sự thương tiếc, căm hờn cho nhiều người trong nước Việt Nam và tại hải ngoại (Nguyên nhân anh bị chết đã được nhiều website thông tin, tôi xin được phép không ghi lại thêm trong bài này).

Anh Tôma Nguyễn Năm đã bị chết vì  bị lùng bắt, đánh đập, tra tấn dưới sự tàn bạo của công an, chính quyền Đà Nẵng. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ.

Anh đã ra đi trong đau đớn, anh được tiễn đưa với đội quân công an để ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh đi về nơi an nghĩ cuối cùng.

Anh ra đi không có những ngọn nến thắp lên để giải nỗi oan ức, để nói lên sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, căm tức của vợ con. Anh ra đi bên dối gian, với lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Đà Nẵng thành vô tội. Đau đớn hơn thế là những vị đại diện tôn giáo, chủ chăn của giáo phận cũng im lặng cúi đầu chấp nhận lọc lừa của chính quyền Đà Nẵng, không dám nói lên sự thật về cái chết của một giáo dân trong giáo phận.

Vai trò của chủ chăn đóng khung trong phạm vi của nhà thờ ? Nhân chứng Đức Kitô chỉ ở trong khuôn viên nhà thờ ? Tiếng chuông nhà thờ sáng chiều mời gọi giáo dân đi vô nhà thờ để nhìn chủ chăn làm « nhân chứng » trên bàn thờ, để nghe chủ chăn « rao giảng » điều mà các vị cho là « theo chân Chúa Kitô » giữa nhà thờ?

Nếu thật là vậy thì các vị đã biến ngôi nhà thờ thành một « sân khấu » để  diễn kịch  hay để  trình diễn thời trang !

Người giáo dân hôm nay đã nhận thấy vai trò của mình khi các vị chủ chăn đã tránh né và từ chối làm chứng cho Đức Kitô « Ta là Đường là sự Thật và là sự Sống ». Giáo dân đã can đảm đi với Chúa Giêsu trong cuộc đời dù phải hy sinh. Sự hy sinh đó dù là cái chết như anh Tôma Nguyễn Năm, một giáo dân Cồn Dầu, Đà Nẵng.

Sự sợ hãi của giáo dân cũng đã lột trần được bộ mặt gian ác của chính quyền Đà Nẵng dưới chế độ cọng sản. Sự sợ hãi của giáo dân cũng nói lên nỗi buồn khi giáo quyền, chủ chăn đã bỏ rơi giáo dân dưới chiêu bài khẩu biện « đối thoại » để tránh né mọi sự hăm dọa, đàn áp của bạo lực đang dày xéo giáo dân.

Tình trạng hiện nay của giáo dân Việt Nam cần đến sự hiệp thông của mọi người để đối diện với bạo lực gian ác, để lên tiếng nói cho Sư Thật, Công Lý, Nhân Quyền trên quê hương. Sự hiệp thông bằng lời cầu nguyện, bằng những lá thư, bẳng những đêm thắp nến…

Nhiều người có cùng một khát vọng, ước mong là tất cả linh mục, cộng đoàn người Việt khắp nơi trên thế giới cùng song hành với giáo dân Việt Nam. Sự song hành đó thể hiện qua những thánh lễ, những buổi cầu nguyện thắp nến :

–  Để cùng dựng lại cây THÁNH GIÁ với giáo dân Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm…và nhiều nơi khác trên quê hương Việt Nam

–  Để nói lên sự thật, chia sẻ trước những cái chết cô đơn, lạnh lẽo, oan ức của những người như anh Tôma Nguyễn Năm tại giáo xứ Cồn Dầu.

–  Để cùng đem lại niềm tin, can đảm cho người giáo dân khi các chủ chăn tại Việt Nam đành đoạn bỏ rơi giáo dân, nịnh bợ để có chút quyền lợi theo « thói đời ».

–  Và cũng để thức tỉnh lương tâm các vị chủ chăn cùng đồng hành với giáo dân đi làm Nhân Chứng Đức Kitô chớ không tìm đường để đi trước, đi sau bỏ giáo dân đi một mình.

Sự song hành với giáo dân Việt Nam trước bạo lực của chính quyền cọng sản không phải là « cùng nhau Đi Hồng Binh », không phải là đi « đối thoại với đầu gối ».

Sự song hành với giáo dân Việt Nam là song hành can đảm đi trên con đường Sự Thật, Công Lý.

Ngày 14 tháng 7 năm 2010

Philipphê Minh, Võ.